Hôm nay,  

Yêu Là Ngắn Ngủi

10/07/202600:00:00(Xem: 308)

love iStock-476849600
Ai đã từng trải qua tình yêu đều hiểu được cái cảm giác “ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới” hay thấm câu “Yêu thì ngắn ngủi, mà quên thì vô tận”. Ảnh: istockphoto.
 
Con người từ muôn thuở đã không ngừng truy vấn, định nghĩa, tìm cách gọi tên chữ yêu. Yêu là rung động, là thương, là thích, là say mê, là quyến luyến, là nhớ nhung — là thứ men riêng trong cõi lòng.

Erich Fromm cho rằng yêu là một nghệ thuật phải học. Fromm xem yêu không chỉ là cảm xúc, mà là thực hành, chăm sóc, trách nhiệm, tôn trọng, hiểu biết.

Saint-Exupéry, ở một phương diện khác, kéo yêu ra khỏi cái nhìn gần, cho rằng yêu không phải chỉ nhìn nhau, mà cùng nhìn về một hướng, một đường chân trời.

Plato thì đặt tình yêu ở nơi không trọn vẹn.  Ông gọi đó là sự khao khát “the whole” – cái toàn vẹn. Nôm na, người ta yêu vì trong mình có một khoảng khuyết, một khoảng thiếu vắng, và người kia, bằng cách nào đó, làm đầy khoảng trống ấy.

Riêng với nhà thơ hiện sinh Rilke, tình yêu trưởng thành không phải là lúc ta biết hết về nhau, mà lúc ta còn đủ dịu dàng để sống với những điều chưa hiểu.

Tình yêu, trong ngôn ngữ, hiện ra qua muôn vàn động từ, khoác lên mình vô số tính từ, hóa thành không biết bao nhiêu danh xưng, để sau cùng, vẫn không vừa lòng mọi cố gắng định nghĩa, dù chỉ một phần, cái ý nghĩa dai dẳng như định mệnh mà mong manh như sương khói.

Trong văn học hay thi ca, yêu là nhân vật chính xuyên suốt, ẩn hiện dưới lăng kính vạn hoa vạn hình vạn sắc. Có lúc ngọt ngào trong cái “nắng Sài Gòn” mà lòng “chợt mát” của Nguyên Sa; có khi chỉ nhẹ nhàng như nỗi buồn buổi chiều “trời nhẹ lên cao” của Xuân Diệu. Nhưng nếu có một điểm chung nào đó được nhắc đến nhiều nhất, thì yêu là mất mát, là nhớ thương.

Ai đã từng trải qua tình yêu đều hiểu được cái cảm giác “ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới” của Thanh Tâm Tuyền, hay thấm câu “Yêu thì ngắn ngủi, mà quên thì vô tận” của Pablo Neruda.

Người yêu nhau không chỉ nhớ nhung một “Tình ta ta tiếc cuồng ta khóc” mà còn mãi chờ đợi một giấc mơ say mà tỉnh “Em hỡi! phương nào em có không” (Vũ Hoàng Chương).

Tình yêu, dẫu quyền năng, dẫu đầy ắp, dẫu xuất hiện trên mọi góc xó cuộc đời, vẫn âm ỉ một hoài nghi hiện sinh: liệu tình yêu có thật? Và nếu có thật, có tồn tại mãi mãi?

Đại văn hào Tolstoy đã viết “Không có thứ tình yêu nào thuộc về tương lai”. Người đọc có thể hiểu lời ông theo hai nghĩa: một, tình yêu, nếu có, chỉ có thể là một hành vi của hiện tại; kẻ nào không sống với tình yêu trong giây phút này, kẻ ấy không có tình yêu. Hai, tình yêu, lúc này là có thật, nhưng không mãi tồn tại.

Tuy phần lớn các tác phẩm nghệ thuật về tình yêu đều phản chiếu tính bất tồn, ý tưởng này lại không dễ chấp nhận. Từ xưa, Nguyễn Du đã để Kiều và Kim Trọng chống lại chia lìa bằng lời thề “trăm năm”: “Dẫu thay mái tóc, dám rời lòng tơ!” Trong thi ca hiện đại, Nhã Ca viết: “Một lần yêu người, một lần mãi mãi” hay Nguyễn Văn Khánh trong ca khúc Nỗi Lòng “Yêu ai yêu cả một đời”.

Con người có lẽ đã quen được nuôi dưỡng bằng những viễn ảnh dài lâu, những hứa hẹn bền bỉ, một “hạnh phúc về sau” như phần thưởng cuối cùng, nên luôn cần một đường chân trời để phóng chiếu tình yêu xa rộng vượt ngoài hữu hạn. Cũng có lẽ chính vì biết tình yêu chỉ thật sự tồn tại trong hiện tại nên con người bày dựng những cõi tương lai?

Nhưng tình yêu, vốn là “mật đắng”, là “nửa dạ yêu tinh”, tan rã dưới những áp lực không chịu xoa dịu của thời gian. Và khi tình yêu mất đi, người ta còn lại gì?

Gần hai ngàn năm trước, triết gia Epictetus đã trả lời câu hỏi ấy bằng một thứ bình tĩnh gần như tàn nhẫn. Ông không khuyên con người tự bảo vệ mình trước mất mát bằng những hàng rào giả tạo. Trái lại, khi mất mát xảy đến, điều cần thiết là thay đổi cách nhìn: học cách chấp nhận, và hơn thế, chấp nhận đến tận cùng tính ngắn ngủi, tạm bợ của mọi sự.

Bởi khi tình yêu mất đi, điều còn lại, nếu còn đủ tỉnh táo, không phải là sự tàn phá, mà là một niềm biết ơn không thể đảo ngược: rằng tình yêu ấy đã từng đến, đã từng làm cho đời sống chuyển động.

Trong Luận đàm (Discourses), ở đoạn mang nhan đề “Về những điều không thuộc quyền năng chúng ta”, Epictetus viết kẻ nào không biết mình là ai thì không thể là người tốt; và kẻ biết mình là ai mà quên rằng mọi cái được tạo thành đều có ngày tan rã, rằng không một người nào có thể ở mãi với một người khác, thì cũng là một thứ quên lãng nguy hiểm.

Từ ý niệm ấy, Epictetus bước tiếp vào vùng khó chấp nhận nhất, học cách yêu trong khi biết rằng sẽ mất. Ông khuyên khi ta vui vì một điều gì, hãy vui như với một vật có thể vỡ. Như một chiếc bình đất, như một ly thủy tinh. Trong lúc nó còn nguyên, cứ dùng, cứ nâng niu. Khi nó vỡ, chỉ cần nhớ nó đã từng là gì, và đừng để nỗi mất mát kéo ta xuống. Điều ta yêu, ông nói, không phải là vật sở hữu của riêng ta. Nó được trao, cho hiện tại, chứ không phải cho vĩnh viễn; giống như trái vả, như chùm nho – đến đúng mùa, đúng thời. Đòi hái một chùm nho giữa mùa đông là vô lý. Đòi một người ở lại khi mùa của sự có mặt đã hết — cũng vô lý như thế.
Trong một đoạn khác, Epictetus nhấn thêm một bước. Ông nói khi ta cúi xuống hôn một đứa trẻ, hãy thử đặt cạnh cử chỉ ấy một ý nghĩ thầm “Ngày mai con có thể không còn trên đời này.” Khi ta ngồi với một người bạn, hãy nhớ “Ngày mai, hoặc bạn sẽ đi, hoặc ta sẽ đi. Và có thể sẽ không bao giờ gặp lại nhau nữa.” Những câu này có thể gây dị ứng tức thì bởi mới nghe có vẻ tàn nhẫn, cố ý, như một “điềm gỡ”.

Nhưng với Epictetus, cũng như với triết lý vô thường của phật giáo, đó chỉ là một kiểu ánh sáng khác, soi vào cùng một cảnh vật. Khi ta có thể nhìn người mình yêu trong tấm khung ấy — vừa “ôm em trong tay”, vừa biết là "sẽ mất em trong ngày sắp tới" thì mất mát, đến khi xảy ra, sẽ bớt là một cú sập toàn phần, mà chỉ là một chuyển động buộc phải có trong đời sống.

Lincoln, nhiều thế kỷ sau, đã gọi tên cảm giác còn lại ấy là một “nỗi buồn dịu ngọt trong lòng”, cái buồn của một tình yêu đã đi hết số phận của nó.

Giữ được vị ngọt ấy trong ký ức hay không để nỗi đau mất mát làm nó hóa đắng, có lẽ là thách đố lớn nhất của trái tim. Và ở mức nào đó, cũng là một trong những thành tựu hiếm hoi nhất của một đời người đã biết yêu, biết giữ lại, như trong giấc mơ nỗi đau dịu ngọt của Phạm Công Thiện:

gió thổi đồi tây hay đồi đông
hiu hắt quê hương bến cỏ hồng
trong mơ em vẫn còn bên cửa
tôi đứng trên đồi mây trổ bông.
 
Nguyên Yên
July 2026,
Viết tặng người bạn "thoát" yêu.
 
Ghi chú nguồn:
Những chữ trong ngoặc kép là chữ trích từ các bài thơ, văn.

1.Tolstoy: “tình yêu thuộc về hiện tại” được dẫn lại từ bài “Epictetus on Love and Loss: The Stoic Strategy for Surviving Heartbreak” của Maria Popova, đăng trên The Marginalian.
2. Erich Fromm: quan niệm “yêu là một nghệ thuật phải học”, cùng các yếu tố chăm sóc, trách nhiệm, tôn trọng, hiểu biết, được diễn giải từ The Art of Loving (Nghệ thuật yêu).
3. Saint-Exupéry:  “yêu không phải chỉ nhìn nhau, mà là cùng nhìn về một hướng” được dẫn theo câu nói nổi tiếng của Antoine de Saint-Exupéry, thường gắn với Terre des hommes.
4. Plato: quan niệm tình yêu như khát vọng hướng tới “cái toàn vẹn” được tóm từ truyền thống diễn giải Symposium (Tiệc rượu).
5. Rilke: ý về tình yêu trưởng thành, về việc sống với những điều chưa hiểu và giữ khoảng cách bảo vệ nhau, được diễn giải từ Letters to a Young Poet (Thư gửi một nhà thơ trẻ).
6. Epictetus: các ý về mất mát, tính tạm bợ của mọi sự, các hình ảnh chiếc bình đất, ly thủy tinh, trái vả, chùm nho, cùng ý thức về chia lìa, được lấy từ Discourses (Luận đàm).
7. Abraham Lincoln: cụm “nỗi buồn dịu ngọt trong lòng” gợi từ bức thư an ủi Fanny McCullough, thường được biết với tên Letter to Fanny McCullough.
8. Nguyên Sa, “Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát”; “Áo Lụa Hà Đông”.
9. Xuân Diệu, “trời nhẹ lên cao”: bài “Chiều”.
10. Thanh Tâm Tuyền, “ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới”; bài “Dạ Khúc”.
11. Vũ Hoàng Chương, “Em hỡi! phương nào em có không”; “Chờ Đợi Hoài Công”, tập Rừng Phong, Vũ Hoàng Chương.
12. Nguyễn Du, “Dẫu thay mái tóc, dám rời lòng tơ!”; Truyện Kiều (Đoạn Trường Tân Thanh).
13. Nhã Ca, “Một lần yêu người, một lần mãi mãi” và “Nửa Dạ Yêu Tinh”, bài “Tôi Làm Con Gái”. “
14. Nguyễn Văn Khánh, “Yêu ai yêu cả một đời”; “Nỗi Lòng
15. Pablo Neruda, “Yêu thì ngắn ngủi, mà quên thì bất tận”; Poema 20, tập Hai mươi bài thơ tình và một khúc ca tuyệt vọng.
16. Vũ Hữu Định, “chút gì để nhớ để thương”; “Còn Chút Gì Để Nhớ”.
17. Phạm Công Thiện, trích trong tập thơ “Ngày sinh của rắn”.

Tối 5 tháng Hai năm 1930, nhà phê bình văn nghệ Paul Fechter bước lên diễn đàn của Liên Minh Người Do Thái Đức Theo Chủ Nghĩa Quốc Gia tại Berlin. Ông biết đề tài mình sắp nói sẽ khó nghe. Fechter nói rằng người Đức từ lâu đã quá “sợ hãi và dè dặt” khi nói công khai về người Do Thái. Ông đặc biệt công kích Kurt Tucholsky, một nhà văn trào phúng Do Thái nổi tiếng, vì cuốn Deutschland, Deutschland über alles (Nước Đức, Nước Đức Trên Hết), trong đó Tucholsky châm biếm quân đội, cảnh sát, công chức, quốc ca và nhiều biểu tượng chủ nghĩa quốc gia của nước Đức.Nhưng Fechter không dừng ở một nhà văn. Ông nói một phần lớn giới văn chương và nghệ thuật Đức “nằm trong tay người Do Thái”; các nhà hát, nhà xuất bản lớn và giới buôn tranh đều ít nhiều “dưới sự kiểm soát của người Do Thái.” Ông trách các nhà buôn tranh Do Thái chuộng Manet, Monet, Renoir, Gauguin, Picasso và Cézanne — những họa sĩ Pháp và hiện đại — hơn hội họa truyền thống Đức.
Tính đến thời điểm hiện tại của tài khóa 2026 (tháng 10, 2025 – tháng 9, 2026), thiếu hụt ngân sách liên bang Hoa Kỳ đã lên tới khoảng 1.8 nghìn tỷ USD, trong đó mức thiếu hụt của riêng tháng 7 là 432 tỷ USD, cao nhất kể từ tháng 3, 2021. Medicare tăng mạnh đã góp phần đẩy tổng con số lên cao, trong khi chính quyền vay nợ vẫn là một yếu tố đóng góp đáng kể. Tình trạng này đã đẩy tổng nợ quốc gia lần đầu tiên vượt mốc 40 nghìn tỷ USD, chủ yếu do chi phí lãi vay ròng gia tăng, các khoản chi cho chương trình phúc lợi bắt buộc và tác động từ các đạo luật chi tiêu mới được ban hành. Văn Phòng Ngân Sách Quốc Hội (Congressional Budget Office - CBO) dự đoán thâm hụt ngân sách cả tài khóa 2026 sẽ ở mức gần 1.9 nghìn tỷ USD.
Cách tốt nhất để giết một con chim | là thế này: dù nó đang cãi cọ hay cất tiếng kêu, | bạn hãy viết rằng chú chim nhỏ đang hót.
Tư tưởng gia người Mỹ George Santayana (1863-1952) đã từng viết trong tác phẩm “The Life of Reason: Reason in Common Sense” được xuất bản năm 1905 rằng, “Những ai không thể nhớ quá khứ thì bị buộc phải lập lại nó.” Có lẽ ý của ông Santayana là nếu ai không học được những bài học của quá khứ thì sẽ phải tiếp tục dẫm lên vết xe đổ. Một con người đánh mất quá khứ tức là mất đi ký ức thì sẽ không nhận biết mình là ai, do đó cũng sẽ không biết mình phải làm gì để xây dựng tương lai. Tương tự như vậy, một dân tộc đánh mất quá khứ lịch sử thì dân tộc đó sẽ không có tương lai. Quá khứ dù có xấu xa cỡ nào thì cũng là những gì mà chính con người hay một dân tộc đã từng làm. Trên thế gian này không một ai và không một dân tộc nào đã không từng một lần phạm phải sai lầm. Nhưng những sai lầm đó trong một ý nghĩa nào đó chính là những điều quý giá mà một con người hay một dân tộc có thể rút ra được bài học để có thể không tái phạm và làm điều tốt đẹp hơn ở hiện tại và tương lai.
Giữa khoảng không mênh mông của vũ trụ, Trái Đất hiện lên như một phép màu xanh thẳm. Hành tinh ấy có nước trong lành, bầu khí quyển dịu dàng, đất đai màu mỡ, rừng núi, sông hồ, biển cả và muôn loài cùng chung sống. Con người sinh ra, lớn lên trong vòng tay bao dung của thiên nhiên, uống từng giọt nước, hít từng hơi thở, bước đi trên mặt đất và được nuôi dưỡng bằng phù sa, nắng gió. Vậy mà, đáng buồn thay, chính loài người — đứa con được cưu mang nhiều nhất — lại đang từng ngày làm tổn thương người mẹ đã nuôi mình.
Các khoa học gia tại Đại học New York theo dõi hoạt động não của 23 người thông thạo cả Anh ngữ lẫn Tây Ban Nha. Họ nhận thấy những mẫu hoạt động thần kinh gần như giống nhau khi người tham dự biến một danh từ từ số ít sang số nhiều trong cả hai thứ tiếng. Phát hiện này cho thấy não không nhất thiết phải dựng nên một hệ thống ngữ pháp riêng cho từng ngôn ngữ. Thay vào đó, nó có thể dùng chung một cơ chế căn bản, rồi điều chỉnh cơ chế ấy theo quy tắc của mỗi tiếng.
Một cuộc thăm dò mới của CNN do SSRS thực hiện cho thấy tỷ lệ ủng hộ chung đối với Tổng thống Donald Trump đã sụt giảm mạnh xuống còn 34%, ngang bằng mức thấp nhất trong sự nghiệp của ông. Ngoài ra, con số kỷ lục 73% người trưởng thành tại Mỹ cho rằng ông chưa dành đủ sự quan tâm cho những vấn đề quan trọng nhất của đất nước. Cuộc thăm dò, được thực hiện từ ngày 23 đến 27 tháng 7 năm 2026, cho thấy sự bất mãn lan rộng trên nhiều nhóm nhân khẩu học và các vấn đề khác nhau. Cử tri da trắng đóng vai trò then chốt trong thành công chính trị của ông Trump suốt hơn một thập kỷ qua. Theo truyền thống, Trump thường đạt kết quả tốt hơn nhiều trong nhóm cử tri da trắng so với toàn thể cử tri. Mức độ ủng hộ của nhóm này cũng đã giảm đáng kể trước thềm cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026. Tỷ lệ ủng hộ ròng của ông Trump—được tính bằng cách lấy tỷ lệ ủng hộ trừ đi tỷ lệ không ủng hộ—trong nhóm cử tri da trắng đang ở mức âm 20, mức thấp nhất từng được ghi nhận.
Con người từ thuở hồng hoang đã không chỉ sống bằng điều mình biết. Người mẹ sinh con chưa biết đứa trẻ mai này sẽ ra sao. Người gieo hạt chưa lường được kết quả vụ mùa. Kẻ xuống thuyền vượt biển không thấy được bờ bến. Người ta vẫn cắm cúi đi. Không vì cái biết, mà vì lòng tin. Biết thuộc về ánh sáng, tin thường khởi sự nơi tối tăm. Tin một điều có nghĩa là chấp nhận điều ấy có thật. Tin một người là trao vào tay người ấy một phần sinh mệnh của chính mình. Tin một lý tưởng là lấy đó làm lẽ sống, làm phương hướng.
Vào những năm 1520, 1530, có một người tên Esteban de Dorantes, người đời quen gọi là Estevanico, đã một mình băng qua sa mạc mênh mông của vùng đất nay là Texas, New Mexico và Arizona — trước khi người Anh dựng nên Jamestown năm 1607 gần một thế kỷ, và trước khi đoàn di dân Pilgrim đặt chân lên Plymouth năm 1620 tròn một trăm năm. Ông sinh ra ở Azemmour, một thị trấn ven Đại Tây Dương của Ma Rốc, bị bắt làm nô lệ, đưa sang Tây Ban Nha rồi vượt biển sang Tân Thế Giới. Trong một chuyến viễn chinh bi thảm khiến gần như cả đoàn bỏ mạng, Estevanico là một trong số ít người sống sót. Ông học được nhiều thứ tiếng bản địa và trở thành một trong những người đầu tiên của "Old World" đặt chân xuyên suốt miền nam nội địa của nước Mỹ sau này.
Trung Quốc coi thương mại là một trong những thành tựu nổi bật của Cơ chế Hợp tác Lancang – Mekong (LMC), với tổng kim ngạch giữa Trung Quốc và năm quốc gia hạ nguồn đạt khoảng 500 tỷ USD trong năm 2025. Tuy nhiên, đằng sau con số ấn tượng đó là một thực tế đáng lo ngại: Lợi ích từ thương mại không được phân bổ đồng đều. Chỉ trong năm 2025, Việt Nam đã ghi nhận mức thâm hụt thương mại với Trung Quốc lên tới 115,6 tỷ USD, trong khi Campuchia và Thái Lan cũng chịu mức nhập siêu rất lớn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.