Hôm nay,  

Hai thành phố biển

04/11/202308:07:00(Xem: 2732)
Truyện

city

Ngày thứ tư. Một ngày trước khi lên máy bay trở về thành phố của mình, nàng lăn ra ốm. Cảm thôi, nhưng cảm nặng. Bắt đầu bằng một đêm không ngủ nghẹt cứng mũi và hôm sau dật dờ và mệt như ngàn tảng đá đè nặng lên người. Chắc chắn không thể lết lên máy bay nổi vào hôm sau. Sao thế nhỉ! Vì nàng ngại không bật sưởi mấy đêm? Vì nàng điệu mặc váy ngắn không mang vớ dài hay quần legging ba ngày qua? Vì khí hậu thành phố này đỏng đảnh thất thường độ ẩm cao buổi sáng lành lạnh mà vừa nắng lên đã nóng hực và màn đêm vẫn trùm một chiếc chăn lạnh lên căn nhà cũ nơi bạn nàng đang thuê trọ? Vì mấy câu thơ của anh? Không rõ. Chỉ biết cơn bệnh đến nhanh như một cái lật tay.
    Nàng gọi điện để dời vé máy bay. Hai chuyến, phải, từ đây về đến nhà cần đến hai chuyến bay. Họ ở hai đầu đất nước rộng lớn này. Bốn múi giờ. Hơn sáu ngàn cây số. Chỉ có một chuyến bay cho dời với một mức giá đắt khủng khiếp, chuyến còn lại thậm chí còn không dời được. Chỉ có cách bỏ vé, mua vé mới theo dạng vé giờ chót. Rời rã, mệt mỏi, và bất lực. Chẳng lẽ vì anh, trong tiềm thức, muốn giữ nàng lại bằng một cách thức vô hình nào đó? Hay vì trong tiềm thức nàng đang tìm cớ ở lại để gặp anh? Nàng gọi điện cho văn phòng anh và được trả lời rằng anh sẽ chỉ trở lại vào đầu tuần sau. Vậy là anh không nói dối, không né tránh gặp nàng. Nhưng mà, đầu tuần sau? Nàng lẩm nhẩm. Ở lại một ngày, hai ngày, thậm chí ba ngày, nàng cũng sẽ không gặp được anh. Mà anh cũng sẽ không gặp nàng. Nàng không thể tìm cách thiết lập một cuộc gặp mặt ba hay bốn người khác, còn anh sẽ không gặp nàng một mình. Điện thoại anh tắt máy, đang ở một đất nước khác, không “roaming.” Sẽ không có cách nào liên lạc, và có liên lạc được anh cũng sẽ không trả lời. Vì anh không thể trả lời.
    Tuyệt vọng, nàng nghĩ, thôi, có lẽ đành bỏ vé. Nếu thế, đây sẽ là lần đầu tiên trong lịch sử 25 năm đi lại bằng máy bay mà nàng lỡ chuyến bay vì bệnh. Thôi thì, cái gì cũng có lần đầu. Chấp nhận số phận, qua đêm nay tính tiếp. Nàng uống hai viên thuốc Ny QuickCold của Vicks bạn nàng đưa, ngủ li bì một ngày một đêm. Hôm sau, như con búp bê vỡ vụn được dán hờ lại bằng mấy miếng băng keo, nàng lục cục dồn chút sức tàn, đưa con gái ra sân bay, về nhà. Giữa họ, đã chấm dứt vĩnh viễn, nàng biết.
    Về nhà, mở máy tính, google map, một địa chỉ hiện lên. Thẫn thờ. Đó là nơi nàng muốn đến nhất ở thành phố này. Và cuối cùng sau chuyến đi 5 ngày, đã trở về nhà, nàng vẫn chưa đến đó. Địa chỉ văn phòng anh. Không phải nhà riêng. Khi máy bay vừa hạ cánh, ngồi trên taxi đi vào thành phố, trong làn gió đêm mát lạnh, nàng căng lồng ngực ra mà hít thở không khí của thành phố anh. Không khí mà anh thở từng ngày. Đường phố nào nhìn cũng thân quen, vì anh chắc chắn đã từng đi qua những con đường này. Ngay cả những ngôi nhà cũng có vẻ thân quen, đặc biệt, và nổi trội, chỉ vì, đây là thành phố của anh. Thành phố của anh. Trái tim nàng rộn lên khi nhìn thấy tên đường có văn phòng anh. Nhưng, đó là một con đường rất dài, và nàng đã không đến được địa chỉ đó. Y như, trong một giấc mơ của nàng, nàng trôi, trôi ngày càng xa. Và, “anh hẹn em nhất định gặp, lần sau”, như nàng đã viết sau giấc mơ đó.
    Nàng biết, chuyến đi này phải diễn ra. Từ khi nàng bắt đầu quen anh, nàng đã muốn đến thăm anh. Chuyến đi lẽ ra đã diễn ra, thậm chí trước khi họ biết nhau. 2018. 2019. 2020. Nhưng chưa bao giờ thành hiện thực. Từ khi họ còn yêu nhau thắm thiết đến khi họ cách trở như hôm nay. Chuyến đi có một ý nghĩa đặc biệt với nàng. Nàng muốn gặp anh nhưng quyết định để cho duyên phận, cho trời quyết định. Không liên lạc được với anh, nàng chỉ định ngày đi vì một phút hứng khởi. Mua vé vào ngày hôm sau. Lăn ra ốm tuần sau đó, mà nàng cười cười bảo bạn nàng là “nếu chỉ chậm vài ngày thôi là đã không quyết định đi rồi.”
    Chuyện tình của họ, thật ra, không phải đang nồng nàn, mà đang đi vào đoạn kết. Tình yêu, ở trạng thái nồng cháy nhất, thường chỉ sống được khoảng 3 năm. Bây giờ đã là cuối năm thứ ba vắt vẻo sang đầu năm tư. Trái ngang. Giấu giếm. Lén lút. Vợ anh phát hiện ra chuyện tình của họ vào khoảng năm thứ hai khi họ đang thắm thiết nhất. Anh nói lời chia tay. Trái tim nàng tan vỡ và 6 tháng phủ đầy nước mắt. Rồi họ lại liên lạc lại, nhưng không được nói chuyện yêu đương nữa. Bằng một cách nào đó, anh thuyết phục được người vợ ngây thơ của mình là họ sẽ chỉ là bạn bè. Vợ anh đồng ý. Tất nhiên họ không chỉ là bạn bè được. Nhưng những liên lạc trong khoảng thời gian đó đã làm nảy sinh những ràng buộc và liên đới khác đủ để giữ chân nàng lại với anh tiếp tục. Một năm. Một năm nữa. Đã có hai lần anh dứt áo ra đi, quyết liệt không biết nàng nữa. Còn nàng dứt áo như cơm bữa. Nhưng rồi cũng chẳng đi được đến đâu. Còn nợ phải trả. Nhưng nợ ảo, nàng cười. Đến giai đoạn cuối này, vợ anh chỉ cần nghe tên nàng đã vật vã ngồi khóc không nín nhiều ngày, người phụ nữ xinh đẹp hiền lành hơi khắc kỷ chỉ biết yêu thương chồng con hết mực đó không thể chịu đựng nổi ý nghĩ chồng mình còn liên lạc với nàng, cho dù dưới bất cứ hình thức nào. Anh rơi vào im lặng. Họ vẫn còn tồn tại cạnh nhau, vẫn có những liên lạc xa gần, dưới những “nick” ảo luôn được tạo ra, bị giết chết, thay mới và tiếp tục bị giết chết của nàng.

    Nàng bấm hủy kết bạn với anh. Hai tài khoản ảo cuối cùng. Sẽ không có tài khoản nào nữa được tạo ra. Cũng sẽ không có một hoạt động chung nào có dính đến anh sẽ được tiến hành. Nàng, đã đến được thành phố đó. Đã làm hết sức của nàng. Đã đến ngưỡng. Một cái ngưỡng tự tạo như là một giới hạn của tất cả những yêu thương quan tâm dồn nén chịu đựng cho một người mà nàng có thể làm được. Để rồi, ra đi, thanh thản. Không bao giờ hối tiếc. Vì đã làm hết sức mình. Vì có cố hơn nữa cũng chỉ thế mà thôi. Vì, trời đã định là họ sẽ không gặp nhau.
    Thành phố này, là một trộn lẫn giữa những thành phố nàng đã sống. Một thành phố biển, giống như thành phố biển nơi nàng sống. Ở đây, biển ấm, như luồng năng lượng ấm sực nồng nhiệt của anh. Ở nơi nàng, biển lạnh, như sự thay đổi xuống lên thất thường của nàng. Từ bờ biển đến bờ biển. Nhưng, cũng như từ hai thành phố biển khác từ một không gian xa xưa. Melbourne-Sydney. Cách nhau 1,000 cây số. Thành phố của anh, giống Sydney đến lạ, có cầu cảng, có phà. Nàng đã từng bỏ tiền mua vé máy bay đến Sydney, chỉ để ngồi khóc ngất một đêm, chỉ để nhớ lại chuyện tình quá khứ 6 năm về trước của nàng. Seabus qua Lonsdale Quay, hay là ferry qua Manly Beach, giống giống nhau. Yêu dấu năm xưa và yêu dấu năm nay. Anh là hình bóng người cũ được nàng khôi phục lại, tạo dựng lại, “resurrect,” giống như người ta “gọi hồn” sống dậy. Thật ra anh chẳng giống gì người yêu cũ của nàng. Họ chỉ tình cờ sống cùng quê, chứ từ gương mặt, tính cách, nghề nghiệp, sở thích, tuổi tác, chẳng có gì giống cả. Chỉ vì nàng thích gọi anh là resurrection, thế thôi. Tình yêu với anh, có phải cũng là tình yêu mô phỏng? Không biết. Chỉ biết là ngày xưa nàng đã yêu anh chàng ở Sydney đến cháy ruột cháy gan, yêu anh ấy nhiều hơn cả bản thân mình. Và bây giờ nàng cũng bao nhiêu lần lịm khóc nghe tình yêu anh thấm mềm phế phủ chạy trong từng đường gân thớ thịt. Dẫu nàng biết anh chẳng yêu nàng bao nhiêu. Người yêu xưa, cũng thế. Ở một góc độ nào đó, anh có yêu nàng nhiều hơn người yêu xưa của nàng. Ừ, thì, ít nhất mình có tiến bộ, nàng cười buồn buồn.
    Những người nàng rất yêu, nàng sẽ không với tới họ. Như anh chàng ngày xưa. Như anh. Những người mà vì họ nàng có thể bỏ tiền mua vé máy bay, đi đến đó, chỉ để cảm thấy mình ở cùng một thành phố. Một thành phố vài triệu dân. Lần đầu anh nói chia tay, nàng khóc ngất và đau đớn nhận ra, hai mươi năm sau, kết quả cũng như hai mươi năm trước mà thôi. Trời đã dạy nàng rất rõ rằng, nàng sẽ không có được những con người đó. Thiên ý. Còn anh? Đến cả một lần gặp mặt, cũng sẽ không có. Nàng nhìn những con sóng lăn theo con phà mà thấy cái đau đớn hai mươi năm xưa và cái đau đớn hôm nay quyện hòa vào nhau, thấm thía, dìu dịu. Già rồi, trung niên rồi, vẫn mau nước mắt nhưng sẽ không lăn ra đòi sống đòi chết nữa, nàng im lặng và chấp nhận nỗi buồn thẩm thấu xuyên suốt cơ thể mình như miếng quỳ tím lặng thầm hóa đỏ trong dung dịch acid sulfuric. Mềm mại, dịu oặt, êm êm, nỗi buồn ngậm lấy nàng trong một lớp kén mềm bao phủ. Không lối thoát.
    Hai mươi năm, chẳng lẽ mình vẫn thất bại và đau khổ như ngày xưa. Con gái vừa hỏi gì đó, nàng ngước mặt lên. Cặp mắt con bé sáng lung linh, gương mặt xinh xắn thông minh giống bố. Ừ, thì mình có nó. Con gái, chồng, gia đình. Bớt bất ổn bản thân. Hai mươi năm tạo dựng, thành quả. Và những hệ lụy và chịu đựng thầm lặng khác.
    Họ sẽ quên nhau. Anh sẽ quên nàng. Nàng sẽ quên anh. Nắng chéo góc hôn lên mái tóc nâu dợn sóng của con gái nàng ánh lên một chút màu hung đỏ. Thành phố này nhiều mưa, bạn nàng bảo nàng may mắn quá vì gặp nắng đẹp long lanh trong suốt những ngày đến đây. Con gái nàng được đi chơi nhiều chỗ dành cho trẻ con trong mấy ngày qua, tiếng cười trong như ngọc, lanh canh, hớn hở.
    Hai ngày trước khi đi, nàng đã đi uốn tóc. Nàng nghĩ anh thích tóc thẳng. Cũng như chồng nàng. Cũng như vợ anh, một mái tóc thẳng mười mấy năm. Vì vậy nên nàng phải uốn. Sẽ già đi, sẽ xấu xí đi. Cũng chẳng sao. Để nhớ, là phải quên anh, và sẽ quên anh. Hồi hộp ngồi trên ghế ở tiệm làm tóc ba giờ đồng hồ, để ngạc nhiên thấy rằng, cũng không đến nỗi xấu lắm. Mái tóc quăn tạo cho nàng một vẻ đằm sâu thăm thẳm, một vẻ đẹp trưởng thành và ‘phức tạp’ (sophisticated) hơn. Có lẽ, cuộc sống, cũng sẽ không đến nỗi quá tệ. Nếu em chỉ có một miếng chanh héo, ừ thì có lẽ em vẫn pha được một ly chanh muối, anh nhỉ!
    “Khi em đã ở trong thành phố biển/Cùng một lớp học với anh/ Vẫn hẹn em nhất định gặp/ Lần sau”. Con đường rộng lớn phía đông. Nàng sờ sờ mái tóc. Đóng máy tính. Sẽ không có lần sau.

-- Trần Hạ Vi

 

Tôi bị bắt tại huyện Tân Hiệp chiều ngày hai mươi, giáp Tết. Lý do, mang theo hàng không giấy phép. Thế là tiêu tan hết vốn lẫn lời mà tôi chắt chiu, dành dụm gần cả năm nay. Nhớ đến mẹ và gia đình trong những ngày Tết sắp tới, tôi vừa buồn vừa tức đến bật khóc. Xui rủi, biết trách ai. Tiễn, anh phụ lơ, đã cẩn thận cất dấu hàng cho tôi, vã lại anh cũng quá quen biết với đám công an trạm kiểm soát. Không ngờ chuyến nầy bọn công an tỉnh xuống giải thể đám địa phương, nên tôi bị “hốt ổ” chung cả đám. Đây không phải là lần đầu bị bắt, nhưng lại là lần đầu tiên tôi đi chuyến vốn lớn như vầy. Năm ký bột ngọt, năm ký bột giặt, hơn chục ống thuốc cầm máu và trụ sinh hàng ngoại. Bột ngọt, bột giặt không nói gì, nhưng hai thứ sau hiếm như vàng mà giới “chạy hàng” chúng tôi gọi là “vàng nước”. Nên thay vì đưa về khu tạm giam huyện chờ lập biên bản, hồ sơ xét xử tôi nghe bọn công an thì thầm, bàn tán giải thẳng về khám lớn tỉnh Rạch Giá.
Quỳnh Lâm báo tin sẽ đến Đức trong tuần lễ đầu tháng 10. Nisha vội vàng thu xếp “sự vụ lệnh“ để công du sang Đức. Nisha lo đi chợ sắm sửa đầy mấy tủ lạnh, tủ đá, để mấy cha con sống còn trong thời gian nữ tướng đi xa. Chúng tôi hồi hộp quá, ngày nào cũng thư từ, nhắn nhủ, dặn dò đủ điều tẳn mà, tẳn mẳn. Điện thư qua, về hoa cả mắt. Thư nào chúng tôi cũng nhắc nhở nhau giữ gìn sức khoẻ, vì đứa nào cũng “lão” rồi. Khi gặp nhau, tụi tôi nhất thiết phải đầy đủ tinh thần minh mẫn trong thân thể tráng kiện. Có hôm, đến trưa, chưa nghe tăm tiếng, tôi sốt ruột, xuất khẩu làm thơ... bút tre:
Sống ở đây an toàn và bình an gần như một trăm phần trăm trong hiện tại và tương lai, nhưng không thể bình thản hóa quá khứ. Cuộc chiến khốc liệt giữa thiên thần và ma quỉ luôn ám ảnh ông. Có những điều gì thao thức, âm thầm nghi hoặc, nhoi nhúc sâu thẳm trong ông. Lòng tin vào ông Gót có phần nào lung lay. Đông cảm thấy có lỗi khi nghi ngờ bố, người đã giúp đỡ, bảo vệ ông và Vá. Nhưng nghi ngờ là một thứ gì không thể điều khiển, không thể đổi đi, không thể nhốt lại. Nó vẫn đến, mỗi lần đến nó vạch rõ hơn, nhưng vẫn mù sương như đèn xe quét qua rồi trả lại sương mù.
Trâm gật đầu nhè nhẹ. Đoan nghĩ thật nhanh đến một cảnh diễn ra mỗi đầu tháng trong sân trường. Nơi đó, các sinh viên xúm xít cân gạo và các loại “nhu yếu phẩm”, mang phần của mình về nhà. Rồi thì trong khu phố, cảnh những người dân xếp hàng “mua gạo theo sổ” cũng diễn ra mỗi ngày. Nói “gạo” là nói chung thôi, thật ra trong đó phần “độn” chiếm đa số. Phần “độn” có thể là bo bo, có thể là bột mì, cũng có thể là khoai lang hay khoai mì xắt lát phơi khô. Nồi cơm nấu từ gạo và một thứ khác được gọi là nồi “cơm độn.” Mỗi ngày hai bữa cơm độn. Bo bo thì quá cứng vì vỏ ngoài chưa tróc, nấu trước cho mềm rồi cho gạo vào nấu tiếp, trở thành một “bản song ca” chói tai. Khoai lang hay khoai mì xắt lát phơi khô thường bị sượng, ghế vào cơm rất khó ăn. Chỉ có bột mì tương đối dễ ăn hơn, vì người nấu có thể chế biến thành bánh mì, nui hay mì sợi
Mùa đông, tuyết đóng dầy trên mái nhà. Ấy là lúc bà ngoại cũng lo là lũ chim - những con chim của ngoại - sẽ chết cóng. Nhưng bà không biết làm gì để cứu chúng nó. Ngoại đi tới đi lui từ phòng khách qua nhà bếp. Thở dài. Rên rỉ. Rồi lẩm bẩm, “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng.” Bà ngoại tội nghiệp những con chim chết lạnh. Sinh nhật ngoại, chúng tôi chung tiền mua quà. Một con sáo trong chiếc lồng tuyệt đẹp. Bà ngoại cưng nó hơn cưng chị em tôi. Cho nó ăn, ngắm nghía bộ lông đầy màu sắc của nó. Chăm chú lắng nghe tiếng hót véo von lúc chớm nắng bình minh và buổi hoàng hôn nắng nhạt. Rồi một buổi sáng nọ tiếng chim thôi líu lo. Bà ngoại chạy ra phòng khách. Hấp tấp tuột cả đôi guốc mộc. Con chim sáo nằm cứng sát vách lồng. Hai chân duỗi thẳng. Cổ ngoặt sang một bên. Con chim của ngoại đã chết. Bà ngoại buồn thiu cả tuần lễ. Bố mẹ tôi bàn tính mua con chim khác. Bà gạt ngang.
Tôi là người viết báo nghiệp dư. Từ khi khởi viết vào năm 1959, tay cầm viết luôn là nghề tay trái. Tôi sống bằng nghề tay phải khác. Cho tới nay, nghề chính của tôi là…hưu trí, viết vẫn là nghề tay trái. Tôi phân biệt viết báo và làm báo. Làm báo là lăn lộn nơi tòa soạn toàn thời gian hoặc bán thời gian để góp công góp sức hoàn thành một tờ báo. Họ có thể là chủ nhiệm, chủ bút, tổng thư ký, thư ký tòa soạn hay chỉ là ký giả, phóng viên. Nhưng tôi nghĩ người quan trọng nhất trong tòa soạn một tờ báo là ông “thầy cò”. Thầy cò ở đây không có súng ống hay cò bóp chi mà là biến thể của danh từ tiếng Pháp corrector, người sửa morasse. Morasse là bản vỗ một bài báo cần sửa trước khi in.
Sáu tuần. Nàng đã đi ra khỏi mụ mị từ trong mối tình hiện tại của mình. Cô bạn gái hỏi "Tỉnh chưa?". Tỉnh rồi, nhưng tỉnh không có nghĩa không yêu anh ấy nữa, chỉ là không còn mụ mị mê muội nữa thôi...
Trong bóng tối dày đặc, dọ dẫm từng bước một, hai tay vừa rờ vào hai bên vách hang động, vừa quơ qua quơ lại trước mặt, dù cố mở mắt lớn, chỉ thấy lờ mờ, nhiều ảo ảnh hơn là cảnh thật. Cảm giác bực bội vì đã trợt té làm văng mất ba lô, mất tất cả các dụng cụ, thực phẩm và nước uống cần thiết. Bối rối hơn nữa, đã rớt chiếc đèn bin cầm tay, mất luôn chiếc đèn bin lớn mang bên lưng và máy liên lạc vệ tinh có dự phòng sóng AM. Giờ đây, chỉ còn ít vật dụng tùy thân cất trong mấy túi quần, túi áo khoát và hoàn toàn mất phương hướng. Chỉ nhớ lời chỉ dẫn, hang động sẽ phải đi lên rồi mới trở xuống. Trang nghĩ, mình có thể thoát ra từ lối biển. Là một tay bơi có hạng, nàng không sợ.
Cô người Nha Trang, lớn lên và đi học ở đó. Cô sinh trưởng trong một gia đình gia giáo, mẹ cô đi dậy học, ông thân cô cũng là hiệu trưởng một trường trung học lớn ở Phú Yên. Năm 22 tuổi, cô học năm cuối đại học văn khoa Huế thì gặp gỡ chú Hiếu trong một dịp hội thảo sinh viên do các biến động thời cuộc miền Trung bắt đầu nhen nhúm. Chú Hiếu lúc đó đang theo cao học luật. Họ thành đôi bạn tâm giao tuổi trẻ, sau thành đôi uyên ương. Ba năm sau khi Trang vừa 25 tuổi, Hiếu đã nhậm chức chánh án tòa thượng thẩm.
Nhà trẻ kế bên bệnh xá. Trong góc một trại giam. Nhà trẻ có sáu đứa con nít. Bệnh xá có mấy bệnh nhân già. Coi bệnh xá là một tù nam nguyên là y tá ngoài đời. Coi nhà trẻ là một tù nữ án chung thân. Coi cả hai nơi ấy là một công an mà mọi người vẫn gọi là bác sĩ! Sáu đứa con nít đều là con hoang. Mẹ chúng nó là nữ tù bên khu B, đừng hỏi cha chúng đâu vì chúng sẽ không biết trả lời thế nào. Cũng đừng bao giờ hỏi mẹ chúng nó về chuyện ấy vì rằng đó là chuyện riêng và cũng là những chuyện rất khó trả lời. Thảng hoặc có ai đó được nghe kể thì lại là những chuyện rất tình tiết ly kỳ lâm ly bi đát… chuyện nào cũng lạ, chuyện nào cũng hay
Thăm nuôi năm thứ mười: trại Z30D Hàm Tân, dưới chân núi Mây Tào, Bình Tuy. Cuối năm 1985, mấy trăm người tù chính trị, trong đó có cánh nhà văn nhà báo, được chuyển từ trại Gia Trung về đây. Hồi mới chuyển về, lần thăm nuôi đầu, còn ở bên K1, đường sá dễ đi hơn. Cảnh trí quanh trại tù nặng phần trình diễn, thiết trí kiểu cung đình, có nhà lục giác, bát giác, hồ sen, giả sơn... Để có được cảnh trí này, hàng ngàn người tù đã phải ngâm mình dưới nước, chôn cây, đẽo đá suốt ngày đêm không nghỉ. Đổi vào K2, tấm màn hoa hòe được lật sang mặt trái: những dãy nhà tranh dột nát, xiêu vẹo. Chuyến xe chở người đi thăm nuôi rẽ vào một con đường ngoằn nghoèo, lầy lội, dừng lại ở một trạm kiểm soát phía ngoài, làm thủ tục giấy tờ. Xong, còn phải tự mang xách đồ đạc, theo đường mòn vào sâu giữa rừng, khoảng trên hai cây số.
Ông Hải đứng trước của nhà khá lâu. Phân vân không biết nên mở cửa vào hay tiếp tục đi. Tâm trạng nhục nhã đã ngui ngoai từ lúc nghe tiếng chim lạ hót, giờ đây, tràn ngập trở lại. Ông không biết phải làm gì, đối phó ra sao với bà vợ béo phì và nóng nảy không kiểm soát được những hành động thô bạo.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.