Hôm nay,  

Bush Loạn Chiêu

06/10/200500:00:00(Xem: 7285)
- Gặp rất nhiều nghịch cảnh, Tổng thống Bush chỉ điêu đứng khi nào thành phần trung kiên vẫn ủng hộ ông bắt đầu mất niềm tin. Điều ấy đang xảy ra…
Trong bài bình luận cho ban Việt ngữ BBC, được đưa lên Web của BBC ngày Thứ Hai mùng ba tháng 10 vừa rồi, người viết bài này có phân tách cái "nghiệp kỳ hai" của Tổng thống George W. Bush và nêu nhận xét là ông có chừng một tháng để trấn an các thành phần trung kiên của ông và chinh phục lại niềm tin của quần chúng. Nếu không, ông sẽ là tổng thống hết thời, cầm quyền cho hết nhiệm kỳ mà không lãnh đạo nổi…
Người ta không phải đợi một tháng.
Cùng ngày Thứ Hai đó, ông đã làm một việc trái ngược khi chỉ định Harriet Miers vào Tối cao Pháp viện. Phản ứng lập tức - trong có vài giờ - và gay gắt của nhiều phái bảo thủ về quyết định này khiến tòa Bạch Ốc lật đật - điều rất hy hữu - tổ chức cuộc họp báo tại vườn hồng Rose Garden, để ông Bush trấn an xu hướng bảo thủ ấy trong gần một tiếng đồng hồ.
Chúng ta đang chứng kiến một hiện tượng đáng chú ý: ông Bush có dấu hiệu loạn chiêu khiến những người ủng hộ ông bắt đầu nêu câu hỏi về khả năng lãnh đạo của ông. Điều ấy sẽ dội ngược vào hồ sơ Iraq lẫn tư thế của Hoa Kỳ trên thế giới. Cực kỳ đáng ngại.
*
Trong thế kỷ 20, Hoa Kỳ có sáu vị tổng thống đã được tái đắc cử cho nhiệm kỳ hai và đều bị cái "nghiệp kỳ hai" khi lên đến cực thịnh khiến thành tích chung cuộc sút giảm. Đó là các ông Wilson, (Franklin) Roosevelt, Eisenhower, Nixon, Reagan và Clinton. Nếu kể thêm bốn người kế nhiệm vị tổng thống bị mất đương khi tại chức là (Theodore) Roosevelt, Coolidge, Truman và Johnson, thì hồi hai của sự nghiệp vẫn thường kém hồi đầu, có khi không được đề cử (Truman) hoặc dám tái tranh cử (Johnson). Trong một chục người ấy, ngoại lệ duy nhất nếu có là Theodore Roosevelt và Calvin Coolidge. May lắm thì Eisenhower được coi là bình hòa.
Vì sao như vậy"
Thói thường, khi được tự do hành động và chỉ còn chú ý đến vị trí của mình trong lịch sử hơn là che chắn đây đó để giành phiếu trong cuộc bầu cử tới, các vị tổng thống Mỹ trong nhiệm kỳ hai thường bị bệnh chủ quan bất cẩn. Ngoài ra, qua nhiệm kỳ hai người ta cũng dễ mệt mỏi và tìm giải pháp dễ dãi khi bận tô tượng cho mình. Rồi vì thế mà có khi vấp ngã vì chuyện không đáng. Như Nixon vì vụ Watergate, Reagan vì vụ Iran-Contra, Clinton vì vụ Monica Lewinsky, những tai tiếng để lại tỳ vết khó xóa trong lịch sử, và trước mắt, còn cản trở những kế hoạch dự tính thực hiện cho hậu thế.
Nhiều người cũng thất bại vì quyết định đối ngoại xuất phát từ nhiệm kỳ trước. Wilson chiến thắng trong Thế chiến I mà thất bại vì Quốc hội đảo ngược lập trường, chống lại kế hoạch Hội quốc liên (League of Nations) khiến ông bất lực tại hội nghị Versailles. Hòa ước Versailles vì vậy gieo mầm cho Thế chiến II. Lên kế nhiệm (Franklin) Roosevelt, Truman không kết thúc nổi chiến tranh Cao Ly. Kế nhiệm Kennedy, Johnson không giải quyết nổi chiến tranh Việt Nam. Họ thất bại nặng nên dù có muốn cũng không thể tái tranh cử.
Một khía cạnh khác của cái "nghiệp kỳ hai" là trong nhiệm kỳ hai này, vị tổng thống không được sự nhân nhượng nào của truyền thông hay đối thủ và bị phê phán nghiêm khắc hơn. Họ thường bị đả kích rất nặng, kể cả Eisenhower, và gặp sự chống đối gay gắt đến độ hằn học và tất nhiên là bất công của đối phương.
Tuy nhiên, những người dù gặp sóng gió mà vẫn tai qua nạn khỏi và cuối cùng hoàn tất được nhiệm kỳ hai đều có một nét chung: họ không bị khối quần chúng trung kiên bỏ rơi. Đó là trường hợp của Roosevelt, Eisenhower, Reagan và Clinton. Những người khác đã thất bại nặng chính là vì mất sự tín nhiệm của các thành phần đã từng ủng hộ mình: Wilson gặp sự nổi loạn trong đảng Dân chủ, Truman không được đảng Dân chủ tái đề cử, Johnson có muốn ra tái tranh cử chưa chắc đã được hậu thuẫn của đa số Dân chủ, khi đó đã đảo ngược lập trường, trở thành phản chiến. Nixon phải từ chức khi gặp sức chống rất mạnh của các Nghị sĩ Cộng hòa.
Nói vắn tắt, các tổng thống Mỹ có thể bị vấp ngã trong nhiệm kỳ hai vì 1) chủ quan bất cẩn, 2) mệt mỏi đâm ra lười biếng, 3) lãnh di sản nặng nề của nhiệm kỳ một, 4) và bị tấn công rất nặng vì mọi chuyện. Nhưng họ vẫn có thể vượt qua sóng gió để hoàn tất nhiệm kỳ nếu còn hậu thuẫn của các thành phần quần chúng trung kiên của mình. Nếu không, họ hết thời và nước Mỹ sẽ bị khủng hoảng.
Tổng thống Bush không thể không biết điều ấy: ông đã bất cẩn trong vụ Katrina, có thể vì hao mòn sức lực và tâm trí, lại đang lãnh di sản Iraq và bị đối lập và truyền thông, đa số là thiên tả, tấn công rất gắt. Trong tháng Tám, dù kinh tế tăng trưởng khả quan, tỷ lệ tín nhiệm của ông Bush vẫn sa sút vì vụ Iraq. Trong tháng Chín, vụ Katrina đẩy tỷ lệ bất tín nhiệm lên quá 60% và đấy là lúc ông cần tựa vào thành đồng bảo thủ để tìm thế phản công. Nếu họ có hoài nghi về khả năng lãnh đạo, thí dụ như tại Iraq, thì vẫn tin tưởng vào cá tính chân thành và quả quyết của Tổng thống, là điều ông Bush đã chứng tỏ trong suốt năm năm qua.
Suốt tháng Chín, ông Bush có cơ hội tổng phản công sau vụ Katrina nhưng kết quả lại trái ngược. Ông bọc xuôi theo dư luận để tung ra kế hoạch tăng chi sặc mùi bao cấp hầu chuộc lỗi sơ sẩy tại Katrina trong khi ban tham mưu quân sự của ông nói ra những mâu thuẫn về vụ Iraq, đôn quân hay rút quân đều cần như nhau! Chưa ra khỏi Iraq, ông Bush đã hai lần vấp ngã trong trận Katrina, trước và sau bão lụt.
Điều đáng kinh ngạc và đáng thất vọng cho quần chúng bảo thủ là trong hoàn cảnh ngặt nghèo ấy, ông lại bổ nhiệm luật sư riêng của mình là bà Harriet Miers vào ghế Thẩm phán Tối cao Pháp viện thay bà Sandra O'Connor đã xin về hưu từ tháng Bảy. Họ đang kết luận là chẳng những có khả năng lãnh đạo kém, ông Bush còn mất đức tính đáng kính là kiên định lập trường và chí công vô tư. Yếu tố sau cùng ấy mới đáng chú ý.
Nếu đảng Cộng hòa thất cử nặng vào năm tới và sẽ mất cả tòa Bạch Ốc lẫn Quốc hội vào năm 2008, người ta sẽ nhớ đến ngày mùng ba tháng 10 vừa rồi và Harriet Miers.
Khi O'Connor ngỏ ý xin về hưu, Tổng thống Bush và ban tham mưu đã phải có quyết định được chờ đợi từ lâu, đó là tìm người thay thế vị phụ nữ đầu tiên vào Tối cao Pháp viện do quyết định bổ nhiệm của Tổng thống Reagan. Bà O'Connor này là người có khả năng, uy tín và từ xu hướng bảo thủ đã chuyển dịch vào lập trường ôn hòa ở giữa, giữ vị trí bản lề cho các phán quyết của Tối cao Pháp viện gồm chín người.
Nếu người thay thế bà mà có lập trường bảo thủ, Tối cao Pháp viện sẽ ngả về cánh hữu với tỷ lệ 5-4, qua chủ trương suy diễn Hiến pháp theo sát tinh thần nguyên thủy, giới hạn vai trò của chính quyền Liên bang để tăng cường vai trò của Tiểu bang và địa phương, tôn trọng kỷ cương và đạo đức xã hội (hạn chế phá thai và chống hôn nhân đồng tính chẳng hạn) và nhất là ngăn cản trào lưu làm luật theo xu hướng thiên tả và can thiệp của Quốc hội.
Tổng thống Bush đã chọn Thẩm phán John Roberts vào vị trí ấy. Ông là người có thực tài, uy tín và lại bảo thủ nên sẽ đẩy Tối cao Pháp viện về cánh hữu theo ý nguyện của thành phần bảo thủ xưa nay vẫn kiên trì ủng hộ Bush trong hai kỳ tranh cử, dù ông gặp nhiều vấp váp tại Iraq. Điều bất ngờ là Chủ tịch cơ chế tối cao này là ông William Rehquist - một nhân vật bảo thủ do Nixon bổ nhiệm - lại qua đời hôm mùng ba tháng Chín. Bất ngờ hơn nữa, ông Bush lại đôn luôn Thẩm phán Roberts vào ghế Chủ tịch ấy. Ông Roberts xuất sắc vượt qua các cuộc điều trần và được Thượng viện phê chuẩn với phân nửa lá phiếu Dân chủ để chủ tọa phiên họp đầu tiên của Tối cao Pháp viện mới, vào ngày mùng ba vừa qua, một biến cố rất đáng chú ý.

Nhưng biến cố ấy bị nhận chìm bởi quyết định cùng ngày của ông Bush là bổ nhiệm Harriet Miers vào ghế O'Connor. Đây là sai lầm khó tha thứ về thời điểm vì làm giảm mất ý nghĩa của thắng lợi John Roberts. Chính quyền Bush chưa khi nào xuất sắc trên mặt trận tuyên truyền và chiến tranh tâm lý, lần này thì lại quá tệ.
Với việc đôn một người bảo thủ vào vị trí của một người bảo thủ vừa quá vãng, cán cân lực lượng tả hữu tại Tối cao Pháp viện lại chuyển dịch về chỗ cũ và ông Bush phải tìm ra người thay thế lá phiếu bản lề của bà O'Connor.
Ông không chọn một trong hàng chục người có uy tín, thực tài hay lập trường rõ rệt mà chọn lại một luật sư riêng của mình từ thời Texas, một người đã theo ông vào tòa Bạch Ốc và trở thành nhân vật thân tín của tổng thống trong các quyết định liên hệ đến pháp luật. Mà hồ sơ pháp luật trên bàn của tổng thống chính là vấn đề chính trị của quốc dân.
Bà Miers gặp sự chống đối từ các nhóm bảo thủ không phải vì chưa từng là thẩm phán mà vì 1) không ai biết chủ trương rõ rệt của bà ra sao, 2) có tư thế dính liền đến tổng thống, 3) chứ không là một nhà tư tưởng có viễn kiến hay thẩm quyền về luật Hiến pháp, và quan trọng nhất đối với dư luận bảo thủ, 4) bà lấy mất chỗ của nhiều nhân vật xứng đáng hơn. Trong số này, có hai nhân vật đáng chú ý là một nữ thẩm phán da đen, bảo thủ, gốc California, hoặc Giáo sư Đinh Việt, có thẩm quyền về luật Hiến pháp, rất quen biết trong cộng đồng Việt Nam và được kính trọng trong bộ Tư pháp Mỹ khi góp phần soạn thảo đạo luật Patriot Act.
Nói vắn tắt, nếu không là một phụ nữ, lại là tay chân thân tín của tổng thống, không đời nào bà Miers có thể vượt qua cả chục nhân vật khác để được đề cử vào Tối cao Pháp viện.
Quyết định của Bush bị chỉ trích vì ông hành xử y hệt như đảng Dân chủ, là cố tính đề cử nhân sự chỉ vì lý do chính trị mị dân (phụ nữ hay da màu) chứ không vì khả năng. Ông cũng mặc nhiên xác nhận điều mà đảng Dân chủ xưa nay vẫn công kích, là đưa tay chân vào việc nước. Ông Bush càng cố gắng chứng minh khả năng của bà Miers lại càng kẹt: ông biết rõ khả năng ấy hơn thiên hạ vì Miers là luật sư thân tín của ông. Tức là Hoa Kỳ lại trở về chế độ thân tộc, lãnh đạo đưa tay chân vào nắm quyền, v.v…. Sau những đồn đãi oan về tổ hợp Halliburton đến vụ rút lui của Giám đốc FEMA, nhân vật kém khả năng được bổ nhiệm vì lý do chính trị, việc đưa Miers vào Tối cao Pháp viện chứng tỏ nhược điểm về cá tính con người, không chỉ về khả năng lãnh đạo, của ông Bush.
Khi thấy đối thủ sa hố, đảng Dân chủ tất nhiên vỗ tay. Họ chưa có một ai hoặc một chủ trương nào thống nhất, khả tín hay khả thi, về ngần ấy vấn đề đối nội và đối ngoại, nên nhiệt liệt hoan nghênh quyết định về bà Miers và ngồi nhìn thành đồng bảo thủ của ông Bush tan rã.
Điều ấy không sai.
Nhìn trên bề mặt, đảng Cộng hòa đang lãnh đạo Hành pháp, chiếm đa số tại lưỡng viện Quốc hội và có thế mạnh tại Tối cao Pháp viện, nhưng không phải là không có vấn đề vì cuộc chiến chống khủng bố chưa ngã ngũ mà nội bộ thuần nhất đang rạn nứt dần. Khi nói đến "phe bảo thủ" ta cần phân biệt khá nhiều phái. Từ vụ Katrina qua vụ Miers, ông Bush đang chuyển phe thành phái. Đã vậy, thành đồng ấy của ông đang lập chiến hào đả kích lẫn nhau và nay công khai than phiền khả năng lãnh đạo lẫn cá tính con người của ông.
Trong phe bảo thủ, ta có sự đối nghịch giữa phái giản chánh - chống bao cấp và muốn thu hẹp vai trò của bộ máy hành chánh công quyền - và phái tăng chi nhằm mở rộng sự can thiệp của chính quyền. Tôn chỉ "bảo thủ với từ tâm" của ông Bush biến thành bảo thủ nhưng bao cấp, mặc tình tăng chi để ban phát quyền lợi, bất chấp khiếm hụt ngân sách và các khoản chi mị dân - không chính đáng nhưng dễ hốt phiếu.
Trong phe bảo thủ, ta có phái bảo thủ kinh tế hay kinh doanh đối nghịch với phái bảo thủ tôn giáo. Phái bảo thủ kinh doanh rất khó chịu về sự ồn ào của phái bảo thủ tôn giáo, thí dụ như họ thất vọng với quyết định hạn chế nghiên cứu phôi bào (stem cell) vì lý do tín ngưỡng. Nhiều doanh gia đã kín đáo phản đối ông Bush và gọi phái bảo thủ tôn giáo là Taliban - chế độ giáo quyền Afghanistan đã dung dưỡng khủng bố.
Trong phe bảo thủ, ta có phái bảo thủ tôn giáo đối nghịch với phái hoài nghi vai trò của chính quyền liên bang. Phái bảo thủ tôn giáo đòi chính quyền liên bang phải can thiệp, qua luật lệ, để chấn hưng đạo đức hay phát huy tín ngưỡng. Ngược lại, phái kia không muốn chính quyền can thiệp vào các quyết định riêng tư của đời sống, thí dụ như việc trợ tử đang được Tối cao Pháp viện đưa ra thảo luận tuần này, dưới sự chủ tọa của Chủ tịch John Roberts.
Trong phe bảo thủ, ta có phái địa phương đối địch với phái trung ương. Phái địa phương gồm các tiểu bang miền Tây và miền Nam luôn luôn nghi ngờ trò xào nấu chính trị ở thủ đô, trong khi phái trung ương thì say đòn với hai lần thắng cử và muốn dùng thủ đô làm bàn đạp bành trướng ảnh hưởng. Phái địa phương e là phái trung ương lấn lướt vai trò của địa phương và rơi vào thói quen đổi chác chính trị rất tồi bại ở thủ đô.
Trong phe bảo thủ, ta còn có phái cổ chống phái tân. Phái tân bảo thủ đã đẩy mạnh việc phát huy dân chủ và xây dựng nền móng quốc gia ở các nước khác để diệt trừ khủng bố và bảo vệ quyền lợi của Mỹ trên toàn cầu. Phái bảo thủ cổ điển và thực tiễn thì cho rằng Hoa Kỳ chưa và sẽ không thắng tại Iraq, chi bằng nên dàn xếp giải pháp thỏa hiệp để rút quân về bảo vệ lấy thân ở nhà. Vả lại, cùng phe bảo thủ với nhau và cùng chia sẻ một sự hoài nghi chung về vai trò của chính quyền, cớ sao lại muốn thiết lập loại chính quyền ấy ở các xứ khác"
Cho đến nay, năm phe mười phái ấy vẫn kín đáo vận động vào chính quyền Bush và tin rằng nếu ông Bush còn mạnh thì chủ trương của họ còn có hy vọng được thực hiện. Vì vậy, dù có hoài nghi kết quả đối ngoại - khủng bố, Afghanistan, Iraq, Iran, Bắc Hàn, Trung Quốc, v.v… - họ vẫn trung thành ủng hộ tổng thống. Bây giờ, niềm tin ấy đang bị soi mòn…
Họ kết luận: ông Bush hết là giải pháp đắc lực và có thể đi từ thất bại này qua thất bại khác. Trong khi ấy, nhiều vị đại diện dân cử còn phải chuẩn bị cho cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, vào năm tới. Sự nghiệp chính trị của họ tại địa phương trở thành quan trọng hơn việc bênh vực Bush trên các hồ sơ thuộc loại toàn quốc. Họ sẽ buông tay, không ủng hộ những quyết định cải cách lớn lao mà đầy rủi ro của tổng thống.
Những vấn đề trên tất nhiên là đang ám ảnh ban tham mưu của Bush và họ phải chuẩn bị một phép lạ mới có thể đảo ngược tình hình. Vài người lạc quan thì cho là bà Miers sẽ gỡ rối cho thượng cấp bằng cách rút lui để ông Bush sửa sai. Nhưng chính ông Bush đã cho biết, bà nhỏ con mà là thứ dữ ("pitt bull đi giày số sáu"), nên bà sẽ chẳng lùi, nhất là khi đảng Dân chủ sẽ trải chiếu hoa cho bà bước lên.
Nếu không bị khủng hoảng trong nội bộ vì làn sóng ngầm của xu hướng cực tả, phản chiến, mị dân và vô trách nhiệm đang nổi lên từ cơ sở, lãnh đạo đảng Dân chủ có một cơ hội rất lớn để giành lại đa số trong Quốc hội vào tháng 11 năm tới và chuẩn bị cho cuộc tranh cử 2008. Họ càng có hy vọng ấy khi kinh tế Mỹ có thể bất ngờ sa sút vào năm tới, là điều chúng ta sẽ tìm hiểu sau.
Nhưng, một ông Bush vấp ngã sẽ khiến Hoa Kỳ không thể ứng phó với rất nhiều vấn đề trọng đại đang xảy ra trên khắp thế giới. Đảng Dân chủ có khả năng lãnh đạo và ứng phó hay không" E rằng không - hoặc chưa. Chẳng lẽ ông Bush tồn tại không vì khả năng của mình và vì đối phương còn kém mình rất xa!
Và đấy mới là vấn đề.

Chiến tranh Nga xâm chiếm Ukraine được nhân danh một trong số lý do: Cuộc xử lý nội bộ, nghĩa là, chiếm lại vùng đất thuộc địa. Lập luận này khiến cho thế giới tự do dẫn đầu bởi Hoa Kỳ và Âu Châu đứng ra ngoài vòng chiến, dù hô hào chống đối và giúp đỡ vũ khí, nhưng thái độ này mặc nhiên chấp nhận sự xâm lăng vô lý đối với tự do của một dân tộc và quyền thống nhất lãnh thổ của một quốc gia. Nguyên nhân ngấm ngầm rõ rệt là nỗi sợ hãi dù gọi là cân nhắc: hành động trực tiếp của thế giới tự do tham gia vào trận chiến giúp Ukraine chống lại Nga sẽ dẫn đến chiến tranh nguyên tử, khi xảy ra, ngày đó là ngày tận thế. Những lý do còn lại chỉ là những cách diễn đạt bên ngoài, không chỉ là nghệ thuật chính trị, mà còn là tác động sinh tồn. Quên rằng: Ngày tận thế không chỉ là nỗi sợ tuyệt đối của thế giới tự do, mà thế giới cộng sản và độc tài cũng tuyệt đối kinh hãi không kém. Nếu hai bên cùng sợ tận xương tủy, vấn đề còn lại là ván bài xì tố?
Khi các tiểu bang đã hợp pháp hóa việc sử dụng cần sa cho mục đích y khoa và giảm căng thẳng, và luật liên bang bây giờ cũng cho phép bán các sản phẩm chiết xuất từ cây gai dầu, thì cần sa và các hậu quả liên hệ được chú ý và nghiên cứu kỹ càng hơn. Sau đây là một số phân tích từ các nhà nghiên cứu, những người đã theo dõi sự phát triển của cần sa gần đây do trang The Conversation tổng hợp.
Trong hai ngày cuối tuần vừa qua, Học Viện Nghiên Cứu Chiến Tranh ISW đã liên tiếp đưa ra các bản đánh giá về cuộc chiến Ukraine và Nga hiện nay. ISW là một tổ chức think-tank phi đảng phái và phi lợi nhuận uy tín có trụ sở tại Washington, DC, quy tụ nhiều cựu tướng lãnh, viên chức cao cấp chính phủ và các học giả để cung cấp các nghiên cứu giá trị về quân sự và đối ngoại quốc tế qua các nghiên cứu, số liệu và phân tích đáng tin cậy. Các nghiên cứu của ISW cũng giúp cho chính phủ Hoa Kỳ có thêm nguồn cố vấn quan trọng trong các chiến dịch quân sự và đối phó với các nguy cơ liên quan đến an ninh quốc gia.
Nếu có ai nói với tôi, là một người có trái tim thú vật. Có lẽ tôi sẽ nỗi giận hoặc mặc cảm buồn rầu. Đây là một câu chửi. Ngụ ý tôi là một loại người giả hình, trong lòng đầy mưu toan ác độc, như một con thú không có nhân tính, ăn thịt luôn đồng loại. Tôi là một súc sinh. Ông Dasvid Bennett, Sr. là súc sinh? Ông là người có tim thú vật. Tim một con heo. Sự tưởng tượng của con người vô cùng tận. Nhiều sự tưởng tượng sau một thời gian trở thành thực tế. Ví dụ: Năm 1870, khi con người còn xa lạ với những chiếc tàu ngầm hữu hiệu, có khả năng lặn xuống biển sâu và đi lại như tàu trên mặt nước, nhà văn pháp Jules Verne đã xuất bản một cuốn truyện “Hai Mươi Ngàn Dặm Dưới Đáy Biển”, cho đến nay vẫn còn nổi tiếng. Hàng tỷ độc giả đã say mê khả năng tưởng tượng kỳ thú của tác giả. Một cuộc phiêu lưu dưới đáy biển sâu, hiểm nguy, gặp nhiều quái vật và vượt qua lắm trở ngại. Vào đầu thế kỷ 20, con người mới thực sự có chiếc tàu ngầm tương đương với chiếc tàu Jules Verne.
Về cơ bản, thực hành Phật giáo là sự rèn luyện trong hòa bình – và đạo đức Phật giáo đóng vai trò bảo vệ nền hòa bình này. Khi cảm giác thoải mái, hài hòa và bình tĩnh ngày càng sâu sắc với việc thực hành, chúng ta bắt đầu hiểu những lựa chọn đạo đức tác động đến trải nghiệm hòa bình của chúng ta như thế nào và chúng ta thấy rằng năm giới luật Phật giáo bảo vệ hạnh phúc của chúng ta.
Sự đóng góp của các tôn giáo vào nền văn hóa hòa bình là một chủ đề phức tạp, đòi hỏi sự nghiên cứu bằng óc phân tích. Sự phức tạp của các cuộc xung đột đã biến thành lĩnh vực bạo lực lớn hơn, đỉnh điểm là chiến tranh, một hiện tượng phổ biến. Giáo điều tôn giáo và cách tiếp cận theo chủ nghĩa chính thống đã gây ra những kết quả xấu xí nhất cho trái đất. Bất chấp tất cả những phát triển khoa học và công nghệ, sự chuyên chế của chiến tranh và chủ nghĩa tôn giáo chính thống vẫn không suy giảm.
Tôi đề nghị các bạn có khả năng dịch cứ dịch, thời gian sẽ loại bỏ những gì không đúng, không phù hợp, nhưng không cần phải chỉ trích nhau về bản dịch. Nếu thấy dịch không “đúng” theo ý mình, thì mình dịch một bản khác, “đúng” hơn, để người đọc giám định và học hỏi. Có câu, “chỉ trích là rẻ tiền, hành động là đầu tư.” Người đọc có trình độ đều có thể nhìn thấy: hành động vạch lá tìm sâu, lòng tỵ hiềm, và bóng tối âm u trong lời chỉ trích thiếu hiểu biết. Thay vì mất thời giờ vạch cỏ tìm gai, sao không trồng cây hoa, cây ăn trái?
Nga phụ thuộc khá nhiều vào SWIFT với khoảng hơn 300 ngân hàng và tập đoàn tài chánh hàng đầu sử dụng SWIFT, cũng như có người sử dụng cao hàng thứ nhì sau Mỹ khi hơn phân nửa các tổ chức tín dụng Nga sử dụng SWIFT. Trục xuất Nga khỏi SWIFT là cắt mạng "internet" về tài chánh, làm tê liệt các giao dịch, thanh toán của các tổ chức tài chánh của Nga với Châu Âu và thế giới, gây biến động và xáo trộn hệ thống tiền tệ và tài chánh của Nga.
Tô Vĩnh Diện là biểu tượng của anh dũng. Vì đã lấy thân mình ngáng cho khẩu đại bác nặng hai ngàn tấn không rơi xuống vực. Tuy nhiên sau giả tưởng Lê Văn Tám, dân Việt có quyền nghi hoặc: Có thật không hay chỉ là một tai nạn, một vấp ngã hay chính em bé Lê Văn Tám đã lớn lên rồi được cấp chứng minh thư tên là Tô Vĩnh Diện sinh năm 1928 ở xã Nông Trường, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa? Làm sao Triều đình Huế biết đặt những tên xã, huyện đậm chất Cách mạng như vậy vào năm 1928?
331 năm trước Công nguyên, ngay sau chiến thắng Gaugamèles khi tiến vào thành Babylone, đại đế Alexandre nói trước hàng quân: “Chiến thắng này cho vinh quang và tự do”. Võ Nguyên Giáp khó tuyên ngôn như vậy trước lịch sử, vì Điện Biên Phủ không đem đến tự do cho dân Việt mà ngược lại, áp đặt một chế độ tàn khốc. Tự do nào sau đấu tố phi nhân, sau Cải cách ruộng đất, nông dân chỉ có thể cày thuê cho hợp tác xã? Và tự do nào khi dân Bắc di cư rồi dân Nam chạy theo lính Cộng hòa mỗi một khi “giải phóng” vùng “tạm chiếm”? Võ Nguyên Giáp hẳn nhiên muốn giữ lại vế đầu của Alexandre đại đế: “Điện Biên Phủ là một chiến thắng vinh quang.” Tất nhiên và không ai chối cãi, vì lần đầu tiên da vàng chiến thắng da trắng và lần đầu tiên một thuộc địa thắng đế quốc. Nhưng phía sau tấm huân chương là vinh quang cay nghiệt: Đẩy cả một dân tộc vào chiến tranh, mục đích của Hồ Chí Minh là giành độc lập, thống nhất 3 kỳ, nhưng Hiệp định Genève chỉ cho Hồ Chí Minh Bắc kỳ, Nghệ Tĩnh và Quảng Bình,
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.