Hôm nay,  

Cha Già Dân Tộc

23/03/200400:00:00(Xem: 13061)
Cha già dân tộc ở đây là Adenauer. Dân tộc, dân Đức sau Lò Thiêu. Một nước Đức mới. Và đó là tựa đề cuốn sách của Charles Williams, "Adenauer: The Father of the New Germany" (nhà xb Wiley, 584 trang $35.00). Dưới đây là tóm tắt bài điểm cuốn sách trên, của Gordon A. Craig, trên tờ NYRB số đề ngày 1 tháng 11, 2001.
Mùa thu năm 1944, Konrad Adenauer bị Gestapo bắt giữ vì bị tình nghi dính vào vụ gài bom tính làm thịt Hitler. Ông bị đưa đến nhà tù ở Brauweiler. Sau khi bị lột hết quần áo, những vật dụng dính vào người như thắt lưng, dây giầy, dao nhíp, ông bị tống vào một phòng giam chật hẹp không có hệ thống sưởi ấm; viên cai tù, chắc là cám cảnh cho thân phận ông, và cũng sợ rắc rối, đã ân cần căn dặn: Bẩy mươi tuổi đầu, sắp xuống lỗ rồi, đừng bầy đặt tự tử, chỉ làm khổ thằng này thôi.
Ở vào hoàn cảnh như trên, một câu khuyên như vậy là hợp tình hợp cảnh. Có điều, cả người khuyên lẫn người được khuyên, đều không ngờ, quãng đời còn lại của người tù già được "ông Trời" trao cho một trách nhiệm lớn lao: hai mươi năm trời tiếp theo sau, Adenauer, khi được giao chức vụ chancelor (thủ tướng), đã đưa đất nước vượt qua nỗi đau, và cũng là nỗi nhục, như là di sản của chế độ Nazi, và cùng với nó, Lò Thiêu, biến đổi nước Đức, từ kẻ thù bại trận thành đồng minh đáng kính trọng.
Theo Craig, nhan đề cuốn tiểu sử về ông, Người cha sáng lập nước Đức mới, thật xứng đáng đối với Adenauer. Williams, tác giả cuốn tiểu sử nói trên, viết, Adenauer sử sự trước đám đông như một nhà độc tài, nhưng thêm vô, trách nhiệm mà ông ôm lấy, trên toàn thể, đã được hoàn tất.
Konrad Adenauer sinh tại Cologne vào tháng Giêng năm 1876, là con trai thứ ba, cha phục vụ 15 năm trong quân đội Phổ, được huy chương dũng cảm tại Koniggrat, rồi cố gắng vượt lên, trở thành viên chức cao cấp tòa án trong chính quyền Phổ. Con cái trưởng thành qua một giáo dục rất nghiêm và rất ngoan đạo (Catô giáo), đây là nguồn gốc sự tự tin của Konrad ngay từ những năm mới lớn. Học luật tại Freiburg, ra trường và kiếm được việc làm (junior prosecutor) tại một văn phòng nhà nước tại Cologne, vào năm 1902.
Cùng năm đó, ông gặp Emma Weyer, thuộc một gia đình giầu có, và hai năm sau, hai người thành hôn. Một cuộc hôn nhân hạnh phúc, nhưng người chồng ngày càng cảm thấy không được thoải mái, với vai trò luật sư lương lậu có phần khiêm tốn của mình. Nhờ ảnh hưởng gia đình bên vợ, một phần, và nhờ tài tranh cãi nơi pháp đình, ông được đắc cử vào chức vụ hội đồng thành phố, mặc dù chẳng có một chút kinh nghiệm chính trị. Ông bỏ hết nghị lực vào công việc, và vào năm 1909, khi chức bí thư thứ nhất của thị trưởng trống chỗ, đảng Center Party đẩy ông ra nắm lấy.
Thời gian này, nước Đức đang trên đà lao vào cuộc chiến. Khi phải nhìn lại, ông nói, "... cuộc chiến 1914-18... là 'thành quả' của sự ngu xuẩn, của tất cả mọi người".
Williams rõ ràng cho rằng, Adenauer đã không hiểu Hitler, và luôn luôn coi chủ nghĩa cộng sản là một đe dọa thực sự cho một nước Đức như là ông tin tưởng. Đúng ra là vào tháng Chạp năm 1932, những ngày cuối cùng của chế độ Cộng hòa Weimar, ông viết thư cho người cầm đầu Center Party, cho rằng, giải pháp khẩn yếu, đó là coi việc gia nhập của Quốc xã vào chính quyền Reich [được] giải quyết theo đường hướng tích cực (positive sense). Nhưng cho dù nguyên nhân nào chăng nữa, tình huống ngày một vuột khỏi tầm nhìn của ông. Một khi Hitler lên cầm quyền, bản chất dã man của những chính sách của ông ta tự nó lộ ra, và Adenauer thấy rằng, để tránh nguy hiểm, càng thu mình lại chừng nào tốt chừng đó. Ông cũng tránh không liên lạc với lực lượng kháng chiến. Khi Carl Goerdeler, cựu thị trưởng Leipzig, và là nhân vật then chốt trong âm mưu chống lại Hitler muốn nhận ông vào nhóm, ông đã từ chối gặp. Tuy nhiên, chắc chắn tên của ông đã nằm trong một danh sách đen, của một người nào đó, và ông bị Gestapo bắt hai lần, một vào năm 1935, và lần sau vào năm 1944, khi xẩy ra vụ gài bom.
Rõ ràng là, trong khi thu mình lại, ông đã mơ tưởng tương lai của một nước Đức sau Hitler. Tuyệt vời, là đoạn Williams mô tả Adenauer miệt mài với hai tác phẩm "Rerum Novarum" và "Quaragesimo Anno", trong đó xác định đường hướng, thái độ của Nhà Thờ La Mã khi phải ứng xử với những vấn đề hàng ngày mang tính xã hội và chính trị. Willimas viết, Adenauer đã tìm kiếm một trụ cột mang tính lý thuyết và quyền thế, làm cơ sở cho những chính sách chính trị mang tính thực hành, trong tương lai. Thật rõ rệt, trong những năm chiến tranh do Hitler gây nên, ông đã suy tư hoài về một tương lai nước Đức, tương lai đó sẽ chẳng mắc mớ gì tới những điều ghê rợn đang trải ra trước mắt ông, và ông là người đầu tiên nhận ra rằng nước Đức tương lai phải được cai trị bởi nhiều nguyên lý (principles), và chính sách khác nhau, không như trong quá khứ.
Ngay khi lực lượng thắng trận cho phép đảng phái chính trị hoạt động ở Tây Đức, mặc dù tuổi đã cao, Adenauer lao vào chính trường. Tuy thoạt đầu ngần ngại, lực lượng đồng minh đã chọn ông, thay vì người cầm đầu đảng Xã hội Dân chủ (SPD: Social Democratic Party), Kurt Schumacher, một người can đảm nhưng giáo điều. Đối với Adenauer, quan trọng là tạo được liên minh giữa Hiệp hội Kytô Dân chủ, (CDU: Christian Democratic Union), tức Đảng của ông, với Hiệp hội Kytô Xã hội (Christian Social Union) bảo thủ hơn. Liên minh đã thắng cuộc bầu cử hạ viện năm 1949, và khả năng trở thành thủ tướng đối với ông đã bắt đầu ló dạng.

Những năm đầu trong chức vụ thủ tướng, ông giao kinh tế cho đồng sự Ludwig Erhard, với ông này, kế hoạch thị trường tự do (free market) đã có những thành công đầu tiên; còn Adenauer chú tâm vào ngoại giao. Ngay từ khởi đầu, nó đã mang tính cách mạng, bởi vì ông tin tưởng, cựu lục địa Âu Châu với những quốc gia của nó đã hết còn đáp ứng những nhu cầu và hy vọng của thế hệ hậu chiến, và chẳng thể còn những quyền lực lớn lao ở Âu Châu, theo nghĩa cũ của từ này. Mục tiêu của ông là một Tây Âu hợp nhất (integration), và trong lần viếng thăm Hoa Kỳ vào năm 1953, ông nói rõ ra điều này trong bữa ăn trưa tại Câu lạc bộ báo chí quốc gia: Mỗi thời đại có riêng những nhiệm vụ của nó. Tại Âu Châu, ý kiến của bất cứ một cá nhân hiểu biết nào, đều chỉ ra một điều, một ngày nào đó, sẽ có một Hiệp Chúng Quốc của Âu Châu. Không ai hiểu rõ điều này hơn là những người trẻ tuổi của lục địa của chúng tôi."
Hy vọng một Âu Châu hợp nhất đã gặp một cú dội, vào năm 1954, khi Quốc hội Pháp từ chối chấp thuận Cộng đồng Phòng thủ Âu Châu (The European Defence Community). Trong một cuộc nói chuyện bị ký giả báo Der Spiegel nghe lén, ông tỏ ra lo sợ, chuyện nước Pháp rẫy ra sẽ đưa tới hậu quả, là sự sống lại chủ nghĩa quốc gia và trọng binh tại Đức. Nhưng Anh và Mỹ đã thuyết phục Pháp bằng lòng cho Đức gia nhập Nato, như là một thành viên với đầy đủ quyền hạn của nó. Đây là một thắng lợi ngoại giao quá sức lớn lao. Một tờ báo ở Thụy Sĩ đã cho rằng, không thể tưởng tượng được, về những thành quả như vậy, nếu nhìn lại một nước Đức vào năm 1949, và cũng không thể ngờ được chuyện, Adenauer đã lèo lái đất nước trở thành một quốc gia theo đồng minh. Nhưng rất nhiều người Đức lại tỏ ra lo ngại, điều này càng làm cho chuyện thống nhất nước Đức tỏ ra xa vời nếu không muốn nói là không tưởng.
Trong một cuộc thảo luận nhằm phê chuẩn hiệp ước Nato, Audenauer đã thuyết phục những người chỉ trích ông, rằng một chính sách về sức mạnh dựa trên tái vũ trang và liên kết Tây Phương, sau cùng sẽ khiến cho Liên Xô nhận ra sự thực, là việc thống nhất nước Đức là không thể tránh được. Viễn mơ đấy, nhưng không phải không có cơ sở. Khi tới Moscow vào năm 1955, nhận thấy nước chủ nhà tỏ ra khinh khỉnh khi ông cố gắng nêu ra vấn đề. Thực sự, nhằm thuyết phục Liên Xô bảo đảm việc thả mười ngàn tù nhân chiến tranh vẫn bị cầm giữ tại đây, Adenauer đã đồng ý ký một thoả ước nhằm tái lập liên lạc ngoại giao giữa Liên Bang Đức với Liên Xô, một thoả ước làm đồng minh "bực mình", bởi vì nó có thể đưa tới hệ quả là thừa nhận Cộng Hoà Dân Chủ Đức.
Lo sợ của đồng minh trở nên hiển hiện khi xẩy ra cuộc khủng hoảng kênh đào Suez, và cuộc nổi dậy tại Hung vào năm 1956, cho thấy, những thế lực Tây Phương tỏ ra bất lực, không có hiệu quả. Liên Xô nắm lấy cơ hội này, và vào tháng Mười Một năm 1958 Nikita Khruchchev gửi một tối hậu thư cho London, Paris và Washington, cho biết, chính sách bốn quyền lực chia nhau kiềm soát Berlin đã hết thời và một chính sách mới phải đưa ra trong vòng 6 tháng, nếu không Liên Xô sẽ xé lẻ, ký hiệp ước với Cộng Hoà Dân Chủ Đức. Tối hậu thư gây khủng hoảng kéo dài tới 1962, và đây là thời kỳ cho thấy Adenauer ở vào những phút vinh nhục nhất trong cuộc đời chính trị của ông. Ông tỏ ra không tin cậy tất cả những đồng minh, và thường xuyên, sự mất tin tưởng này hoàn toàn không dựa trên những chứng liệu có cơ sở. Ông tỏ ra chắc chắn, ngoại trưởng Dulles của Mỹ, trong những ngày cuối cùng của mình, đã muốn một cuộc chiến tranh nguyên tử. Rằng thủ tướng Anh, Macmillan, là một "thằng ngu đần", chỉ khoái được Liên Xô nịnh bợ. Rằng tổng thống Kennedy, mà ông gọi là "điểm gặp gỡ giữa một tên hải quân bé con và một gã hướng đạo sinh Catô La mã", đã giấu không thông báo cho ông biết những cuộc trao đổi với Liên Xô. Cuối cùng chỉ còn trông cậy được vào tướng de Gaulle, vào tháng giêng năm 1963 ông ký một hiệp ước với nhà lãnh đạo nước Pháp, mà ông coi là người bảo đảm cho tương lai của Âu Châu.
Sự kiện không mất Berlin vào thời kỳ này phụ thuộc vào những yếu tố phức tạp. Một trong số đó, là De Gaulle từ chối ký kết hoặc thoả thuận, dưới sức ép của tối hậu thư. Nhờ vậy mà đồng minh đã không đi đến quyết định đành nhả Berlin cho phe đỏ. Nhưng phần nhiều là do những hành động của Khruschev: bỏ hội nghị thượng đỉnh vào naam 1960, một cuộc họp chắc là sẽ đem đến cho ông hầu hết những gì mà ông đòi hỏi về Berlin, trong đó bao gồm việc kiểm soát Berlin sẽ thuộc về Đông Đức; quyết định chiếm một nửa bằng cách dựng Bức Tường vào tháng Tám 1961, và lầm lẫn tiếp theo sau, khi từ bỏ chiến thuật nhắm vào Đức và lao vào cuộc phiêu lưu đặt hoả tiễn tại Cuba. Tuy nhiên, vai trò của Adenauer không phải không quan trọng, nếu nói về những yếu tố quyết định. Ông tiếp tục góp phần vào việc kiểm soát Tây Bá Linh, do khăng khăng chống lại những kế hoạch nhằm thoả hiệp với Liên Xô, vẽ chi li những giải pháp của riêng ông, tuy thật khó thực hiện nhưng nhằm kéo dài thời gian, luôn cả sự đe dọa, nếu tình hình trở nên quá sức tồi tệ, ông sẽ xé lẻ nói chuyện thẳng với Khruschev, cho đồng minh ra rìa... đã khiến mấy ông bạn phát hoảng!
Trong thời gian đó, ông tiếp tục làm mưa làm gió trên chính trường trong nước. Cuộc bầu cử toàn quốc vào năm 1957 còn thành công lớo lao hơn so với năm 1953. Nhờ kinh tế phát triển, tăng 7% mỗi năm, nhờ kế hoạch sửa đổi hưu bổng cho người già, trong 87% người đi bầu, liên minh của ông (CDU/CSU) chiếm 50.2%. Chưa từng có một độc đảng chiếm được số phiếu cao như vậy, trong lịch sử bầu cử tại Đức. Và tác giả cuốn tiểu sử về ông, Williams, viết: Vào tuổi 81, Adenauer là vị hoàng đế không vương miện của nước Đức. Nhưng đây là chiến thắng cuối cùng của ông.
Sự kiện, ông coi như chẳng có gì xẩy ra, khi Bức Tường "ô nhục" được dựng lên, đã gây bất mãn trong dân chúng, trong khi đối thủ của ông là Willy Brandt đã đích thân tới Berlin to tiếng phản đối. Những tấn công mang tính cá nhân của ông vào Brandt cũng gây ra những hậu quả đáng tiếc. Và trong cuộc bầu cử vào năm 1961, ngay sau khi bức tường được dựng lên, số phiếu dồn cho đảng của ông xuống dốc thê thảm, mất quyền kiểm soát đa số. Những sự kiện tiếp theo sau đó càng làm ông mất uy tín, và sau cùng đảng đã chọn người thay ông, là Ludwig Erhard.
NQT (tanvien.net)

Giữa khoảng không mênh mông của vũ trụ, Trái Đất hiện lên như một phép màu xanh thẳm. Hành tinh ấy có nước trong lành, bầu khí quyển dịu dàng, đất đai màu mỡ, rừng núi, sông hồ, biển cả và muôn loài cùng chung sống. Con người sinh ra, lớn lên trong vòng tay bao dung của thiên nhiên, uống từng giọt nước, hít từng hơi thở, bước đi trên mặt đất và được nuôi dưỡng bằng phù sa, nắng gió. Vậy mà, đáng buồn thay, chính loài người — đứa con được cưu mang nhiều nhất — lại đang từng ngày làm tổn thương người mẹ đã nuôi mình.
Các khoa học gia tại Đại học New York theo dõi hoạt động não của 23 người thông thạo cả Anh ngữ lẫn Tây Ban Nha. Họ nhận thấy những mẫu hoạt động thần kinh gần như giống nhau khi người tham dự biến một danh từ từ số ít sang số nhiều trong cả hai thứ tiếng. Phát hiện này cho thấy não không nhất thiết phải dựng nên một hệ thống ngữ pháp riêng cho từng ngôn ngữ. Thay vào đó, nó có thể dùng chung một cơ chế căn bản, rồi điều chỉnh cơ chế ấy theo quy tắc của mỗi tiếng.
Một cuộc thăm dò mới của CNN do SSRS thực hiện cho thấy tỷ lệ ủng hộ chung đối với Tổng thống Donald Trump đã sụt giảm mạnh xuống còn 34%, ngang bằng mức thấp nhất trong sự nghiệp của ông. Ngoài ra, con số kỷ lục 73% người trưởng thành tại Mỹ cho rằng ông chưa dành đủ sự quan tâm cho những vấn đề quan trọng nhất của đất nước. Cuộc thăm dò, được thực hiện từ ngày 23 đến 27 tháng 7 năm 2026, cho thấy sự bất mãn lan rộng trên nhiều nhóm nhân khẩu học và các vấn đề khác nhau. Cử tri da trắng đóng vai trò then chốt trong thành công chính trị của ông Trump suốt hơn một thập kỷ qua. Theo truyền thống, Trump thường đạt kết quả tốt hơn nhiều trong nhóm cử tri da trắng so với toàn thể cử tri. Mức độ ủng hộ của nhóm này cũng đã giảm đáng kể trước thềm cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026. Tỷ lệ ủng hộ ròng của ông Trump—được tính bằng cách lấy tỷ lệ ủng hộ trừ đi tỷ lệ không ủng hộ—trong nhóm cử tri da trắng đang ở mức âm 20, mức thấp nhất từng được ghi nhận.
Con người từ thuở hồng hoang đã không chỉ sống bằng điều mình biết. Người mẹ sinh con chưa biết đứa trẻ mai này sẽ ra sao. Người gieo hạt chưa lường được kết quả vụ mùa. Kẻ xuống thuyền vượt biển không thấy được bờ bến. Người ta vẫn cắm cúi đi. Không vì cái biết, mà vì lòng tin. Biết thuộc về ánh sáng, tin thường khởi sự nơi tối tăm. Tin một điều có nghĩa là chấp nhận điều ấy có thật. Tin một người là trao vào tay người ấy một phần sinh mệnh của chính mình. Tin một lý tưởng là lấy đó làm lẽ sống, làm phương hướng.
Vào những năm 1520, 1530, có một người tên Esteban de Dorantes, người đời quen gọi là Estevanico, đã một mình băng qua sa mạc mênh mông của vùng đất nay là Texas, New Mexico và Arizona — trước khi người Anh dựng nên Jamestown năm 1607 gần một thế kỷ, và trước khi đoàn di dân Pilgrim đặt chân lên Plymouth năm 1620 tròn một trăm năm. Ông sinh ra ở Azemmour, một thị trấn ven Đại Tây Dương của Ma Rốc, bị bắt làm nô lệ, đưa sang Tây Ban Nha rồi vượt biển sang Tân Thế Giới. Trong một chuyến viễn chinh bi thảm khiến gần như cả đoàn bỏ mạng, Estevanico là một trong số ít người sống sót. Ông học được nhiều thứ tiếng bản địa và trở thành một trong những người đầu tiên của "Old World" đặt chân xuyên suốt miền nam nội địa của nước Mỹ sau này.
Trung Quốc coi thương mại là một trong những thành tựu nổi bật của Cơ chế Hợp tác Lancang – Mekong (LMC), với tổng kim ngạch giữa Trung Quốc và năm quốc gia hạ nguồn đạt khoảng 500 tỷ USD trong năm 2025. Tuy nhiên, đằng sau con số ấn tượng đó là một thực tế đáng lo ngại: Lợi ích từ thương mại không được phân bổ đồng đều. Chỉ trong năm 2025, Việt Nam đã ghi nhận mức thâm hụt thương mại với Trung Quốc lên tới 115,6 tỷ USD, trong khi Campuchia và Thái Lan cũng chịu mức nhập siêu rất lớn.
Trong môi trường chính trị thực tế đương đại, LM chính trị là lẽ sống duy nhất của mỗi tổ chức và cá nhân người Việt quốc gia. Không có LM mỗi tổ chức hay thực thể riêng biệt không khác nào một đàn cá nhốt trong ao tù, không bao giờ thoát ra biển khơi để lớn mạnh vùng vẫy hầu trở thành một lực lượng chính trị đủ sức đối trọng với đảng CSVN.
Việc một hồ sơ tình báo được giải mật thường khiến dư luận có cảm tưởng rằng toàn bộ sự thật cuối cùng đã được phơi bày. Nhưng trên thực tế, ý nghĩa của việc giải mật không đơn giản như vậy. Một tài liệu được công bố chỉ cho thấy những gì đã từng được thu thập hoặc ghi nhận tại một thời điểm nhất định; nó không mặc nhiên xác nhận rằng mọi nội dung trong đó đều đã được kiểm chứng hoặc trở thành kết luận chính thức.
Con người từ muôn thuở đã không ngừng truy vấn, định nghĩa, tìm cách gọi tên chữ yêu. Yêu là rung động, là thương, là thích, là say mê, là quyến luyến, là nhớ nhung — là thứ men riêng trong cõi lòng. Triết gia/nhà tâm lý học Erich Fromm cho rằng yêu là một nghệ thuật phải học. Fromm xem yêu không chỉ là cảm xúc, mà là thực hành, chăm sóc, trách nhiệm, tôn trọng, hiểu biết.
Khi nói đến quyền lực tại Hoa Kỳ, người ta thường nghĩ trước hết tới Tổng Thống, Quốc Hội, các cuộc bầu cử, hay những cuộc vận động ngoài đường phố. Nhưng trong lịch sử Hoa Kỳ, còn có một quyền lực lặng lẽ âm thầm hơn, mà ảnh hưởng nhiều khi kéo dài hơn cả một đời tổng thống: Tối Cao Pháp Viện.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.