Hôm nay,  

Yêu Là Ngắn Ngủi

7/10/202600:00:00(View: 314)

love iStock-476849600
Ai đã từng trải qua tình yêu đều hiểu được cái cảm giác “ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới” hay thấm câu “Yêu thì ngắn ngủi, mà quên thì vô tận”. Ảnh: istockphoto.
 
Con người từ muôn thuở đã không ngừng truy vấn, định nghĩa, tìm cách gọi tên chữ yêu. Yêu là rung động, là thương, là thích, là say mê, là quyến luyến, là nhớ nhung — là thứ men riêng trong cõi lòng.

Erich Fromm cho rằng yêu là một nghệ thuật phải học. Fromm xem yêu không chỉ là cảm xúc, mà là thực hành, chăm sóc, trách nhiệm, tôn trọng, hiểu biết.

Saint-Exupéry, ở một phương diện khác, kéo yêu ra khỏi cái nhìn gần, cho rằng yêu không phải chỉ nhìn nhau, mà cùng nhìn về một hướng, một đường chân trời.

Plato thì đặt tình yêu ở nơi không trọn vẹn.  Ông gọi đó là sự khao khát “the whole” – cái toàn vẹn. Nôm na, người ta yêu vì trong mình có một khoảng khuyết, một khoảng thiếu vắng, và người kia, bằng cách nào đó, làm đầy khoảng trống ấy.

Riêng với nhà thơ hiện sinh Rilke, tình yêu trưởng thành không phải là lúc ta biết hết về nhau, mà lúc ta còn đủ dịu dàng để sống với những điều chưa hiểu.

Tình yêu, trong ngôn ngữ, hiện ra qua muôn vàn động từ, khoác lên mình vô số tính từ, hóa thành không biết bao nhiêu danh xưng, để sau cùng, vẫn không vừa lòng mọi cố gắng định nghĩa, dù chỉ một phần, cái ý nghĩa dai dẳng như định mệnh mà mong manh như sương khói.

Trong văn học hay thi ca, yêu là nhân vật chính xuyên suốt, ẩn hiện dưới lăng kính vạn hoa vạn hình vạn sắc. Có lúc ngọt ngào trong cái “nắng Sài Gòn” mà lòng “chợt mát” của Nguyên Sa; có khi chỉ nhẹ nhàng như nỗi buồn buổi chiều “trời nhẹ lên cao” của Xuân Diệu. Nhưng nếu có một điểm chung nào đó được nhắc đến nhiều nhất, thì yêu là mất mát, là nhớ thương.

Ai đã từng trải qua tình yêu đều hiểu được cái cảm giác “ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới” của Thanh Tâm Tuyền, hay thấm câu “Yêu thì ngắn ngủi, mà quên thì vô tận” của Pablo Neruda.

Người yêu nhau không chỉ nhớ nhung một “Tình ta ta tiếc cuồng ta khóc” mà còn mãi chờ đợi một giấc mơ say mà tỉnh “Em hỡi! phương nào em có không” (Vũ Hoàng Chương).

Tình yêu, dẫu quyền năng, dẫu đầy ắp, dẫu xuất hiện trên mọi góc xó cuộc đời, vẫn âm ỉ một hoài nghi hiện sinh: liệu tình yêu có thật? Và nếu có thật, có tồn tại mãi mãi?

Đại văn hào Tolstoy đã viết “Không có thứ tình yêu nào thuộc về tương lai”. Người đọc có thể hiểu lời ông theo hai nghĩa: một, tình yêu, nếu có, chỉ có thể là một hành vi của hiện tại; kẻ nào không sống với tình yêu trong giây phút này, kẻ ấy không có tình yêu. Hai, tình yêu, lúc này là có thật, nhưng không mãi tồn tại.

Tuy phần lớn các tác phẩm nghệ thuật về tình yêu đều phản chiếu tính bất tồn, ý tưởng này lại không dễ chấp nhận. Từ xưa, Nguyễn Du đã để Kiều và Kim Trọng chống lại chia lìa bằng lời thề “trăm năm”: “Dẫu thay mái tóc, dám rời lòng tơ!” Trong thi ca hiện đại, Nhã Ca viết: “Một lần yêu người, một lần mãi mãi” hay Nguyễn Văn Khánh trong ca khúc Nỗi Lòng “Yêu ai yêu cả một đời”.

Con người có lẽ đã quen được nuôi dưỡng bằng những viễn ảnh dài lâu, những hứa hẹn bền bỉ, một “hạnh phúc về sau” như phần thưởng cuối cùng, nên luôn cần một đường chân trời để phóng chiếu tình yêu xa rộng vượt ngoài hữu hạn. Cũng có lẽ chính vì biết tình yêu chỉ thật sự tồn tại trong hiện tại nên con người bày dựng những cõi tương lai?

Nhưng tình yêu, vốn là “mật đắng”, là “nửa dạ yêu tinh”, tan rã dưới những áp lực không chịu xoa dịu của thời gian. Và khi tình yêu mất đi, người ta còn lại gì?

Gần hai ngàn năm trước, triết gia Epictetus đã trả lời câu hỏi ấy bằng một thứ bình tĩnh gần như tàn nhẫn. Ông không khuyên con người tự bảo vệ mình trước mất mát bằng những hàng rào giả tạo. Trái lại, khi mất mát xảy đến, điều cần thiết là thay đổi cách nhìn: học cách chấp nhận, và hơn thế, chấp nhận đến tận cùng tính ngắn ngủi, tạm bợ của mọi sự.

Bởi khi tình yêu mất đi, điều còn lại, nếu còn đủ tỉnh táo, không phải là sự tàn phá, mà là một niềm biết ơn không thể đảo ngược: rằng tình yêu ấy đã từng đến, đã từng làm cho đời sống chuyển động.

Trong Luận đàm (Discourses), ở đoạn mang nhan đề “Về những điều không thuộc quyền năng chúng ta”, Epictetus viết kẻ nào không biết mình là ai thì không thể là người tốt; và kẻ biết mình là ai mà quên rằng mọi cái được tạo thành đều có ngày tan rã, rằng không một người nào có thể ở mãi với một người khác, thì cũng là một thứ quên lãng nguy hiểm.

Từ ý niệm ấy, Epictetus bước tiếp vào vùng khó chấp nhận nhất, học cách yêu trong khi biết rằng sẽ mất. Ông khuyên khi ta vui vì một điều gì, hãy vui như với một vật có thể vỡ. Như một chiếc bình đất, như một ly thủy tinh. Trong lúc nó còn nguyên, cứ dùng, cứ nâng niu. Khi nó vỡ, chỉ cần nhớ nó đã từng là gì, và đừng để nỗi mất mát kéo ta xuống. Điều ta yêu, ông nói, không phải là vật sở hữu của riêng ta. Nó được trao, cho hiện tại, chứ không phải cho vĩnh viễn; giống như trái vả, như chùm nho – đến đúng mùa, đúng thời. Đòi hái một chùm nho giữa mùa đông là vô lý. Đòi một người ở lại khi mùa của sự có mặt đã hết — cũng vô lý như thế.
Trong một đoạn khác, Epictetus nhấn thêm một bước. Ông nói khi ta cúi xuống hôn một đứa trẻ, hãy thử đặt cạnh cử chỉ ấy một ý nghĩ thầm “Ngày mai con có thể không còn trên đời này.” Khi ta ngồi với một người bạn, hãy nhớ “Ngày mai, hoặc bạn sẽ đi, hoặc ta sẽ đi. Và có thể sẽ không bao giờ gặp lại nhau nữa.” Những câu này có thể gây dị ứng tức thì bởi mới nghe có vẻ tàn nhẫn, cố ý, như một “điềm gỡ”.

Nhưng với Epictetus, cũng như với triết lý vô thường của phật giáo, đó chỉ là một kiểu ánh sáng khác, soi vào cùng một cảnh vật. Khi ta có thể nhìn người mình yêu trong tấm khung ấy — vừa “ôm em trong tay”, vừa biết là "sẽ mất em trong ngày sắp tới" thì mất mát, đến khi xảy ra, sẽ bớt là một cú sập toàn phần, mà chỉ là một chuyển động buộc phải có trong đời sống.

Lincoln, nhiều thế kỷ sau, đã gọi tên cảm giác còn lại ấy là một “nỗi buồn dịu ngọt trong lòng”, cái buồn của một tình yêu đã đi hết số phận của nó.

Giữ được vị ngọt ấy trong ký ức hay không để nỗi đau mất mát làm nó hóa đắng, có lẽ là thách đố lớn nhất của trái tim. Và ở mức nào đó, cũng là một trong những thành tựu hiếm hoi nhất của một đời người đã biết yêu, biết giữ lại, như trong giấc mơ nỗi đau dịu ngọt của Phạm Công Thiện:

gió thổi đồi tây hay đồi đông
hiu hắt quê hương bến cỏ hồng
trong mơ em vẫn còn bên cửa
tôi đứng trên đồi mây trổ bông.
 
Nguyên Yên
July 2026,
Viết tặng người bạn "thoát" yêu.
 
Ghi chú nguồn:
Những chữ trong ngoặc kép là chữ trích từ các bài thơ, văn.

1.Tolstoy: “tình yêu thuộc về hiện tại” được dẫn lại từ bài “Epictetus on Love and Loss: The Stoic Strategy for Surviving Heartbreak” của Maria Popova, đăng trên The Marginalian.
2. Erich Fromm: quan niệm “yêu là một nghệ thuật phải học”, cùng các yếu tố chăm sóc, trách nhiệm, tôn trọng, hiểu biết, được diễn giải từ The Art of Loving (Nghệ thuật yêu).
3. Saint-Exupéry:  “yêu không phải chỉ nhìn nhau, mà là cùng nhìn về một hướng” được dẫn theo câu nói nổi tiếng của Antoine de Saint-Exupéry, thường gắn với Terre des hommes.
4. Plato: quan niệm tình yêu như khát vọng hướng tới “cái toàn vẹn” được tóm từ truyền thống diễn giải Symposium (Tiệc rượu).
5. Rilke: ý về tình yêu trưởng thành, về việc sống với những điều chưa hiểu và giữ khoảng cách bảo vệ nhau, được diễn giải từ Letters to a Young Poet (Thư gửi một nhà thơ trẻ).
6. Epictetus: các ý về mất mát, tính tạm bợ của mọi sự, các hình ảnh chiếc bình đất, ly thủy tinh, trái vả, chùm nho, cùng ý thức về chia lìa, được lấy từ Discourses (Luận đàm).
7. Abraham Lincoln: cụm “nỗi buồn dịu ngọt trong lòng” gợi từ bức thư an ủi Fanny McCullough, thường được biết với tên Letter to Fanny McCullough.
8. Nguyên Sa, “Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát”; “Áo Lụa Hà Đông”.
9. Xuân Diệu, “trời nhẹ lên cao”: bài “Chiều”.
10. Thanh Tâm Tuyền, “ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới”; bài “Dạ Khúc”.
11. Vũ Hoàng Chương, “Em hỡi! phương nào em có không”; “Chờ Đợi Hoài Công”, tập Rừng Phong, Vũ Hoàng Chương.
12. Nguyễn Du, “Dẫu thay mái tóc, dám rời lòng tơ!”; Truyện Kiều (Đoạn Trường Tân Thanh).
13. Nhã Ca, “Một lần yêu người, một lần mãi mãi” và “Nửa Dạ Yêu Tinh”, bài “Tôi Làm Con Gái”. “
14. Nguyễn Văn Khánh, “Yêu ai yêu cả một đời”; “Nỗi Lòng
15. Pablo Neruda, “Yêu thì ngắn ngủi, mà quên thì bất tận”; Poema 20, tập Hai mươi bài thơ tình và một khúc ca tuyệt vọng.
16. Vũ Hữu Định, “chút gì để nhớ để thương”; “Còn Chút Gì Để Nhớ”.
17. Phạm Công Thiện, trích trong tập thơ “Ngày sinh của rắn”.

Trong thời đại của những dòng tin tức u ám và bầu không khí chính trị đầy bất an, hành động tập thể và tổ chức vận động ở cấp cơ sở vẫn lặng lẽ tỏa sáng như ánh lửa ấm giữa đêm dài, không chỉ giúp xua tan tuyệt vọng mà còn khơi lên hy vọng thay đổi và tiến bộ. Chính ánh lửa đó đã thôi thúc những người bất đồng với Tổng thống Donald Trump xuống đường. Các cuộc biểu tình trong suốt mùa xuân và mùa hè đã cho thấy sự phản đối mạnh mẽ (không chỉ riêng ở Hoa Kỳ mà còn lan ra toàn thế giới) đối với nghị trình của chính quyền Trump, đặc biệt là các nỗ lực nhằm thâu tóm quyền lực và phá hoại các cơ quan và dịch vụ công trọng yếu. Hậu quả từ các chính sách ấy chủ yếu đè nặng lên các cộng đồng vốn đã chịu nhiều thiệt thòi: di dân, người nghèo, người da màu, phụ nữ và cộng đồng LGBTQIA+.
Khi ngày kỷ niệm 250 năm Tuyên Dương Độc Lập đang đến gần, Hoa Kỳ đứng trước một câu hỏi quan trọng: Liệu một trong những giá trị cốt lõi nhất của bản Tuyên Dương – rằng chính phủ phải hoạt động minh bạch, có trách nhiệm trước nhân dân và tuân thủ pháp luật – có còn được giữ vững? Trước khi bản Tuyên Dương Độc Lập ra đời, các nhà lập quốc đã lên án việc chính quyền Vua George III chà đạp nhân quyền của các thuộc địa. Không chỉ vậy, họ còn đưa nguyên tắc bảo vệ vào Hiến pháp sau này, thông qua khái niệm gọi là “quyền được xét xử công bằng” (due process).
Trong nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên, Donald Trump đã khiến nhiều người sửng sốt vì tốc độ thay đổi chóng mặt trong hàng ngũ các viên chức nội các và cố vấn thân cận. Nhưng khi bước vào nhiệm kỳ hai, hiện tượng ấy gần như biến mất; chỉ còn một vài người rút lui. Nhưng theo các chuyên gia, điều đó không đồng nghĩa với sự hòa hợp. Thay vào đó, sự “ổn định” ấy đến từ việc Trump chỉ chọn những người không dám làm trái ý mình. Những người sẵn sàng nghe và vâng lời ông, bất kể đúng sai.
Ở Hoa Kỳ, khi nghe đến cụm từ “giáo dục tổng quát,” người ta thường hình dung về những khóa học nhập môn trong các lĩnh vực nghệ thuật, nhân văn, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và toán học. Tùy vào mỗi trường, chương trình này có thể mang những cái tên khác nhau như “chương trình căn bản” (core curriculum) hay “các môn học bắt buộc” (distribution requirements). Ngoài ra, chương trình này đôi khi còn có một tên gọi khác là “giáo dục khai phóng” (liberal education). Hội các trường Cao đẳng và Đại học Hoa Kỳ (American Association of Colleges and Universities, AACU) mô tả đây là chương trình giúp bồi dưỡng “tinh thần trách nhiệm xã hội, cùng với các kỹ năng trí tuệ và thực tiễn vững vàng có thể vận dụng linh hoạt.”
Trong nhiều năm kể từ khi Jeffrey Epstein được phát hiện chết trong phòng giam tại Metropolitan Correctional Center (MCC), New York, giới chức liên bang luôn khẳng định rằng cái chết này là một vụ tự sát. Tuy nhiên, một cuộc điều tra độc lập do CBS News thực hiện đã phơi bày hàng loạt mâu thuẫn giữa các tuyên bố của chính phủ và những gì thực sự hiện ra trong đoạn phim giám sát vừa được công bố.
Cuối mùa Hè năm 1955, Till-Mobley tiễn con trai của bà, Emmett Till 14 tuổi lên một chuyến tàu từ Chicago đến thăm chú và các anh em họ của Emmett ở quê hương Mississippi của bà. Giống như những phụ nữ và đàn ông da đen nói với con cái họ về việc chú ý các điểm dừng giao thông và các cuộc chạm trán khác với cảnh sát, Till-Mobley đã căn dặn Emmett rất kỹ. Bà cho cậu biết cậu đang đi đến một nơi mà an toàn phụ thuộc vào khả năng kiềm chế sự bốc đồng, tính cách không khuất phục của cậu với người da trắng. Linh cảm của người mẹ mang đến trong lòng bà nỗi bất an không giải thích được. Bà đưa cho Emmett chiếc nhẫn bạc của ông Louis Till, cha của cậu. Chiếc nhẫn khắc chữ L.T.
“Đi về Miền Nam, miền hương thơm bông lúa tràn ngập đầy đồng; Đi về Miền Nam, miền xinh tươi đất rộng cùng chung nguồn sống” Và cứ như thế, với tiếng hát trong tâm tưởng, từng đoàn người gồng gánh ra đi. Họ đi về hướng Nam giống như cha ông của mình từ bao nhiêu thế kỷ trước. Bây giờ lại còn một động lực mới và mãnh liệt khác, đó là đi tìm tự do: ‘chúng tôi muốn sống!’, như tên gọi một cuốn phim nổi tiếng của đồng bào di cư sau này. Cuối tháng 6, dù hiệp định đình chiến chưa ký kết nhưng quân đội Pháp và Quốc gia đã rút lui khỏi nhiều địa điểm ở đồng bằng Bắc Việt nên nhiều người bắt đầu di tản về các đô thị, đặc biệt là Hải phòng.
Cõi này ngày càng bất an! Tình trạng hâm nóng toàn cầu đã dẫn tới nhiều thảm họa như bão lụt, hạn hán, mực nước biển dâng cao, dịch bệnh, mất mùa, đói khát lầm than. Chiến tranh thù hận ngày càng hung bạo đã làm cho hàng triệu người thương vong, nhà cửa ruộng vườn bị phá hoại. Các chế độ độc tài, quân phiệt, và nạn kỳ thị sắc tộc đã thẳng tay đàn áp dân lành. Tất cả những điều trên đã dẫn đến thảm trạng bỏ nước đi của hàng triệu người trên thế giới! Theo Population Division of the United Nations Department of Economic and Social Affairs (UNDESA), năm 2024 có tới 304 triệu di dân trên toàn cầu, là một con số tăng gần gấp đôi kể từ năm 1990, khi lúc đó có 154 triệu di dân trên thế giới. Đó là 3.7% tổng dân số địa cầu. Theo Cơ Quan Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, tính tới cuối năm 2024, có 43.7 triệu người tị nạn, gồm 6 triệu người tị nạn từ Palestine và 8 triệu người xin được nhận vào quy chế tị nạn trên toàn cầu.
Trong số người Việt, thế hệ thứ nhất có 29% học xong cử nhân hay cao hơn. Thế hệ sinh ra lớn lên tại Hoa Kỳ con số này là 59%. Như thế có thể lý giải là phụ huynh không có cơ hội học cao nhưng khuyến khích con theo đuổi đường học vấn cho tương lai.
Khi các chuyên gia quan ngại về mối quan hệ của giới trẻ với thông tin trực tuyến, họ thường cho rằng giới trẻ tuổi không hiểu biết về phương tiện truyền thông như những người lớn tuổi hơn. Nhưng công trình nghiên cứu dân tộc học do Jigsaw – cơ sở công nghệ của Google - thực hiện lại tiết lộ một thực tế phức tạp và tinh tế hơn: Thế hệ Z, thường được hiểu là những người sinh sau năm 1997 và trước năm 2012, đã phát triển các chiến lược khác biệt rõ rệt để đánh giá thông tin trực tuyến, những chiến lược sẽ khiến bất kỳ ai trên 30 tuổi trở nên bối rối. Họ không tiếp thu thông tin như những người lớn tuổi hơn bằng cách đầu tiên đọc tiêu đề và sau đó là nội dung.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.