Hôm nay,  

Văn Phong và Kinh Phật

08/10/202605:27:00(Xem: 520)
blank

Văn Phong và Kinh Phật
 

Nguyên Giác

Nói về chữ "văn phong" hẳn là có những định nghĩa rất mực uyên bác trong sách vở. Một thời tôi đã từng học những thứ rất phức tạp trong các chứng chỉ Triết học, và bây giờ tôi đã quên sạch. Trong đầu tôi không còn chữ nào (không phải là vô niệm, như kiểu các Thiền sư nói; mà thực tế là vô tự, tức là không có chữ nào hiện lên trong tâm, và tôi không nhớ tôi đã tu tập kiểu nào mà lại ra như thế). Tôi cũng không phải chuyên gia về ngữ học. Nơi đây tôi chỉ muốn nói theo kiểu rất mực học trò thời mới lớn (may ra còn vài chữ), rằng văn phong là cái giọng mình nhận ra sau một cuộc nói chuyện với một ai đó. Thí dụ, bạn nhớ rằng hồi sáng, bạn nói chuyện gì đó với một thiếu nữ trên chuyến xe buýt, rồi bạn nhớ tới giọng Huế của cô này, tiếng cô cười dòn tan và dịu dàng khi từ biệt xuống trạm. Đọc một cuốn sách cũng thế, khi bạn gấp sách lại, bạn sẽ nhớ tới giọng riêng của từng tác giả và không khí truyện. Thí dụ, văn phong trong truyện Bố Già hiển nhiên là khác với trong Hoàng Tử Bé.
 

Tôi lớn lên ở Sài Gòn của nhiều thập niên trước, trong một thời mà sách là cánh cửa mở ra những chân trời rộng lớn nhất. Hiển nhiên là cánh cửa duy nhất, vì đó là thời chưa có TV và Internet. Những năm trung học của tôi gắn liền với niềm vui đọc sách và một thú vui đặc biệt: đọc sách là lắng nghe, và nhận ra giọng điệu riêng của từng nhà văn, từng tác phẩm. Mỗi cuốn sách là một dòng sông văn học khác nhau để tôi ngụp lặn và tắm gội. Hôm nay tôi đắm mình trong sương khói thiên cổ kỳ bút rất Việt Nam trong Truyền Kỳ Mạn Lục của cụ đồ Nguyễn Dữ thời thế kỷ 16. Ngày mai tôi lại theo chân những mưu lược biến ảo của danh tác Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa của La Quán Trung, ngạc nhiên trước truyện kể tài thao lược của các bậc anh hùng và quân sư Trung Hoa. Rồi một ngày khác, các trang giấy đưa tôi bay theo những chuyến phiêu lưu thần kỳ trong Tây Du Ký của tác giả Ngô Thừa Ân, say mê trước trí thông minh, sự nghịch ngợm và năng lực biến hóa vô tận của Tôn Ngộ Không, một kiểu Phật tử rất là ngang bướng (À ha, tôi nhớ rồi, nhớ rằng chữ “vô tự” nằm trong phần cuối truyện này; hóa ra mình vô tình chôm chữ này của người xưa). Và không thể thiếu những đêm dài cùng các trang truyện võ hiệp của  Kim Dung, nơi giang hồ, nghĩa khí, tình yêu và lý tưởng bụi đời hòa quyện thành một thế giới vừa thực vừa mộng. Từ rất sớm, tôi đã học được rằng văn chương không chỉ kể chuyện mà còn có một âm vang riêng của một thế giới của chữ; và niềm vui của tôi trong khi đọc là lắng nghe.
 

Vậy đó, tôi lớn lên theo các trang sách thời đi học, nơi mỗi tác phẩm là một dòng sông có tiếng nói riêng, mang một màu nước trong trẻo riêng và có những nhịp chảy khác biệt. Tói đã lắng nghe tiếng thì thầm riêng của mỗi dòng sông. Truyện Kiều của Nguyễn Du là dòng sông lấp lánh ánh trăng, vừa đẹp đẽ vừa man mác buồn. Câu thơ uyển chuyển, tinh tế, thấm đẫm nỗi đau nhân thế khiến người đọc như nghe tiếng lòng của những kiếp người trôi nổi. Về sau, tôi ngờ vực cụ Nguyễn Du muốn viết văn phản chiến vì gia đình họ Nguyễn và gia đình bên vợ đều tòng quân theo hai chiến tuyến kình nhau của phò và chống Tây Sơn, nhưng cụ Nguyễn cứ phải làm thơ lục bát loanh quanh về cô Kiều vì sơ suất là sẽ bị chém đầu ba họ. Rồi văn phong ngậm ngùi trong Chinh Phụ Ngâm qua tài dịch của Đoàn Thị Điểm lại là dòng sông của nhớ thương và cô quạnh, với những làn sóng cảm xúc dạt dào, nơi tiếng lòng của người chinh phụ ngân lên như khúc nhạc buồn không dứt. Trong khi đó, truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu mang vẻ mộc mạc và khỏe khoắn như một con sông phương Nam. Văn phong giản dị, chân thành, đề cao nghĩa khí và đạo làm người, làm lòng người trẻ thêm tin yêu những điều ngay thẳng.

Đối với một cậu học trò mê đọc sách, được đi từ dòng sông tài hoa của Nguyễn Du sang dòng sông bi cảm của Đoàn Thị Điểm, rồi đến dòng sông nghĩa hiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một niềm vui lớn. Chính từ những chuyến du hành ấy, tôi bắt đầu nhận ra rằng văn chương không chỉ kể những câu chuyện khác nhau, mà còn cất lên những giọng nói khác nhau của tâm hồn dân tộc.
 

Thế rồi, trong làn sóng học Phật các năm cuối thập niên 1960s, cậu học trò tình cờ nhặt được bản dịch tiếng Việt mỏng manh của cuốn Tiểu Chỉ Quán. Tôi đã tự ngồi thiền trên căn gác gỗ tối lờ mờ, trong những lúc thư thả giữa các giờ học thi Tú Tài, ngỡ ngàng bước vào một thế giới hoàn toàn mới --- nơi của tịch lặng, êm đềm, tách biệt khỏi những ồn ào phố thị bên ngoài. Không còn là việc đọc những dòng chữ trên giấy, từng hơi thở ra vào tựa như từng trang sách ngát hương lặng lẽ của tâm mình. Đó là hạnh phúc thuần khiết, sâu thẳm mà tôi chỉ tới bên hàng hiên (hiển nhiên, chưa gọi là vào nhà, nói theo kiểu sách Thiền, may ra chỉ mới nhìn thấy vết chân trâu).

Khi bước chân vào đại học, thế giới đọc của tôi lại mở rộng thêm. Tôi đặc biệt yêu thích những tác phẩm dịch của Bùi Giáng. Trong các bản dịch của nhà thơ họ Bùi, ngôn ngữ Việt Nam bỗng trở nên phóng khoáng, tài hoa và đầy nhạc tính. Cùng lúc đó, tôi tìm thấy nơi các bản dịch của Ni sư Trí Hải một giọng văn sáng sủa, chuẩn xác và thấm đẫm tinh thần Phật học, giúp những tư tưởng sâu xa trở nên gần gũi và dễ tiếp cận.

Đó cũng là thời gian tôi khám phá những văn phong học thuật rất khác nhau. Nơi Giáo sư Nguyễn Văn Trung hay Lê Tôn Nghiêm, tôi gặp một lối lý luận mang đậm ảnh hưởng phương Tây: chặt chẽ, biện chứng, phân tích từng khái niệm đến tận nền tảng của nó. Đọc các tác giả ấy giống như bước vào một cuộc đối thoại triết học với những câu hỏi không ngừng được đặt ra và khảo sát.
 

Trong khi đó, nơi Linh mục Kim Định và Nguyễn Văn Thọ, tôi lại bắt gặp một thế giới tư tưởng đậm chất Đông phương. Các tác phẩm của họ không chỉ lập luận mà còn gợi mở, không chỉ phân tích mà còn dẫn người đọc trở về với những tầng sâu của văn hóa và trực giác. Tư tưởng hiện ra như một dòng chảy liên tục giữa triết học, lịch sử và tâm linh. Dù vậy, tôi ngờ vực về sự chính xác của lý luận Việt Nho và Triết Lý An Vi của LM Kim Định, có thể Thầy đã bác bỏ Hán Nho theo một kiểu quá nhiều suy đoán vì tự hào dân tộc Việt (?). Dĩ nhiên, hạnh phúc là tôi được học, được đọc quá nhiều, sau này tôi nghĩ tới hình ảnh cậu Thiện Tài Đồng Tử trong Nhập Pháp Giới của Kinh Hoa Nghiêm, phải đi học khắp giang hồ với 53 lần tham vấn. Dĩ nhiên, tôi không giỏi như thế, và cũng không có hạnh nguyện lớn như các vị trong Kinh.

Và rồi có những tác giả mang một giọng văn rất Việt Nam. Thầy Nhất Hạnh viết với sự trong sáng, bình dị nhưng thấm sâu vào lòng người như lời tâm tình bên tách trà; trong đó, Bông Hồng Cài Áo của Thầy là một đoản văn bất tử, dẫn tới ca khúc bất tử do Phạm Thế Mỹ phổ nhạc. Trong khi đó, nhà văn Hồ Hữu Tường lại đưa tôi đến những suy tư vừa dân tộc vừa nhân loại, vừa thực tế vừa lý tưởng; bất kỳ ai cũng phải suy nghĩ khi đọc Phi Lạc Sang Tàu của nhà văn học Hồ. Đọc các tác giả này, tôi nhận ra rằng tư tưởng không nhất thiết phải khoác chiếc áo hàn lâm; nó có thể cất tiếng bằng ngôn ngữ của làng xã, của lũy tre, của đời sống và của kinh nghiệm Việt Nam.
 

Nhìn lại, tôi thấy mình đã trưởng thành nhờ được tắm trong nhiều dòng sông văn học khác nhau. Mỗi tác giả, mỗi văn phong, mỗi truyền thống tư tưởng đã để lại một dấu ấn riêng. Và có lẽ món quà quý giá nhất mà việc đọc mang lại là khả năng nhận ra vẻ đẹp của sự đa dạng, đồng thời nuôi dưỡng lòng biết ơn đối với tất cả những người đã làm giàu cho đời sống tinh thần của mình qua từng trang sách.

Khi rời Việt Nam để sống nơi hải ngoại, tôi lại bước vào một dòng sông khác của đời mình: dòng sông kinh điển Phật giáo. Những năm tháng miệt mài đọc kinh trên SuttaCentral đã mở ra trước mắt tôi một thế giới vừa cổ kính vừa tươi mới. Các bản kinh Nikāya hiện lên với giọng văn giản dị, trực chỉ, sáng trong như nước nguồn. Ở đó không có những lớp trang sức của văn chương, nhưng từng câu, từng đoạn đều mang một sức mạnh đặc biệt, đưa người đọc trở về với sự tỉnh thức của hiện tại.
 

Trong khi làm báo, viết truyện ngắn (dĩ nhiên, mỗi năm phải viết một truyện tình rất mực lâm ly bi đát cho báo Xuân), làm thơ, và viết về Phật giáo nhiều thập niên qua, tôi nhận ra rằng không có dòng sông văn học nào thực sự rời khỏi mình. Các dòng sông vẫn lặng lẽ chảy trong từng trang viết. Có lúc, trong những đoạn văn đầy cảm thức về thân phận con người, tôi bắt gặp thấp thoáng dư âm của Nguyễn Du. Đó là sự cảm thông đối với những nỗi khổ niềm đau của kiếp người, là cái nhìn dịu dàng nhưng không né tránh sự thật. Khi viết về những biến động của xã hội hay những cuộc đời lưu lạc, dường như dòng nước của Truyện Kiều vẫn còn ngân vang đâu đó.

Có lúc, những bài báo hay khảo luận của tôi lại mượn thêm giọng lưỡi sắc bén của Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, với thói quen nhìn sự việc từ nhiều góc độ, khảo sát động cơ, nhân duyên và bối cảnh đằng sau các sự kiện. Không phải để bày trò mưu lược, mà để thấy như kiểu các thầy bàn nhìn thấy từ vô số điều kiện chằng chịt. Từ Tây Du Ký, có lẽ tôi học được tinh thần lên đường. Bên dưới nhiều bài viết Phật giáo vẫn thấp thoáng hình ảnh người lữ hành không ngừng vượt núi băng sông để tìm chân lý. Hành trình đến Tây Trúc của Đường Tăng và hành trình đi tìm tự tâm của người học Phật, xét cho cùng, đều là những cuộc viễn du. Thế rồi, chữ “vô tự” (không một chữ nào hiện ra trong tâm) thường trực ở với tôi (cũng có thể, vì tôi thường ngồi uống trà với Thầy Thường Chiếu ở Đồng Ông Cộ và nhiễm thói quen lặng lẽ của Thầy). Trong khi đó, từ Kim Dung, tôi nhận được tình yêu đối với con người. Trong thế giới võ hiệp, thiện và ác rất hiếm khi hoàn toàn tách biệt; con người luôn phức tạp, vừa đáng trách vừa đáng thương.
 

Còn từ kinh Phật, đặc biệt là các bản kinh Nikāya, tôi học được sự giản dị của ngôn ngữ. Sau tất cả những vẻ đẹp của văn chương, điều còn lại là nói cho rõ sự thật, nói bằng tâm từ bi, và viết để giúp người đọc bớt khổ đau hơn một chút.

Nhìn lại cả hành trình, tôi thấy mình như một người đã đi qua nhiều dòng sông. Có dòng sông Việt Nam, có dòng sông Trung Hoa, có dòng sông tư tưởng Đông phương và Tây phương, có dòng sông kinh điển Phật giáo. Tất cả đã gặp nhau trong đời sống chữ nghĩa của tôi. Không một nguồn nước nào là vô ích. Mỗi ngụm nước đã nuôi lớn một phần tâm hồn, mỗi dòng sông đã để lại một chút phù sa trong văn phong và suy nghĩ của tôi. Vì thế, khi cầm bút hôm nay, tôi chỉ còn một cảm xúc đơn giản: lòng biết ơn. Biết ơn những tác giả đã viết, những dịch giả đã chuyển ngữ, những bậc thầy đã khai mở con đường, và biết ơn tất cả những nguồn nước văn học, tư tưởng và tâm linh mà tôi đã có duyên được uống trong suốt cuộc đời mình.

Thói quen mê đọc của tôi hạnh phúc nhất là từ khi có điện thoại di động. Tôi ngả lưng xuống giường, chuẩn bị ngủ là mở điện thoại ra đọc Kinh Phật qua các trang Accesstoinsight, SuttaCentral...  Kinh Phật cũng có nhiều văn phong khác nhau. Đức Phật thuyết pháp cho nhiều hạng người nghe khác nhau, do vậy văn phong chuyển biến khác nhau.
 

Vào thời Đức Phật, Ấn Độ chưa có kỹ thuật in ấn. Kinh điển được truyền miệng từ thầy sang trò. Phần đông dân chúng, đặc biệt là phụ nữ, nông dân và thợ rừng, không biết đọc biết viết. Vì vậy, khi giảng dạy cho những người nghe này, Đức Phật nói bằng lời đơn giản, dễ nhớ và dễ thuộc lòng. Văn phong dễ hiểu này nổi bật là Kinh Pháp Cú (Dhammapada). Mỗi bài kệ chỉ gồm vài câu ngắn, dùng hình ảnh quen thuộc như hoa, nước, ngựa, người chăn bò hoặc bóng theo hình. Các bài kệ thường đi sau một sự tích, trình bày một ý đạo đức rõ ràng: tránh điều ác, làm việc lành, giữ tâm trong sạch. Người nghe chỉ cần nghe vài lần là có thể ghi nhớ.

Tương tự, văn phong dễ hiểu cũng là nhóm 112 kinh trong nhóm Kinh Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Đây là những lời dạy được nữ cư sĩ Khujjuttarā ghi nhớ rồi đọc lại cho năm trăm cung nữ của hoàng hậu Sāmāvatī. Nghe kinh không phải là các học giả Bà La Môn mà là những phụ nữ (có lẽ ít học) trong cung đình mong muốn tu tập. Vì vậy, các bài kinh thường ngắn gọn, mở đầu bằng câu “Đức Thế Tôn đã nói như vậy”, sau đó trình bày một giáo lý đơn giản rồi kết bằng một bài kệ tóm tắt. Văn phong rất ít lý luận.

Trong khi đó, nhóm Kinh Nhật Tụng thời Đức Phật sinh tiền lại có văn phong rất khó; đó là hai phẩm cuối của Kinh Tập trong Tiểu Bộ. Hai phẩm cuối của Kinh Tập (Sutta Nipāta) là Phẩm Tám (Aṭṭhakavagga) và Phẩm Con Đường Đến Bờ Kia (Pārāyanavagga) có văn phong rất cô đọng và khó hiểu. Nhiều học giả xem đây là nhóm văn học cổ nhất của Phật giáo. Những người nghe pháp trong hai phẩm này là các đạo sĩ và Bà La Môn trí thức. Họ đã được đào tạo nhiều năm về triết học, nghi lễ tế tự và biện luận. Vì vậy, Đức Phật không chỉ dạy những nguyên tắc đạo đức căn bản mà còn bàn đến những vấn đề rất sâu sắc như chấp thủ, tà kiến, bản ngã và sự giải thoát tối hậu. Và trong văn phong đó là những dòng thơ có cú pháp rất khó, ít dùng. Nhóm 36 vị Bà La Môn sau khi đối thoại ở hai phẩm này đều chứng quả A La Hán ngay khi kinh thuyết xong.
 

Trong nhóm Kinh Tập đó, một trong những kinh làm tôi kinh ngạc sâu xa là Kinh Snp 4.9, Kinh Māgandiya Sutta. Khi đọc lời Đức Phật dạy về đừng nắm giữ kiến chấp, đừng bám víu vào cái được thấy, được nghe, được nghĩ tưởng, tôi luôn luôn nhớ tới thời mới học Phật ở Việt Nam khi nghiền ngẫm Bát Nhã Tâm Kinh. Dù văn phong khác nhau, Snp 4.9 là ngôn ngữ cổ xưa, văn phong của cú pháp rất mực phức tạp từ Pali, một bên là lời rất mực cô đọng, âm vang đọc theo âm Hán-Việt khẳng định như sấm sét, nhưng cả hai đều dường như chỉ về cùng một hướng: buông bỏ sự nắm bắt đối với mọi khái niệm và mọi hình bóng của tâm.

Lúc ấy, tôi chợt nhìn lại cuộc đời đọc sách của mình. Từ Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Lục Vân Tiên, đến Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, Tây Du Ký, truyện võ hiệp của Kim Dung, Tiểu Chỉ Quán của nhà Thiền, rồi những trước tác triết học Đông Tây và kinh điển Phật giáo, tất cả dường như là những dòng sông khác nhau. Mỗi dòng sông là một thế giới văn học riêng.
 

Nhưng càng đi xa, tôi càng thấy các dòng sông ấy đều xuôi về một biển lớn. Dòng chảy siết là vô thường để rồi sẽ hòa vào nhau là một tánh nước, đó là vô ngã, nơi không có gì gọi là tôi hay của tôi, nơi không dòng sông nào tách biệt nữa. Tất cả đều cùng một tánh nước. Khi các dòng sông hòa vào biển lớn, nơi đó, nước chính là Tánh Không, vì không dòng sông nào tách riêng nữa. Khi chữ đã vào biển lớn, chữ sẽ không còn nữa, đó là trang sách của Vô Tự Chân Kinh, khi không còn chữ nào bám vào tâm nữa. Và thực sự, rất nhiều ngày tôi cũng tự thấy không có một tâm nào hiện ra để cho chữ bám vào. Phải chăng, đó là cốt tủy của Tâm Kinh. Xin nói rằng, tôi không biết. Nhưng chuyện này sẽ nói sau. Nghĩa là, xin chờ hồi sau sẽ rõ.
 

THAM KHẢO:

Kinh Snp 4.9: https://suttacentral.net/snp4.9/en/mills    

 



Ngày 02/07/2020, Đài Deutsche Welle (Làn sóng Đức, DW) đã có bài về tình trạng đàn áp những tiếng nói chỉ trích chính phủ trong thời gian trước Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam. Đài DW đã nêu trường hợp ông Nguyễn Bắc Truyển và vợ là bà Bùi Thị Kim Phượng làm điển hình cho tình trạng của các tù nhân chính trị và chính sách „phạt cả đám“ của Việt Nam. Trong bài, Hiệp định Thương mại Tự do và vai trò Chủ tịch của Hội đồng EU của chính phủ Đức được xem là một trong những đòn bẩy trong việc cải thiện tình trạng nhân quyền Việt Nam.
The fourth of July, hay July fourth. Người Mỹ thường gọi tắt của American Independence Day. Năm nay Hoa Kỳ kỷ niệm ngày Lễ Độc lập tròn 244 năm (7/4/1776 - 7/4/2020). Nước Mỹ tuy lịch sử lập quốc không lâu đời, nhưng đã nhanh chóng vượt lên đứng đầu bảng xếp hạng các cường quốc trên thế giới. Tính đến ngày Lễ Độc Lập năm nay, tôi đã được đón sự kiện trọng đại này đúng mười lần. Tôi đến Mỹ hơi muộn, khi đang trong độ tuổi về hưu nếu còn ở Việt Nam. Nhưng nước Mỹ khác hẳn, chính phủ khuyến khích người dân đi làm cho đến tuổi 70. Có người mạnh khỏe, sau 70 tuổi họ tiếp tục làm việc cho tới khi thật sự muốn nghỉ ngơi.
Một ngày vào năm 1674, tại thành phố Dutch của Delch, Anton van Leewenhoek lấy một ít bựa ở khe răng và nhìn qua kính hiển vi mà ông ta mới chế. “Tôi đã nhìn thấy, với nhiều ngạc nhiên…rất nhiều vi sinh vật, nhỏ li ti đang di chuyển.”Đó là vi khuẩn và Leewenhoek là người đầu tiên nhìn thấy chúng, mặc dù ông ta không biết rằng một số những vi sinh vật đó có thể gây ra bệnh. Khi ông ta báo tin này cho hội Royal Society of England, một tổ chức các khoa học gia, một số hội viên lúc đầu không tin ở ông. Nhưng sau đó Hội đề cử ông làm hội viên. Các nghiên cứu về sau này của ông đã khiến ông trở thành nổi tiếng và ông được Nữ Hoàng Anh và Vua nước Nga viếng thăm
Tình hình đại dịch vi khuẩn corona trong tuần qua trở nên bi quan và u ám khi Brazil, Hoa Kỳ và Trung Quốc gia tăng số người bị nhiễm bệnh và tử vong lên tới mức báo động. Thậm chí Bác Sĩ Anthony Fauci là thành viên của nhóm chống vi khuẩn của Bạch Ốc đã cảnh báo Mỹ có thể sẽ chứng kiến 100,000 người bị bệnh mỗi ngày. Trong lúc đó chuyện Quốc Hội CSTQ đã thông qua luật an ninh quốc gia Hong Kong và Putin thưởng tiền cho Taliban giết lính Mỹ và Anh tại Afghanistan cũng làm dư luận chú ý.
Vào ngày Lễ Độc Lập, hầu hết chúng ta đều tụ họp bạn bè tại bãi biển hay hồ tắm, năm nay chúng ta ăn mừng có khác chút đỉnh.Đại dịch vi khuẩn corona đã lan truyền khắp nơi, và số người bị truyền nhiễm tăng nhanh như hỏa tiễn với 3 tiểu bang đông dân nhất đang đạt kỷ lục số trường hợp mới bị lây hàng ngày. Trong khi điều này không cần thiết phải bãi bỏ các kế hoạch của bạn cho ngày lễ, có nhiều bước bạn có thể làm để giữ mình và người khác được khỏe mạnh trong mùa lễ này.
Người phụ nữ da trắng được ghi hình chĩa súng vào một phụ nữ da đen và ngưởi con gái 15 tuổi của bà này tại bãi đậu xe của tiệm Chipotle tại Michigan đã bị truy tố trọng tội tấn công, trong tội 4 năm tù. Video của vụ đối đầu tại thành phố Orion Township tiểu bang Michigan, đã được đăng lên Facebook vào tối Thứ Tư, 1 tháng 7. Người chồng của người phụ nữ da trắng này cũng đã bị truy tố trọng tội tấn công. The Detroit Free Press đã xác nhận cặp vợ chồng này Jillian Wuestenberg, 32 tuổi, và Eric Wuestenberg, 42 tuổi. Takelia Hill kể cho báo Detroit News rằng cuộc đối đầu bắt đầu khi Wuestenberg va chạm cô con gái 15 tuổi của mình, Makayla Green. Green và Hill yêu cầu lời xin lỗi, và bắt đầu gọi Wuestenberg là "không biết gì" và "kỳ thị chủng tộc". Khi Wuestenberg đi bộ tới xe cô, chồng cô, đã ra khỏi xe hơi và nói với Hill và Green rằng, “Các người nghĩ các người là ai?”
Đại dịch vi khuẩn tại Hoa Kỳ đã không được điều hướng theo chiều hướng tích cực, nhưng nó có thể quân bình việc khao khát tái mở cửa với các đề phòng có thể giúp làm giảm sự lây lan của vi khuẩn corona, theo Bác Sĩ Anthony Fauci, giám đốc Viện Dị Ứng và Bệnh Truyền Nhiễm Quốc Gia, cho biết trong cuộc phỏng vấn với JAMA hôm Thứ Năm, 2 tháng 7 năm 2020. 34,634 trường hợp mới bị lây Covid-19 và 419 người thiệt mạng được báo cáo hôm Thứ Năm. Tất cả các trường hợp là từ 50 tiểu bang, Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn và các lãnh thổ của Mỹ. Có ít nhất 2,721,961 trường hợp bị lây vi khuẩn corona tại Hoa Kỳ kể từ lúc bắt đầu đại dịch đến nay, theo dữ liệu của Đại Học Johns Hopkins cho biết, và ít nhất 128,496 người thiệt mạng.
NEWPORT BEACH, Calif. – Chấm dứt nhiều ngày suy đoán, các viên chức hôm Thứ Năm, 2 tháng 7 năm 2020 đã tuyên bố rằng tất cả các bãi biển được điều hành bởi Quận Cam sẽ bị đóng suốt cuối tuần Lễ Độc Lập, theo bản tin của Đài KABC cho biết hôm Thứ Năm. Tổng Giám Đốc Quận Frank Kim và Giám Sát Viên Lisa Bartlett đã xác nhận việc đóng cửa đã lên kế hoạch, gồm các bãi đậu xe ở bãi biển vào Thứ Bảy và Chủ Nhật, ngày 4 và 5 tháng 7. Các bãi biển bị ảnh hưởng gồm: Aliso, Capistrano, Salt Creek, Baby Beach, Bayside, Camel Point, Poche, Strands, Table Rock, Thousand Steps, Treasure Island và West Street.
New York – Tỉ lệ thất nghiệp tại Hoa Kỳ đã giảm xuống còn 11.1% khi nền kinh tế có thêm 4.8 triệu việc làm trong tháng 6 là cao kỷ lục, theo Phòng Phân Tích Lao Động cho biết hôm Thứ Năm, 2 tháng 7 năm 2020, theo CNN Business cho biết. Dữ liệu nói trên là tốt hơn nhiều so với các nhà kinh tế tiên đoán, và tỉ lệ thất nghiệp cũng giảm hơn mức dự đoán. Đây là tháng thứ 2 liên tiếp gia tăng sau khi hơn 20 triệu việc làm bị xóa sạch trong tháng 4 trong lúc phong tỏa vì đại dịch. Việc tái mở cửa nền kinh tế đang giảm gánh nặng lên thị trường lao động căng thẳng của Mỹ. Nhưng sau 2 tháng gia tăng mạnh, nền kinh tế Mỹ vẫn còn mất 14.7 triệu việc làm kể từ tháng 2. Dù tỉ lệ thất nghiệp đã giảm từ 14.7% trong tháng 4, nó vẫn còn cao hơn bất cứ thời điểm nào trong thời kỳ Đại Suy Thoái.
Các nỗ lực để ngăn chận Đảng Cộng Sản cai trị TQ không áp đặt thêm uy quyền lên Hong Kong đã không có hiệu quả. Giờ đây TQ đã đưa ra luật an ninh quốc gia mới cho lãnh thổ này, các cường quốc thế giới đang tìm cách trừng phạt Bắc Kinh. Cựu thực dân của Hong Kong là Anh Quốc, đang dọn đường cho hơn 3 triệu người Hong Kong có thể định cư tại Anh và xin nhập tịch. Úc đang xem xét việc cung cấp thiên đường an toàn cho cư dân Hong Kong. Và Đài Loan đã mở cửa văn phòng mới để giúp người Hong Kong chạy trốn. Tại Thủ Đô Washington, Quốc Hội đã đệ trình dự luật trong tuần này để nới lỏng cho người Hong Kong được xếp hạng tị nạn và được phép vào Hoa Kỳ.
Đài truyền thông Đức „Deutsche Welle“ („Làn sóng Đức“) ngày hôm nay 02.07.2020 loan tin nhà nước Cộng sản Vietnam gia tăng đàn áp những người đối kháng, tranh đấu cho nhân quyền, dân chủ. Trước thềm đại hội của đảng Cộng sản Việt Nam, công an bắt giữ và đàn áp các nhà phê bình và bất đồng chính kiến. Đức và Liên minh Âu châu (EU) có khả năng gây áp lực Việt Nam trong khuôn khổ hiệp định thương mại tự do giữa Âu Châu và Việt Nam. Phóng viên Rodio Ebbighausen đặc biệt chú trọng đến số phận của luật gia Nguyễn Bắc Truyển và đã tiếp súc với vợ ông, bà Bùi Thị Kim Phượng. Mới đây bà được thăm chồng bà tai trại tù An Diệm, Quảng Nam. Bà kể cho phóng viên Đức, bà rất lo lắng cho sức khỏe của chồng, ông Truyển bị đau tim, đau dạ dầy, không được chữa trị dù có làm đợn xin. Ông còn bị giam biệt lập.
Sở cảnh sát Garden Grove nhắc nhở cộng đồng để có được ngày lễ July 4 an toàn, trong dịp lễ này, chỉ có thể đốt pháo bông vào ngày Thứ Bảy, 4 tháng Bảy, từ 10:00 giờ sáng đến 10:00 giờ tối và có ký hiệu 'California State Fire Marshal.'
Theo các hãng thông tấn và truyền hình lớn của Hoa Kỳ, vào ngày 27/6/2020, Đảng Dân Chủ Quận Hạt Orange đã thông qua nghị quyết khẩn cấp yêu cầu Ban Giám Sát Quận Hạt đổi tên Phi Trường John Wayne (tài tử đóng phim cao-bồi Miền Tây) vì ông này theo chủ nghĩa Da Trắng Là Thượng Đẳng và những tuyên bố mù quáng (bigot). Sự kiện gây ngạc nhiên cho không ít người. Bởi vì đối với các kịch sĩ, ca sĩ, nhạc sĩ, văn-thi-sĩ, họa sĩ, nhất là các tài tử điện ảnh…họ đều có cuộc sống cởi mở, đôi khi phóng túng, buông thả và ít liên hệ tới chính trị. Và nếu có bộc lộ khuynh hướng chính trị thì thường là cấp tiến (Liberal). Vậy tại sao John Wayne lại “dính” vào một vụ tai tiếng như thế này?
Hơn 10 năm trước, chính xác là vào hôm 28 tháng 6 năm 2009, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều có tâm sự (đôi điều) nghe hơi buồn bã: “Khi tiếp xúc với những người nông dân, tôi thường xuyên hỏi về tổng thu nhập mỗi tháng của một khẩu trong một gia đình họ là bao nhiêu. Dù rằng tôi biết họ đang sống một cuộc sống vô cùng vất vả nhưng tôi vẫn kinh ngạc khi nghe một con số cụ thể: ‘Tổng thu nhập một tháng trên một khẩu của chúng tôi là 40.000 đồng.’ Bạn có choáng váng khi mỗi tháng, một người trong mỗi gia đình nông dân chỉ có 40.000 đồng để chi tiêu tất cả những gì họ cần không?
Cổ nhân thường nói: “bệnh tòng khẩu nhập, họa tòng khẩu xuất”. Thật vậy, ăn uống bừa bãi, không hạp vệ sinh sẽ dẫn đến bệnh tật đủ thứ, đôi khi cũng bỏ mạng như chơi. Còn ăn nói cẩu thả, điêu ngoa, thêu dệt, chê bai người nầy, kích bác người khác thì cũng có thể, một ngày nào đó sẽ chuốc lấy họa vào thân mà thôi!
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.