Hôm nay,  

Yêu Là Ngắn Ngủi

7/10/202600:00:00(View: 307)

love iStock-476849600
Ai đã từng trải qua tình yêu đều hiểu được cái cảm giác “ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới” hay thấm câu “Yêu thì ngắn ngủi, mà quên thì vô tận”. Ảnh: istockphoto.
 
Con người từ muôn thuở đã không ngừng truy vấn, định nghĩa, tìm cách gọi tên chữ yêu. Yêu là rung động, là thương, là thích, là say mê, là quyến luyến, là nhớ nhung — là thứ men riêng trong cõi lòng.

Erich Fromm cho rằng yêu là một nghệ thuật phải học. Fromm xem yêu không chỉ là cảm xúc, mà là thực hành, chăm sóc, trách nhiệm, tôn trọng, hiểu biết.

Saint-Exupéry, ở một phương diện khác, kéo yêu ra khỏi cái nhìn gần, cho rằng yêu không phải chỉ nhìn nhau, mà cùng nhìn về một hướng, một đường chân trời.

Plato thì đặt tình yêu ở nơi không trọn vẹn.  Ông gọi đó là sự khao khát “the whole” – cái toàn vẹn. Nôm na, người ta yêu vì trong mình có một khoảng khuyết, một khoảng thiếu vắng, và người kia, bằng cách nào đó, làm đầy khoảng trống ấy.

Riêng với nhà thơ hiện sinh Rilke, tình yêu trưởng thành không phải là lúc ta biết hết về nhau, mà lúc ta còn đủ dịu dàng để sống với những điều chưa hiểu.

Tình yêu, trong ngôn ngữ, hiện ra qua muôn vàn động từ, khoác lên mình vô số tính từ, hóa thành không biết bao nhiêu danh xưng, để sau cùng, vẫn không vừa lòng mọi cố gắng định nghĩa, dù chỉ một phần, cái ý nghĩa dai dẳng như định mệnh mà mong manh như sương khói.

Trong văn học hay thi ca, yêu là nhân vật chính xuyên suốt, ẩn hiện dưới lăng kính vạn hoa vạn hình vạn sắc. Có lúc ngọt ngào trong cái “nắng Sài Gòn” mà lòng “chợt mát” của Nguyên Sa; có khi chỉ nhẹ nhàng như nỗi buồn buổi chiều “trời nhẹ lên cao” của Xuân Diệu. Nhưng nếu có một điểm chung nào đó được nhắc đến nhiều nhất, thì yêu là mất mát, là nhớ thương.

Ai đã từng trải qua tình yêu đều hiểu được cái cảm giác “ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới” của Thanh Tâm Tuyền, hay thấm câu “Yêu thì ngắn ngủi, mà quên thì vô tận” của Pablo Neruda.

Người yêu nhau không chỉ nhớ nhung một “Tình ta ta tiếc cuồng ta khóc” mà còn mãi chờ đợi một giấc mơ say mà tỉnh “Em hỡi! phương nào em có không” (Vũ Hoàng Chương).

Tình yêu, dẫu quyền năng, dẫu đầy ắp, dẫu xuất hiện trên mọi góc xó cuộc đời, vẫn âm ỉ một hoài nghi hiện sinh: liệu tình yêu có thật? Và nếu có thật, có tồn tại mãi mãi?

Đại văn hào Tolstoy đã viết “Không có thứ tình yêu nào thuộc về tương lai”. Người đọc có thể hiểu lời ông theo hai nghĩa: một, tình yêu, nếu có, chỉ có thể là một hành vi của hiện tại; kẻ nào không sống với tình yêu trong giây phút này, kẻ ấy không có tình yêu. Hai, tình yêu, lúc này là có thật, nhưng không mãi tồn tại.

Tuy phần lớn các tác phẩm nghệ thuật về tình yêu đều phản chiếu tính bất tồn, ý tưởng này lại không dễ chấp nhận. Từ xưa, Nguyễn Du đã để Kiều và Kim Trọng chống lại chia lìa bằng lời thề “trăm năm”: “Dẫu thay mái tóc, dám rời lòng tơ!” Trong thi ca hiện đại, Nhã Ca viết: “Một lần yêu người, một lần mãi mãi” hay Nguyễn Văn Khánh trong ca khúc Nỗi Lòng “Yêu ai yêu cả một đời”.

Con người có lẽ đã quen được nuôi dưỡng bằng những viễn ảnh dài lâu, những hứa hẹn bền bỉ, một “hạnh phúc về sau” như phần thưởng cuối cùng, nên luôn cần một đường chân trời để phóng chiếu tình yêu xa rộng vượt ngoài hữu hạn. Cũng có lẽ chính vì biết tình yêu chỉ thật sự tồn tại trong hiện tại nên con người bày dựng những cõi tương lai?

Nhưng tình yêu, vốn là “mật đắng”, là “nửa dạ yêu tinh”, tan rã dưới những áp lực không chịu xoa dịu của thời gian. Và khi tình yêu mất đi, người ta còn lại gì?

Gần hai ngàn năm trước, triết gia Epictetus đã trả lời câu hỏi ấy bằng một thứ bình tĩnh gần như tàn nhẫn. Ông không khuyên con người tự bảo vệ mình trước mất mát bằng những hàng rào giả tạo. Trái lại, khi mất mát xảy đến, điều cần thiết là thay đổi cách nhìn: học cách chấp nhận, và hơn thế, chấp nhận đến tận cùng tính ngắn ngủi, tạm bợ của mọi sự.

Bởi khi tình yêu mất đi, điều còn lại, nếu còn đủ tỉnh táo, không phải là sự tàn phá, mà là một niềm biết ơn không thể đảo ngược: rằng tình yêu ấy đã từng đến, đã từng làm cho đời sống chuyển động.

Trong Luận đàm (Discourses), ở đoạn mang nhan đề “Về những điều không thuộc quyền năng chúng ta”, Epictetus viết kẻ nào không biết mình là ai thì không thể là người tốt; và kẻ biết mình là ai mà quên rằng mọi cái được tạo thành đều có ngày tan rã, rằng không một người nào có thể ở mãi với một người khác, thì cũng là một thứ quên lãng nguy hiểm.

Từ ý niệm ấy, Epictetus bước tiếp vào vùng khó chấp nhận nhất, học cách yêu trong khi biết rằng sẽ mất. Ông khuyên khi ta vui vì một điều gì, hãy vui như với một vật có thể vỡ. Như một chiếc bình đất, như một ly thủy tinh. Trong lúc nó còn nguyên, cứ dùng, cứ nâng niu. Khi nó vỡ, chỉ cần nhớ nó đã từng là gì, và đừng để nỗi mất mát kéo ta xuống. Điều ta yêu, ông nói, không phải là vật sở hữu của riêng ta. Nó được trao, cho hiện tại, chứ không phải cho vĩnh viễn; giống như trái vả, như chùm nho – đến đúng mùa, đúng thời. Đòi hái một chùm nho giữa mùa đông là vô lý. Đòi một người ở lại khi mùa của sự có mặt đã hết — cũng vô lý như thế.
Trong một đoạn khác, Epictetus nhấn thêm một bước. Ông nói khi ta cúi xuống hôn một đứa trẻ, hãy thử đặt cạnh cử chỉ ấy một ý nghĩ thầm “Ngày mai con có thể không còn trên đời này.” Khi ta ngồi với một người bạn, hãy nhớ “Ngày mai, hoặc bạn sẽ đi, hoặc ta sẽ đi. Và có thể sẽ không bao giờ gặp lại nhau nữa.” Những câu này có thể gây dị ứng tức thì bởi mới nghe có vẻ tàn nhẫn, cố ý, như một “điềm gỡ”.

Nhưng với Epictetus, cũng như với triết lý vô thường của phật giáo, đó chỉ là một kiểu ánh sáng khác, soi vào cùng một cảnh vật. Khi ta có thể nhìn người mình yêu trong tấm khung ấy — vừa “ôm em trong tay”, vừa biết là "sẽ mất em trong ngày sắp tới" thì mất mát, đến khi xảy ra, sẽ bớt là một cú sập toàn phần, mà chỉ là một chuyển động buộc phải có trong đời sống.

Lincoln, nhiều thế kỷ sau, đã gọi tên cảm giác còn lại ấy là một “nỗi buồn dịu ngọt trong lòng”, cái buồn của một tình yêu đã đi hết số phận của nó.

Giữ được vị ngọt ấy trong ký ức hay không để nỗi đau mất mát làm nó hóa đắng, có lẽ là thách đố lớn nhất của trái tim. Và ở mức nào đó, cũng là một trong những thành tựu hiếm hoi nhất của một đời người đã biết yêu, biết giữ lại, như trong giấc mơ nỗi đau dịu ngọt của Phạm Công Thiện:

gió thổi đồi tây hay đồi đông
hiu hắt quê hương bến cỏ hồng
trong mơ em vẫn còn bên cửa
tôi đứng trên đồi mây trổ bông.
 
Nguyên Yên
July 2026,
Viết tặng người bạn "thoát" yêu.
 
Ghi chú nguồn:
Những chữ trong ngoặc kép là chữ trích từ các bài thơ, văn.

1.Tolstoy: “tình yêu thuộc về hiện tại” được dẫn lại từ bài “Epictetus on Love and Loss: The Stoic Strategy for Surviving Heartbreak” của Maria Popova, đăng trên The Marginalian.
2. Erich Fromm: quan niệm “yêu là một nghệ thuật phải học”, cùng các yếu tố chăm sóc, trách nhiệm, tôn trọng, hiểu biết, được diễn giải từ The Art of Loving (Nghệ thuật yêu).
3. Saint-Exupéry:  “yêu không phải chỉ nhìn nhau, mà là cùng nhìn về một hướng” được dẫn theo câu nói nổi tiếng của Antoine de Saint-Exupéry, thường gắn với Terre des hommes.
4. Plato: quan niệm tình yêu như khát vọng hướng tới “cái toàn vẹn” được tóm từ truyền thống diễn giải Symposium (Tiệc rượu).
5. Rilke: ý về tình yêu trưởng thành, về việc sống với những điều chưa hiểu và giữ khoảng cách bảo vệ nhau, được diễn giải từ Letters to a Young Poet (Thư gửi một nhà thơ trẻ).
6. Epictetus: các ý về mất mát, tính tạm bợ của mọi sự, các hình ảnh chiếc bình đất, ly thủy tinh, trái vả, chùm nho, cùng ý thức về chia lìa, được lấy từ Discourses (Luận đàm).
7. Abraham Lincoln: cụm “nỗi buồn dịu ngọt trong lòng” gợi từ bức thư an ủi Fanny McCullough, thường được biết với tên Letter to Fanny McCullough.
8. Nguyên Sa, “Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát”; “Áo Lụa Hà Đông”.
9. Xuân Diệu, “trời nhẹ lên cao”: bài “Chiều”.
10. Thanh Tâm Tuyền, “ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới”; bài “Dạ Khúc”.
11. Vũ Hoàng Chương, “Em hỡi! phương nào em có không”; “Chờ Đợi Hoài Công”, tập Rừng Phong, Vũ Hoàng Chương.
12. Nguyễn Du, “Dẫu thay mái tóc, dám rời lòng tơ!”; Truyện Kiều (Đoạn Trường Tân Thanh).
13. Nhã Ca, “Một lần yêu người, một lần mãi mãi” và “Nửa Dạ Yêu Tinh”, bài “Tôi Làm Con Gái”. “
14. Nguyễn Văn Khánh, “Yêu ai yêu cả một đời”; “Nỗi Lòng
15. Pablo Neruda, “Yêu thì ngắn ngủi, mà quên thì bất tận”; Poema 20, tập Hai mươi bài thơ tình và một khúc ca tuyệt vọng.
16. Vũ Hữu Định, “chút gì để nhớ để thương”; “Còn Chút Gì Để Nhớ”.
17. Phạm Công Thiện, trích trong tập thơ “Ngày sinh của rắn”.

Trong môi trường chính trị thực tế đương đại, LM chính trị là lẽ sống duy nhất của mỗi tổ chức và cá nhân người Việt quốc gia. Không có LM mỗi tổ chức hay thực thể riêng biệt không khác nào một đàn cá nhốt trong ao tù, không bao giờ thoát ra biển khơi để lớn mạnh vùng vẫy hầu trở thành một lực lượng chính trị đủ sức đối trọng với đảng CSVN.
Việc một hồ sơ tình báo được giải mật thường khiến dư luận có cảm tưởng rằng toàn bộ sự thật cuối cùng đã được phơi bày. Nhưng trên thực tế, ý nghĩa của việc giải mật không đơn giản như vậy. Một tài liệu được công bố chỉ cho thấy những gì đã từng được thu thập hoặc ghi nhận tại một thời điểm nhất định; nó không mặc nhiên xác nhận rằng mọi nội dung trong đó đều đã được kiểm chứng hoặc trở thành kết luận chính thức.
Khi nói đến quyền lực tại Hoa Kỳ, người ta thường nghĩ trước hết tới Tổng Thống, Quốc Hội, các cuộc bầu cử, hay những cuộc vận động ngoài đường phố. Nhưng trong lịch sử Hoa Kỳ, còn có một quyền lực lặng lẽ âm thầm hơn, mà ảnh hưởng nhiều khi kéo dài hơn cả một đời tổng thống: Tối Cao Pháp Viện.
Chicago vừa có thêm một địa điểm đáng tham quan: Trung tâm Tổng thống Barack Obama, khai trương ngày 19 tháng 6 năm 2026, tại khu South Side — nơi gắn liền với bước khởi đầu chính trị của ông. Nhưng gọi đây là “thư viện tổng thống” e chưa đủ. Trên khu đất rộng gần 19 mẫu Anh là một quần thể vừa mang dáng dấp viện bảo tàng, vừa giống công viên sinh hoạt cộng đồng. Có bãi cỏ cho trẻ con chạy chơi, có sân bóng rổ đúng chuẩn, có cả những khoảng không để ngồi đọc sách, nghe nhạc, hay đơn giản là… nghỉ chân.
Mỗi độ tháng Sáu, sự chú ý của công luận Hoa Kỳ lại dồn về Tối cao Pháp viện, khi cơ quan này lần lượt công bố những phán quyết có ảnh hưởng sâu rộng nhất. Nhưng ít ai biết rằng trước khi một phán quyết được đăng tải trên các trang nhất các tờ nhật báo, nó đã được hình thành qua một tiến trình pháp lý chặt chẽ và phần lớn diễn ra sau cánh cửa kín. Tiến trình ấy gồm nhiều giai đoạn: từ việc chọn lọc đơn kiện, hội nghị nội bộ, nộp bản luận cứ, khẩu luận, cho đến khi ban hành ý kiến chính thức của tòa. Theo các học giả luật hiến pháp, muốn hiểu cách cơ quan tư pháp cao nhất nước Mỹ định hình chính sách, cần nhìn vào chính guồng máy vận hành kín đáo nhưng nghiêm ngặt này — nơi các tranh chấp văn hóa và chính trị lớn được cân nhắc và định đoạt.
UAV thời nay được gọi là phương tiện điều khiển không người lái, hay còn được gọi là vũ khí điều khiển từ xa. Thực ra, UAV không phải là loại vũ khí mới mẻ gì, nó đã được chế tạo vào năm 1918 bởi hãng Dayton-Wright Airplane Company tại Hoa Kỳ vào cuối Thế Chiến thứ I, với cái tên là Kettering Bug. Ngày nay, UAV được chế tạo tối tân hơn, và sử dụng rộng rãi, thành công, tỏ ra rất hiệu quả trên chiến trường. Vũ khí UAV bây giờ không chỉ tàn phá, san bằng những tòa cao ốc thành những đống gạch vụn, nó được chính con người tạo ra để giết con người. Tiếc thay, ngày nay, thế giới vẫn chưa học được cách ngừng làm tổn thương nhau và vẫn chạy đua vũ trang để tiêu diệt lẫn nhau.
Chiều ngày 21 tháng 5 năm 1796, tại dinh tổng thống ở Philadelphia, George Washington và gia đình ngồi vào bàn ăn. Đó là một trong những bữa tối cuối cùng của họ trong thành phố, trước khi trở về Mount Vernon nghỉ hè. Bên ngoài nhịp sinh hoạt quen thuộc ấy, một người đàn bà trẻ đang chuẩn bị cho một cuộc ra đi không có đường trở lại. Tên bà là Ona Judge. Bà bị giữ trong thân phận nô lệ trong nhà Washington. Trong lúc gia đình vị tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ dùng bữa, Judge lặng lẽ bước ra khỏi dinh thự. Không trống, không kèn, không nhân chứng chính thức. Chỉ có một người đàn bà trẻ rời khỏi nơi giam giữ đời mình để đi về phía tự do.
Trong chính trị học, guồng máy chính quyền hay nhà nước dân chủ như quy định trong hiến pháp bao gồm 3 thực thể gọi là tam quyền phân lập: Hành Pháp, Lập Pháp và Tư Pháp.Vì tính tối cao của hiến pháp nên trách nhiệm bảo vệ hiến pháp là nền tảng không thế thiếu trong một nền dân chủ pháp trị chân chánh. Chính quyền vận hành theo trình tự được quy định trong hiến pháp và hiến pháp này luôn được bảo vệ bởi một định chế độc lập, giám sát sự vận hành của lập pháp và hành pháp. Định chế độc lập này thông thường là một Tối Cao Pháp Viện, đứng đầu ngành Tư Pháp.
Một khuynh hướng khinh ghét phụ nữ đang dần trở thành sợi dây liên kết quan trọng trong giới bảo thủ tại Hoa Kỳ. Mục sư Douglas Wilson gần đây đưa ra một “đề nghị khiêm tốn”: hủy bỏ Tu chính án 19, tức điều khoản Hiến pháp bảo đảm quyền đi bầu của phụ nữ. Theo ông, đời sống chính trị nên tổ chức như trong giáo hội, nghĩa là mỗi gia đình chỉ có một lá phiếu. Wilson là người đồng sáng lập một hệ phái Tin Lành cải cách đặt trụ sở tại Moscow, tiểu bang Idaho. Trong gần nửa thế kỷ, ông gây dựng tại đây một mạng lưới gồm nhà xuất bản, trường học, đại học và truyền thông, cùng cổ võ một quan niệm xã hội đặt nền trên thần quyền. Giáo phái của ông có khoảng 170 nhà thờ. Bộ trưởng Quốc phòng hiện nay, ông Pete Hegseth, là một tín đồ, và hồi tháng Hai vừa qua, chính Wilson được mời đến chủ lễ cầu nguyện tại Ngũ Giác Đài. Vì vậy, khi ông nói đến việc tước quyền bầu cử của một nửa dân số, không phải là không có người lắng nghe.
Bạn có thể viết một ca khúc có câu chuyện hay nhất thế giới, một giai điệu đẹp nhất bạn từng nghĩ ra, một câu “móc” đắt giá, nhưng nếu bạn đặt chúng vào sai cấu trúc, bài hát của bạn vẫn sẽ thất bại, vì nó trở thành xa khúc. Người nghe sẽ bỏ đi giữa chừng mà không hiểu tại sao họ thấy chán, và bạn cũng sẽ không hiểu tại sao tác phẩm tâm huyết của mình không chạm được ai.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.