Hôm nay,  

Hiểu Sao Đây?

05/08/200600:00:00(Xem: 4817)

Trong xã hội văn minh, dân chủ, quyền mưu cầu hạnh phúc và quyền tự do đi lại là một trong nhiều quyền mà bất kỳ một chính phủ của đảng phái nào cũng phải thể hiện trong văn bản hiến pháp và tuyệt đối tôn trọng. Tại Việt Nam quyền ấy cũng đã có trong hiến pháp, nhưng không phải ai cũng hưởng được.

Tôi là Phạm Bá Hải, 38 tuổi, hộ khẩu thường trú tại 11/4 B, đường Phạm Văn Sáng, Xuân Thới Thượng, Hốc Môn, Tp.HCM. Hiện đang làm việc tại Ấn Độ cho công ty Mayur Uniquoters Ltd.

Trước khi về Việt Nam để tìm kiếm thị trường đồng thời mở một chi nhánh tại Sài Gon, tôi đã ở lại Singapore hai ngày cho các kinh doanh khác. Và ngày 18 tháng 7 năm 2006 tôi đến Sài Gòn.

Trước khi sang lại Singapore, ngày 27 tháng 7, 2006 theo lời mời của người bạn cũ là Lê Trí Tuệ, chúng tôi gặp nhau tại Quán ăn Non Nước, số 4 đường Võ Văn Tần. Khi ấy tôi mới biết nhóm gặp nhau là Khối Dân Chủ 8406, và mãi đến ngày hôm sau tôi mới hay tin rằng công an đã đặt máy quay phim dưới chiếc bàn ngay cửa ra vào của phòng hợp mặt.

Nỗi lo ngại của tôi đã được cụ thể khi anh an ninh Trương Hữu Tự, tại sân bay Tân Sơn Nhất, tỏ vẻ hoảng hốt gọi ngay người đưa tôi vào căn phòng có dòng chữ "Khu Vực Cấm Vào/ Restricted Area". Họ lập biên bản, nói rằng tôi chưa được phép xuất cảnh. Hỏi rằng lý do tại sao, anh Đại úy an ninh Nguyễn Thế Vinh chỉ biết trả lời rằng "làm theo lệnh cấp trên, mọi thắc mắc, giải thích, giải quyết, vui lòng đến Cục quản lý Xuất nhập cảnh, số 254 Nguyễn Trãi".

Thứ hai, ngày 31 tháng 7, tôi đến nơi công an yêu cầu để tìm lời giải thích. An ninh Vũ Đức Tây sau khi đọc xong đơn tôi nộp, lạnh lùng nói "trường hợp của anh, 2-3 ngày sau thì đến". Tôi giận quá, xoay ra phía bà con đang ngồi chờ làm hộ chiếu, nói rằng tôi là một thương nhân, làm việc ở nước ngoài. Một ngày chính quyền Việt Nam giữ tôi lại, là một ngày tôi gặp khó khăn với các đối tác. An ninh sân bay không giải thích, không giải quyết, đến đây thì lại hẹn vài ngày nữa..." Thấy tôi phân trần với bà con, anh ta gọi điện cho cấp trên.

20 phút sau, Đại úy an ninh Trần Việt Hà tiếp tôi. Tôi yêu cầu cung cấp văn bản chính thức, nêu lý do cụ thể tại sao không cho tôi xuất cảnh, qua đó tôi có lý do chính đáng báo về công ty. Đại úy Hà nói "không phải ai cũng bị chặn lại, trường hợp của anh là vì lý do an ninh quốc gia, hãy về và chờ văn bản quyết định gửi qua đường bưu điện".

Niềm hy vọng sớm giải quyết đã tắt ngấm. Cầm trên tay hộ chiếu hoàn toàn hợp lệ của nước CHXHCN Việt Nam cấp cho tôi hồi tháng 4/2006, với visa loại business/ No. of Entries: Multiple do Ấn Độ cấp, tôi cảm thấy không còn có gì bảo đảm được nữa. Họ dựa vào Nghị định 05/2000/NĐ-CP một cách mơ hồ để giữ tôi lại.

Trong Sách trắng về nhân quyền, Nghị định số 05/2000/NĐ-CP về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam, do Thứ trưởng Nguyễn Văn Ngạnh ký ngày 3/3/2000 là niềm tự hào của chính quyền CSVN. Chương I, mục 7 của sách trắng ấy viết: "... Nhà nước Việt Nam tạo mọi điều kiện và bảo đảm quyền tự do đi lại và tự do cư trú của công dân. Hiến pháp Việt Nam đã khẳng định: công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật. Việc đi lại và lựa chọn nơi cư trú do mỗi cá nhân quyết định phù hợp với nhu cầu, khả năng, hoàn cảnh của họ.

Những quy định pháp luật về việc đi lại, cư trú của công dân Việt Nam và người nước ngoài ở Việt Nam ngày càng được bổ sung, sửa đổi theo hướng cởi mở và tự do nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhu cầu phát triển giao lưu, quan hệ mọi mặt giữa Việt Nam và cộng đồng quốc tế. Các thủ tục hành chính gây phiền hà cho việc đi lại, cư trú của công dân đều bị bãi bỏ. Quyền tự do xuất, nhập cảnh của công dân Việt Nam đã được cụ thể hóa trong Nghị định 05/2000/NĐ-CP của Chính phủ ngày 3/3/2000....".

Cũng vì Nghị định 05/2000 này Bạch Ngọc Dương bị từ chối cấp hộ chiếu; cũng vì nghị định này chính quyền Việt Nam tự hào về sự tự do xuất nhập cảnh; cũng vì nghị định này, tôi bị chặn lại ngay tại sân bay. Hiểu sao đây"

Tôi rất mong nhận được lời cố vấn cũng như sự hỗ trợ pháp lý của các tổ chức, hội đoàn, cá nhân, giúp tôi mau sớm được ra đi để hoàn tất các hợp đồng kinh doanh từng ngày chờ đợi ở nước ngoài.

Sài Gòn, ngày 1 tháng 8 năm 2006.

Công dân Phạm Bá Hải.

Có nghiên cứu đã chỉ ra rằng sắc đẹp sẽ mang lại lợi thế trong các mối quan hệ, học tập và công việc. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu việc “không được đẹp đẽ” không chỉ là một điều bất lợi mà còn bị coi là phạm pháp? Từ giữa thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20, ở Hoa Kỳ từng có các luật gọi là “luật xấu xí” (ugly laws), cấm những người có vẻ ngoài “khó coi” xuất hiện ở các nơi công cộng.
Dự án 2025 đề ra những thay đổi sâu rộng trong toàn bộ chính phủ liên bang, đặc biệt trong chính sách kinh tế và xã hội, và vai trò của chính phủ và các cơ quan liên bang. Trong những thay đổi đó có cả việc cắt giảm tài trợ cho Bộ Tư pháp Hoa Kỳ (DOJ), tháo dỡ cơ quan điều tra FBI và Bộ An ninh Nội địa, hủy bỏ các quy định về môi trường và biến đổi khí hậu để giúp gia tăng sản xuất nhiên liệu như dầu hỏa, cùng loại bỏ các Bộ Giáo dục và Thương mại ra khỏi nội các chính phủ. Hãng thông tấn Associated Press có một bài tóm tắt song rành mạch những chương trình của Dự án 2025 đối nội cũng như đối ngoại, tại đường dẫn này. Bao gồm trong Dự án 2025 cũng gồm cả việc lập tức dùng Đạo luật nổi dậy năm 1807 để tổng thống có thể ra lệnh cho quân đội vào dẹp các vụ biểu tình chống đối chính phủ, cùng chỉ đạo Bộ Tư pháp truy lùng các đối thủ của ông Trump. Chính ông Trump cũng đã từng tuyên bố với những người ủng hộ ông là ông là người sẽ giúp họ phục hận. Theo luật hiện hành, quân đội không đượ
Nghèo đói là yếu tố quyết định mạnh mẽ của bệnh Lao. Môi trường sống và làm việc đông đúc và kém thông gió thường liên quan đến nghèo đói, tạo thành các yếu tố gây nguy cơ trực tiếp cho việc lây truyền bệnh lao. Suy dinh dưỡng cũng là một yếu tố nguy cơ quan trọng để bệnh phát triển. Nghèo đói lại cũng liên quan đến tình trạng kém kiến thức về sức khỏe và từ đó thiếu những sự bảo vệ sức khỏe trong đời sống hàng ngày dẫn đến nguy cơ tiếp xúc và truyền bệnh.
Trong hai ngày Thứ Bảy & Chủ Nhật 17 & 18/08/2024, tại Bowers Museum, Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt phối hợp cùng Trung Tâm Việt Nam Texas Tech University, Trung Tâm Nghiên Cứu Việt - Mỹ University of Oregon đã tổ chức hai buổi triển lãm và thảo luận về hai chủ đề: Cải Cách Ruộng Đất Miền Bắc Việt Nam và Cuộc Di Cư Năm 1954. Khoảng 1,000 lượt người đã đến tham dự hai sự kiện về lịch sử từ bảy thập niên trước. Có thể nói rằng lâu lắm rồi tại Thủ Đô Người Việt Tị Nạn mới có một sự kiện lịch sử được tổ chức với qui mô lớn và công phu như thế. Động lực nào đã khiến ba tổ chức chuyên nghiên cứu lịch sử cận đại Việt Nam cùng nhau tổ chức sự kiện này? Ông Châu Thụy, Giám Đốc Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt nói lời khai mạc, chào mừng mọi người đến với cuộc triển lãm và hội thảo, để cùng nhau ôn lại, nhìn theo những góc nhìn mới về hai sự kiện lịch sử vẫn còn ảnh hưởng đến người Việt cả trong nước lẫn hải ngoại đến tận ngày hôm nay.
Hiểu cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam đòi hỏi phải đặt nó trong một bối cảnh lịch sử rộng lớn hơn, thay vì xem xét nó một cách tách biệt. Được khởi xướng bởi Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1953, cải cách ruộng đất bị ảnh hưởng sâu sắc bởi các sự kiện biến động sau Thế chiến II. Sự kết thúc của cuộc chiến, nạn đói năm 1945, và cuộc đấu tranh sau đó để giành độc lập khỏi ách thực dân Pháp đã tạo ra một không khí cách mạng ở Việt Nam. Cuộc chiến tranh Pháp-Việt (1946-1954) đã làm tăng sự cấp bách cho những thay đổi xã hội và kinh tế triệt để khi Việt Minh tìm cách củng cố quyền lực và giải quyết các bất bình giữa người giàu và người nghèo do khai thác thực dân gây ra.
Cuối tuần vừa qua tôi đi dự hội thảo về Việt Nam tại Bảo tàng Bowers ở thành phố Santa Ana, thủ phủ của Quận Cam. Hai ngày hội thảo với hai chủ đề có liên quan với nhau là Cải cách Ruộng đất 1953-56 và Di cư 1954. Xong ngày đầu của hội thảo, đi ăn tối với một bạn sống ở Quận Cam từ năm 1978, khi biết chủ đề là về cải cách ruộng đất, bạn hỏi ngay: “Có hình Hồ Chí Minh cầm khăn khóc không?”. Bạn tôi ít quan tâm đến sinh hoạt cộng đồng nhưng cũng biết sử Việt vì là con trong gia đình bắc di cư 54, lớn lên tại miền Nam và sống ở đó cho đến khi vượt biển. Hình Hồ Chí Minh khóc và sự kiện bà Nguyễn Thị Năm đóng góp nhiều vàng cho Việt Minh rồi cũng bị đấu tố trong cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam từ 1953 đến 1956 có lẽ là những hiểu biết cơ bản của nhiều người Việt, dù không chứng kiến hay trực tiếp là nạn nhân trong sự việc. Những hình ảnh đó hôm nay cũng đã được trưng bày tại Bảo tàng Bowers và có trong bài nói chuyện của diễn giả tại hội thảo.
Chương trình Triển Lãm Và Thảo Luận Cải Cách Ruộng Đất ở Bắc Việt & Cuộc Di Cư 1954 vừa chấm dứt. Việt Báo đăng lại toàn bài của giáo sự Trần Huy Bích chiều Chủ Nhật ngày 18 tháng 8 tại Bowers Museum kể lại câu chuyện di cư của Ông và bối cảnh Bắc Việt những ngày tháng 8, 1954.
John Andrew Jackson vừa chào đời đã mang phận nô lệ, và được định sẵn là sẽ dành trọn kiếp sống tủi nhục trên những cánh đồng bông vải ở Nam Carolina. Nhưng, không cúi đầu trước số phận, Jackson đã thoát khỏi cảnh nô dịch, trở thành một diễn giả và văn nhân có ảnh hưởng lớn đến phong trào bãi nô. Ông cũng là nguồn cảm hứng cho tác phẩm kinh điển Uncle Tom's Cabin (Túp Lều của Chú Tom) của Harriet Beecher Stowe, xuất bản năm 1852. Cuốn tiểu thuyết nổi tiếng về chế độ nô lệ này được nhiều sử gia đánh giá là đã góp phần thúc đẩy cuộc Nội chiến của Hoa Kỳ.
(Little Saigon-VB) - Để đánh dấu 70 năm cuộc di cư Bắc Nam hậu Hội nghị Geneva; và cùng nhìn lại sự kiện Cải cách Ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam dưới thời VNDCCH với tác động, hệ lụy trên cả nước đối với quốc gia, dân tộc Việt, Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt, Trung Tâm Việt Nam ĐH Texas Tech, Trung Tâm Nghiên Cứu Việt-Mỹ ĐH Oregon phối hợp tổ chức Triển Lãm Thảo Luận Cải Cách Ruộng Đất ở Bắc Việt và Cuộc Di Cư 1954: Hai Biến Cố Thay Đổi Lịch Sử Việt Nam Hiện Đại vào hai ngày: Thứ Bảy, ngày 17 tháng 8: Cải cách ruộng đất và đấu tranh giai cấp ở miền Bắc Việt Nam, 1953-1957; Chủ nhật, ngày 18 tháng 8: Cuộc di cư của gần 1 triệu người từ miền Bắc vào miền Nam năm 1954 tại Bowers Museum 2002 N. Main St, Santa Ana, CA 92706.
Ở Hy Lạp thời cổ đại, Thế vận hội Olympics không chỉ là sự kiện để các vận động viên thể hiện sức mạnh và tài năng, mà còn là dịp để những tâm hồn thi ca tỏa sáng – họ sẽ mang những vầng thơ của mình xướng lên trước đám đông khán giả đang háo hức. Và thời đó, các vận động viên cũng thường cậy nhờ những thi sĩ nổi tiếng sáng tác những bài thơ ca ngợi chiến thắng vinh quang của mình. Sau đó, những bài thơ này sẽ được các dàn hợp xướng biểu diễn trong các buổi lễ long trọng. Có một thời văn-võ đã song hành với nhau như thế.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.