Hôm nay,  

Hiểu Sao Đây?

05/08/200600:00:00(Xem: 4759)

Trong xã hội văn minh, dân chủ, quyền mưu cầu hạnh phúc và quyền tự do đi lại là một trong nhiều quyền mà bất kỳ một chính phủ của đảng phái nào cũng phải thể hiện trong văn bản hiến pháp và tuyệt đối tôn trọng. Tại Việt Nam quyền ấy cũng đã có trong hiến pháp, nhưng không phải ai cũng hưởng được.

Tôi là Phạm Bá Hải, 38 tuổi, hộ khẩu thường trú tại 11/4 B, đường Phạm Văn Sáng, Xuân Thới Thượng, Hốc Môn, Tp.HCM. Hiện đang làm việc tại Ấn Độ cho công ty Mayur Uniquoters Ltd.

Trước khi về Việt Nam để tìm kiếm thị trường đồng thời mở một chi nhánh tại Sài Gon, tôi đã ở lại Singapore hai ngày cho các kinh doanh khác. Và ngày 18 tháng 7 năm 2006 tôi đến Sài Gòn.

Trước khi sang lại Singapore, ngày 27 tháng 7, 2006 theo lời mời của người bạn cũ là Lê Trí Tuệ, chúng tôi gặp nhau tại Quán ăn Non Nước, số 4 đường Võ Văn Tần. Khi ấy tôi mới biết nhóm gặp nhau là Khối Dân Chủ 8406, và mãi đến ngày hôm sau tôi mới hay tin rằng công an đã đặt máy quay phim dưới chiếc bàn ngay cửa ra vào của phòng hợp mặt.

Nỗi lo ngại của tôi đã được cụ thể khi anh an ninh Trương Hữu Tự, tại sân bay Tân Sơn Nhất, tỏ vẻ hoảng hốt gọi ngay người đưa tôi vào căn phòng có dòng chữ "Khu Vực Cấm Vào/ Restricted Area". Họ lập biên bản, nói rằng tôi chưa được phép xuất cảnh. Hỏi rằng lý do tại sao, anh Đại úy an ninh Nguyễn Thế Vinh chỉ biết trả lời rằng "làm theo lệnh cấp trên, mọi thắc mắc, giải thích, giải quyết, vui lòng đến Cục quản lý Xuất nhập cảnh, số 254 Nguyễn Trãi".

Thứ hai, ngày 31 tháng 7, tôi đến nơi công an yêu cầu để tìm lời giải thích. An ninh Vũ Đức Tây sau khi đọc xong đơn tôi nộp, lạnh lùng nói "trường hợp của anh, 2-3 ngày sau thì đến". Tôi giận quá, xoay ra phía bà con đang ngồi chờ làm hộ chiếu, nói rằng tôi là một thương nhân, làm việc ở nước ngoài. Một ngày chính quyền Việt Nam giữ tôi lại, là một ngày tôi gặp khó khăn với các đối tác. An ninh sân bay không giải thích, không giải quyết, đến đây thì lại hẹn vài ngày nữa..." Thấy tôi phân trần với bà con, anh ta gọi điện cho cấp trên.

20 phút sau, Đại úy an ninh Trần Việt Hà tiếp tôi. Tôi yêu cầu cung cấp văn bản chính thức, nêu lý do cụ thể tại sao không cho tôi xuất cảnh, qua đó tôi có lý do chính đáng báo về công ty. Đại úy Hà nói "không phải ai cũng bị chặn lại, trường hợp của anh là vì lý do an ninh quốc gia, hãy về và chờ văn bản quyết định gửi qua đường bưu điện".

Niềm hy vọng sớm giải quyết đã tắt ngấm. Cầm trên tay hộ chiếu hoàn toàn hợp lệ của nước CHXHCN Việt Nam cấp cho tôi hồi tháng 4/2006, với visa loại business/ No. of Entries: Multiple do Ấn Độ cấp, tôi cảm thấy không còn có gì bảo đảm được nữa. Họ dựa vào Nghị định 05/2000/NĐ-CP một cách mơ hồ để giữ tôi lại.

Trong Sách trắng về nhân quyền, Nghị định số 05/2000/NĐ-CP về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam, do Thứ trưởng Nguyễn Văn Ngạnh ký ngày 3/3/2000 là niềm tự hào của chính quyền CSVN. Chương I, mục 7 của sách trắng ấy viết: "... Nhà nước Việt Nam tạo mọi điều kiện và bảo đảm quyền tự do đi lại và tự do cư trú của công dân. Hiến pháp Việt Nam đã khẳng định: công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật. Việc đi lại và lựa chọn nơi cư trú do mỗi cá nhân quyết định phù hợp với nhu cầu, khả năng, hoàn cảnh của họ.

Những quy định pháp luật về việc đi lại, cư trú của công dân Việt Nam và người nước ngoài ở Việt Nam ngày càng được bổ sung, sửa đổi theo hướng cởi mở và tự do nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhu cầu phát triển giao lưu, quan hệ mọi mặt giữa Việt Nam và cộng đồng quốc tế. Các thủ tục hành chính gây phiền hà cho việc đi lại, cư trú của công dân đều bị bãi bỏ. Quyền tự do xuất, nhập cảnh của công dân Việt Nam đã được cụ thể hóa trong Nghị định 05/2000/NĐ-CP của Chính phủ ngày 3/3/2000....".

Cũng vì Nghị định 05/2000 này Bạch Ngọc Dương bị từ chối cấp hộ chiếu; cũng vì nghị định này chính quyền Việt Nam tự hào về sự tự do xuất nhập cảnh; cũng vì nghị định này, tôi bị chặn lại ngay tại sân bay. Hiểu sao đây"

Tôi rất mong nhận được lời cố vấn cũng như sự hỗ trợ pháp lý của các tổ chức, hội đoàn, cá nhân, giúp tôi mau sớm được ra đi để hoàn tất các hợp đồng kinh doanh từng ngày chờ đợi ở nước ngoài.

Sài Gòn, ngày 1 tháng 8 năm 2006.

Công dân Phạm Bá Hải.

Trong các cuộc xuống đường phản đối biện pháp siết chặt di trú và tăng ngân sách cho cơ quan ICE trên khắp nước Mỹ những tuần qua, hình ảnh dễ thấy là hàng hàng giáo sĩ đeo cổ áo thánh, giơ bảng, đứng giữa hàng rào cảnh sát và đoàn người di dân. Một trong những tiếng nói gây tranh luận mạnh là Giám mục Rob Hirschfeld, Giáo phận Episcopal New Hampshire. Ngày 18.1.2026, ông kêu gọi các giáo sĩ trong giáo phận “chuẩn bị cho một kỷ nguyên tử đạo mới”, thậm chí lo sẵn di chúc và giấy tờ hậu sự. Theo ông, đây không còn là thời của những tuyên bố trên giấy, mà là lúc “dùng chính thân thể mình để đứng giữa các thế lực của thế gian và những người dễ bị tổn thương nhất”.
Câu chuyện Samuel Green nhắc lại một bài học cũ mà vẫn mới - pháp luật có thể sai, nhưng dư luận đạo đức của xã hội – lương tri chung của nhà giáo, nhà báo, trí thức, giáo dân, độc giả – nếu đủ bền, vẫn có thể bẻ cong những bản án bất công. Khi một mục sư da đen bị tống ngục chỉ vì giữ Uncle Tom’s Cabin, chính các tiếng nói ấy, chứ không phải thiện chí của giới cầm quyền, đã dần mở cửa nhà tù cho ông. Giữa thời nay, khi ngôn ngữ và ý kiến dễ bị dán nhãn, bị siết trong tên gọi “chống woke” hay “đúng đắn chính trị”, bài học đó rất đáng nhớ: nếu xã hội không giữ cho mình một dư luận đạo đức độc lập – bảo vệ quyền đọc, quyền nói, quyền bất đồng – thì khoảng cách từ “quản lý ngôn luận” đến “vào tù vì một cuốn sách” không bao giờ xa như ta tưởng.
Belzoni, một thị trấn chừng hai ngàn dân ở Mississippi, lâu nay được quảng cáo là “Kinh đô Catfish của thế giới”. Nhưng với người da đen, cái tên ấy còn gợi lại một chuyện khác: một trong những vụ treo cổ thời dân quyền đầu tiên trên đất Mỹ ở thế kỷ này. Ngày 7 tháng 5 năm 1955, hai người thuộc tổ chức White Citizens’ Council ở địa phương nhắm thẳng vào ca-bin xe của Mục sư George Lee mà bắn; mấy viên đạn xé nát nửa phần dưới gương mặt ông. Lee là một trong những người đồng lập hội NAACP tại Belzoni, là người da đen đầu tiên ghi tên đi bầu được ở hạt Humphreys kể từ thời Tái thiết. Không những thế, ông còn vận động cho hơn trăm người da đen cùng thị trấn ghi tên vào danh sách cử tri, một con số đáng kể nếu nhớ tới kích thước nhỏ bé của Belzoni và bầu không khí bạo lực luôn treo lơ lửng trên đầu người da đen dám dùng lá phiếu của mình giữa thời Jim Crow
Khi Tổng thống Donald Trump bày tỏ mong muốn “mua” Greenland vào năm 2019, thế giới ban đầu tưởng rằng đó chỉ là một câu nói đùa. Nhưng khi Nhà Trắng xác nhận đây là đề nghị nghiêm túc, sự kiện lập tức trở thành tâm điểm của truyền thông quốc tế. Đến nhiệm kỳ sau, theo tường thuật của USA Today, ông Trump thậm chí đã tuyên bố trước Quốc hội rằng ông sẽ giành Greenland “bằng cách này hay cách khác” (“one way or the other”). Tuyên bố ấy không chỉ gây sốc vì tính bất ngờ, mà còn vì nó chạm vào một trong những vùng nhạy cảm nhất của địa–chính trị thế kỷ 21: Bắc Cực – nơi băng tan đang mở ra các tuyến hàng hải mới, tài nguyên mới và cạnh tranh chiến lược mới giữa Hoa Kỳ, Nga và Trung Quốc. Trong bối cảnh đó, câu chuyện Greenland không chỉ là một giai thoại chính trị. Nó là biểu tượng của sự va chạm giữa tham vọng cường quốc, quyền tự quyết của cộng đồng bản địa, và sự mong manh của các liên minh quốc tế.
Tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos, Thụy Sĩ, Thủ tướng Canada Mark Carney đã đọc một bài diễn văn hiếm hoi khiến cả hội trường – gồm các nhà lãnh đạo chính trị và giới kinh tài quốc tế – đồng loạt đứng dậy vỗ tay tán thưởng. Trong bài ph Câu trả lời của ông khởi đi từ hình ảnh một người bán rau. Mỗi sáng, ông chủ tiệm treo lên cửa kính tấm bảng “Vô sản toàn thế giới hãy đoàn kết lại”. Ông ta không tin câu đó – chẳng ai tin – nhưng vẫn treo lên để tránh phiền, để tỏ dấu quy thuận, để sống yên ổn. Và bởi vì mọi người bán hàng trên mọi con đường đều làm như thế, nên chế độ vẫn tồn tại – không chỉ nhờ bạo lực, mà còn nhờ sự tham gia của những người bình thường vào những nghi thức mà trong thâm tâm họ biết là giả. Havel gọi đó là “sống trong dối trá”. Sức mạnh của hệ thống không đến từ sự thật, mà từ sự sẵn lòng của mọi người đóng vai như thể nó là thật; và chỗ yếu của nó cũng từ đó mà ra: khi chỉ một người thôi không diễn nữa – khi người bán rau gỡ tấm bảng xuống – bức m
Đây là một cảnh báo nghiêm túc và rất đáng suy ngẫm về tính chính xác khoa học và trung lập địa lý trong các sản phẩm bản đồ - dữ liệu của Mekong River Commission. Việc Sông Hậu (Bassac) - một nhánh phân lưu mang gần 50% lưu lượng, đóng vai trò then chốt về phù sa, đa dạng sinh học và chống xâm nhập mặn - bị làm mờ hoặc “biến mất” trên nhiều bản đồ gần đây không còn là lỗi kỹ thuật thuần túy, mà đã chạm đến chuẩn mực khoa học và trách nhiệm thể chế.
Chưa bao giờ tôi nghĩ mình lại xúc động với thể loại phim tài liệu, cho đến khi xem bộ phim tài liệu “The General” của nữ đạo diễn Laura Brickman (Mỹ), đã làm cho tôi thay đổi suy nghĩ của mình. Tôi thật sự đã rất xúc động, thậm chí, cho đến khi được mời phát biểu về bộ phim ngay sau đó, tôi vẫn còn nghẹn giọng. Vì chỉ mới vài chục giây đầu của phim, những ký ức của tôi về xã hội Việt Nam tưởng chừng đã ngủ yên từ hơn 2 năm qua, sau khi tôi đào thoát khỏi Việt Nam, thì chúng đã sống dậy hầu như trọn vẹn trong tâm trí của tôi. Chúng rõ mồn một. Chúng mới nguyên. Khiến cho tôi cảm giác như mọi chuyện vẫn như mới ngày hôm qua mà thôi.
Theo tường thuật cập nhật của US politics live sáng 14 tháng 1 năm 2026, Hoa Kỳ đã bắt đầu cho di tản một phần nhân sự khỏi một căn cứ không quân lớn tại Trung Đông, làm dấy lên nhận định rằng Washington có thể sắp tiến hành một cuộc không kích nhắm vào Iran trong vòng 24 giờ tới. Căn cứ này đặt tại Qatar, từng bị Iran tấn công hồi năm ngoái sau khi quân đội Hoa Kỳ oanh kích các cơ sở liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran. Việc di tản nhân sự tại các căn cứ tiền phương thường chỉ diễn ra khi khả năng xung đột đã bước sang giai đoạn cận kề.
Khi nhiều nơi trên thế giới sửa soạn đón năm mới vào đầu tháng Giêng, thì ở không ít quốc gia và nền văn hóa khác, năm mới lại đến vào những thời điểm hoàn toàn khác. Dù là lịch Gregory, lịch âm, lịch dương–âm hay các hệ lịch cổ gắn với tôn giáo và thiên nhiên, việc đánh dấu một năm mới vẫn là tập tục lâu đời. Ăn uống, lễ nghi, sum họp gia đình và suy ngẫm về năm cũ là những điểm chung; khác biệt nằm ở nhịp thời gian và ý nghĩa tinh thần mà mỗi nền văn hóa gửi gắm vào khoảnh khắc ấy.
Năm 2025 là một năm sôi động của khoa học, khi những bước tiến lớn đã được thực hiện trong nhiều lĩnh vực, từ y học, thiên văn, khảo cổ đến công nghệ sinh học và trí tuệ nhân tạo. Những phát hiện và sự kiện này không chỉ mở rộng hiểu biết của con người về thế giới, mà còn đặt ra nhiều câu hỏi mới, thúc đẩy sự phát triển của khoa học và công nghệ trong tương lai.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.