Hôm nay,  

Vòng Hạnh Phúc và Lòng Tri Ân

21/11/202308:18:00(Xem: 3294)

blankblank


Nhà Giáo, cũng là Nhà Văn Doãn Quốc Sĩ, người đứng trên bục giảng các trường Trung học hơn 12 năm; cầm phấn ở các giảng đường Đại học từ cuối thập niên 60 của thế kỷ 20 đến tháng tư năm 1975) đã viết: "Nghề giáo không được cái gì cả, chỉ được hai điều, thứ nhất là tình thầy trò, thứ nhì là tình đồng nghiệp.” Một lần khác, từ giảng đường của trường Đại học Sư phạm Sài gòn, trong bối cảnh của mùa hè đỏ lửa 1972, ông đã nói với học trò của mình , các nhà giáo tương lai: “Trên tấm bảng đen khốn khó, người ta đã cố vẽ lên những vòng hạnh phúc, Vòng hạnh phúc của nước Việt Nam nằm trong tay các anh chị.”
    Trên tấm bảng đen của trường Trung học Ngô Quyền Biên Hòa, lớp chúng tôi  được học với một số Thầy Cô là cựu học sinh Ngô Quyền (Thầy Huỳnh Quan Phận NQK5, Cô Hà Thị Nhung NQK5, Cô Liêng Tuấn Tài NQK5, Cô Phạm Thi Hạnh NQK6, Thầy Diệp Cẩm Thu NQK7). Còn nhỏ, chúng tôi chưa hiểu được hết  tình hình đất nước, cũng chưa được đọc, hay nghe lời khuyên của Giáo Sư/ Nhà Văn Doãn Quốc Sĩ , nhưng chúng tôi cảm nhận được những "vòng tròn hạnh phúc" các Thầy Cô đã vẽ lên bảng đen (có một chút khốn khó trong bối cảnh chiến tranh). Nếu đó là giờ Hình học thì "vòng tròn hạnh phúc"  thấy được cả nghĩa đen, và nghĩa bóng.
    Có những hôm đi học, chúng tôi kể cho nhau nghe "kinh nghiệm" xuống hầm bao cát của mình khi phi trường Biên Hòa bị quân đội miền Bắc pháo kích. Đó là chuyện không lạ trong thời kỳ chiến tranh, nên chúng tôi vẫn nuôi ước vọng lớn lên sẽ làm được nhiều điều cho các thế hệ sau như một khẩu hiệu được thấy ở thư viện của trường "Ngày nay học tập, ngày mai giúp đời"; để các thế hệ kế tiếp sẽ không bao giờ bị “ánh hỏa châu soi sáng đêm đen” như chúng tôi đã trải qua.
   Đáng tiếc vì vận nước, "vòng tròn hạnh phúc" chỉ mới hình thành trong tâm tưởng. Ước vọng của chúng tôi vẫn còn là nụ, chưa kịp đơm bông; chưa đến thời điểm áp dụng vào cuộc đời thì cơn lốc 1975 cuốn Thầy trò chúng tôi ra biển lớn, lưu lạc quê người.
    "Vòng tròn hạnh phúc" chưa bao giờ đầy đủ, nhưng nhiều mảnh nhỏ đã được chúng tôi vẽ lại từ những lời giảng của Thầy Cô.
blank
 
Mãi về sau sau này, hơn nửa đời người, chúng tôi nhận ra trên đời này không có ai thương mình vô điều kiện như Cha Mẹ, không có ai dạy mình vô điều kiện như Thầy Cô. Vì vậy, xin kính cảm ơn Cha Mẹ, Thầy Cô (những ân nhân lớn nhất của đời người) và cũng xin gửi vào hư không lời tạ ơn chân thành đến các bậc sinh thành và quý Thầy Cô đã khuất bóng. 
 
blankblank

Mỗi năm một lần, vào mùa lễ Tạ ơn ở Mỹ, trước buổi tiệc Thanksgiving chúng tôi vẫn thầm cảm ơn cha mẹ, Thầy Cô , những người đã hy sinh một phần đời để chúng tôi có được ngày hôm nay.
    Cũng xin cảm ơn các chs NQ đã nằm xuống hay đã chịu nhiều thiệt thòi để chúng tôi có được những ngày bình an, hạnh phúc. Cuối cùng xin thắp nén hương lòng đặc biệt tưởng nhớ quý Thầy đã bỏ cuộc đời trong năm 2023: Thầy Cù An Hưng, Thầy Nguyễn Kim Linh, Thầy Trần Văn Lộc, Thầy Phan Phát Tân. Công ơn sinh thành dưỡng dục của Cha Mẹ, công ơn giáo huấn của quý Thầy Cô vẫn mãi mãi có một vị trí trang trọng nhất trong tâm hồn.
 

-- Nguyễn Trần Diệu Hương

(20/11/2023)

 

Người Việt Nam chúng ta vừa trải qua, ôn lại ký ức tháng 4 với đầy rẩy u buồn, đau thương và tiếc nuối kèm cả oán hận âm ỷ trong lòng. «… 30-04-1975 hàng loạt đạn pháo cuồng nộ đâm xuống biển, tung lên những cột nước cao dìm sâu xuống biển những ghe thuyền tìm cách vượt biên tìm tự do, những con tàu nhỏ, những con người vô phước trúng đạn tung tóe gỗ nát trộn thịt da, chấm dứt những tháng ngày vất vả sống với chế độ độc tài cộng sản miền Bắc tràn vô Nam…» Đúng thế, họ dựa vào thế lực và sự hậu thuẫn của bè đảng Nga Tầu, họ cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta. Họ vô nhân đạo cưỡng chiếm của cải tài sản của dân miền Nam qua hai lần đổi tiền tháng 9-1975 và tháng 5-1978. Họ đánh tư sản vơ vét của cải của dân miền Nam thu gom vào túi cán bộ và mang về miến Bắc.
Tháng tư ngửa mặt nhìn trời | Nhớ xem hồng nhạn đã rơi phương nào | Cánh chim gãy sợi tóc đau | Con đò chở khẳm nỗi sầu lưu vong.
Tôi mất ý thức về phương hướng. Không gian chỉ còn một chiều, phía trước, phía sau. Phía sau là quê nhà, phía trước là sự chọn lựa. Biển xanh như ngọc khi chúng tôi ra đến hải phận quốc tế. Nó chờ chúng tôi ở đó, hiện hữu ngay cả trước đại dương. Hải phận quốc tế là một huyền thoại. Ai cũng nhắc đến, nhưng không ai biết nó là gì. Ra đến hải phận quốc tế, thì con người không thuộc về đất nước của mình nữa, mà thuộc về cộng đồng thế giới, thích chưa? Lúc ấy trời đất cảm nhau mà biến hóa, từ một sinh hai, từ hai sinh bốn, từ bốn sinh tám. Cứ thế liên miên, bất tuyệt, mọi vật sinh trưởng, người với đất với trời là một. Tồn tại ung dung, có sanh có diệt mà không sanh diệt.
Và nếu bài viết này góp được một phần nhỏ bé vào việc hàn gắn những vết thương âm thầm ấy, thì nó đã làm tròn sứ mệnh của nó.
Năm mươi năm trước những đám mây đen đã bay qua đời... Những vầng mây hải đảo tiếp tục bay theo chiều đếm của 50 mùa xuân, mây bay trên đầu và mây bay trong ký ức. Như một chiều cuối tháng tư Phú Quốc, những đám mây đen nặng chì, chồm xuống màu biển thẫm. Nắng hấp hối núp sau mây vạch từng tia quái gở xuống lòng vịnh...
Cùng trên một con đường, nhà tôi cạnh nhà Thức, cách 2 căn nữa là nhà Vân Ù và tiếp theo là nhà Liên. Bốn đứa chúng tôi chơi thân nhau từ bé và cùng lứa tuổi. Trước 1975 đoạn đường này, nhà nào cũng có cửa hàng buôn bán. Bố mẹ Thức bán quán giải khát giống như nhà tôi, sau 1975 chuyển sang bán bún riêu trước cửa nhà, Thức có hai người chị là giáo viên. Nhà Vân Ù đâu kém gì, trước 1975 là một depot lớn chuyên bán bia, nước ngọt, nước đá, mỗi ngày xe hãng BGI đến giao hàng chục két bia hàng chục cây nước đá, những cây đá này chất đầy trong một cái tủ lớn và ủ trấu, sẽ bỏ mối và bán lẻ cho khách hàng. Người ta gọi bố mẹ Vân Ù bằng cái tên nghề nghiệp "Ông bà Đề Pô".
Ngôi nhà của Anne rất đẹp. Ý tôi muốn nói là chiếc giày. Đó là một ngôi nhà lý tưởng. Những người nào chưa bao giờ nhìn thấy nó sẽ không thể tin được rằng một chiếc giày có thể đẹp đến thế, tức là một ngôi nhà có thể đẹp đến thế. Thực ra, nhu cầu của con người rất giản dị, Anne thầm nghĩ. Bạn không cần phải có lầu cao cửa rộng, không cần phải có nhiều trang sức và tiền bạc lắm. Bạn chỉ cần có một đời sống đầy đủ, thức ăn, áo mặc, chỗ ngủ, vài cuốn tiểu thuyết và truyện ngắn và nhạc Trịnh hay Taylor Swift bên cạnh. Một chiếc giày hoàn toàn có thể phục vụ cho những mục đích đó.
Năm 1956, một phụ nữ trẻ qua đời trên bàn sinh ở Bệnh Viện Trung Ương Huế. Đứa bé mồ côi được các soeur tại Cô Nhi Viện Tây Lục đem về nuôi, đặt tên là Th. Sau này, anh Th nghe các soeur kể rằng cha anh là một “ông Tây nhà đèn” đã hồi hương từ trước khi mẹ anh biết có thai. Dù được các soeur thương yêu và dạy học, cậu bé Th thích phiêu lưu hơn chữ nghĩa nên đã bỏ ra đời kiếm sống bằng nghề đánh giày từ năm mười ba tuổi. Trong thời gian kiếm ăn trên khắp các nẻo đường, cậu đã ngưỡng mộ hình ảnh oai hùng của các anh lính VNCH. Vì thế, khi vừa đủ mười tám tuổi, anh Th tình nguyện nhập ngũ. Sau ba tháng huấn luyện ở trung tâm Giạ Lê, Thừa Thiên, Huế, anh đã chính thức trở thành Binh Nhì của Đại Đội Trinh Sát thuộc Sư Đoàn 1.
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù. ( In old Burmese belief, every large tree shelters a spirit called a Nat. Before anyone cuts a tree, they must ask the spirit for permission. One day, a woodcutter ignored this rule. He chopped down a tree without a word of warning. The Nat who lived inside felt deeply offended and decided to take revenge.)
Anh đã đến căn nhà cũ, 76 Bạch Đằng. Đứng bên kia đường, đối diện, nhìn nhà mình. Mái tóc phai màu, mất thăng bằng, sụp xuống mé phải, cài một cần ăng-ten cong vẹo như chiếc lược hàng nội. Đôi cánh cửa sổ bụi như ghèn bỏ thí trên đôi mắt phụ nữ không buồn trang điểm nữa. Thềm xi măng trước cửa nứt nẻ — nơi mẹ anh thường dội nước những trưa hè cho bớt hơi nóng bốc nực phòng khách. Anh đã gõ cửa nhà mình, lịch sự, như khách. Không ai mở. Cả xóm không còn ai quen. Anh đứng một lúc rồi đi, cảm giác mình là con ma vô hình lục lọi trong nghĩa địa giữa mùa cúng vàng mã.
Đêm không ngủ được, Khoa nằm nhìn trần nhà.Không có lý do gì. Đó mới là vấn đề.Người ta mất ngủ vì lo lắng, vì đau, vì hối hận, những thứ đó anh hiểu. Nhưng Khoa nằm trong phòng máy lạnh mười bảy độ, nệm tốt, gối mềm, và não cứ chạy như một cái máy không có nút tắt mà không sản xuất ra thứ gì cụ thể. Chỉ là... nhiều loại hình ảnh, câu hỏi, câu trả lời nửa chừng, nhảy vọt từ nơi này sang nơi kia, từ người này sang người nọ… một loại trật tự hỗn loạn của người không biết mình đang nghĩ gì. Chợt Anh dừng lại ở khuôn mặt của Linh.
Đến cuối chợ là gian hàng ăn, đập vào mắt tôi là xe hủ tíu mì của một người Tàu rất đông khách. Ông chủ vừa làm hủ tíu vừa rao hàng bằng 3 tiếng Việt-Cam-Tàu. Tôi đã thưởng thức tô hủ tíu Nam Vang ngay giữa lòng Nam Vang (tên cũ của Phnom Penh), một tô hủ tíu ngon đến nhớ đời. Trên đường về, chúng tôi đi qua những con đường rất đẹp, có hàng cây cao bóng mát, có những quán cafe vỉa hè, và đâu đó vang lên những bài hát “nhạc Vàng” của Sài Gòn, mới thấy dân Việt sinh sống nơi đây rất đông.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.