Hôm nay,  

Huế, quê hương đi để mà nhớ

11/03/202414:08:00(Xem: 3365)
Tùy bút

ao tim ben cua

Làm người Huế là đã mang một cái “nghiệp” tha hương. Vì đất thì chật mà lòng người thì rộng lớn nên không giữ được những bước chân ôm mộng viễn xứ sông hồ. Huế kỳ cục, ở thì không thấy thương mà đi xa rồi mới quay quắt nhớ. Nhớ đất, nhớ quê có khi di lụy cả một đời…
    Đó là một buổi sáng ba tôi nằm trên võng và nói: “Ben! Thi lại đại học kiến trúc Sài Gòn đi con, vô trong nớ mới có tương lai”, dù rằng lúc đó tôi đang là sinh viên năm nhất kiến trúc của Đại học Khoa Học Huế. Và quyết định “cưu mang viễn xứ” đã đưa tôi đến Sài Gòn hơn 15 năm. Để rồi biết bao lần về thăm Huế tôi cũng có cảm giác tê cóng cảm xúc không nói được, như mình đang mất một cái gì đó quý giá vừa tìm lại được.
    Ba mẹ tôi không bao giờ ngạc nhiên mỗi lần tôi về thăm nhà và thả cái ba lô xuống một góc phòng. Ba nhìn tôi bình nhiên như thuở bé chạy đi chơi trong xóm mới về rồi nói “Ben vô thưa ôn mệ đi con!”.Ôn mệ cũng nhìn tôi rồi cười, không nói gì. Mẹ tôi vẫn nấu ăn cho buổi cơm chiều như mọi ngày vẫn diễn ra. Bởi cả nhà tôi tin rằng Huế là quê hương đi để mà nhớ, mà đã là nhớ thì phải trở về cho thỏa nỗi ngóng chờ của kẻ tha hương lẫn người cố quận như một lẽ tất nhiên.
    Huế đày đọa người Huế ly hương mà không cho quên Huế!
    Hơn 10 năm trước ngồi cà phê với đứa em còn là cộng tác viên của một tờ báo, sau một hồi im lặng nó nói: “Em thấy anh giống cái bánh”. Tôi ngạc nhiên hỏi: “Sao em so sánh anh lạ vậy?” Nó nói: “Bởi anh sinh ra trong một cái khuôn, cái nếp, cái gia giáo xưa của Huế”. Bất chợt mới thấy không chỉ riêng mình mà những người con Huế khác dù có lưu lạc tứ xứ vẫn gìn giữ những nếp nghĩ xưa cũ, vẫn “dạ thưa”, vẫn khiêm cung lễ độ trong cách ăn nói, vẫn thường soi mình trong mắt người khác để coi mình cư xử có làm phật lòng người khác hay không. Cũng như cảnh Huế đã “trơ gan “ giữa thời đô thị hóa để giữ gìn những thành quách, đền đài lăng miếu hoang rêu. Cảnh Huế và tình Huế đã đồng điệu trong việc lưu giữ, lắng đọng xuống bề sâu những giá trị thuộc về ngày cũ.
    Tôi vẫn có thói quen im lặng và thả mù khói thuốc xám bay khi nghe ai đó than phiền hay chưa vừa lòng với Huế. Những lúc đó tôi dấu được nỗi buồn trong mắt người đối diện nhưng không sao dấu được tiếng thở dài. Bởi kỷ niệm ký ức mới làm nên cái tình cái hồn cho nơi chốn, nếu nhìn Huế qua hình ảnh và hiểu Huế bằng chữ nghĩa thì chỉ thấy màu tàn phai lẫn tiếng thở than của thành quách đã nhuốm đời hoang phế. Người ta làm sao có thể hiểu được nỗi niềm, tình cảm của một đứa bé lớn lên ở Huế. Tôi làm sao quên những ngày rét căm của Huế ngồi sau xe mẹ chở tới trường, hay những tối muộn màng ba vẫn đi về để trả nợ áo cơm. Những đêm mưa dột hết cả chỗ nằm mà vẫn ấm hơi cha mẹ, hay những mùa  lụt tận năm nào vẫn còn ngập sũng lòng tôi. Có mấy ai biết mỗi lần gần Tết Nguyên Đán là nỗi nhớ quê nhà cứ tự nhiên thấm đẫm trong tận cùng sâu thẳm của mỗi tấc lòng, giữa đoạn trường đời nhau chờ ngày sum họp…
    Huế bình thản ngày tạ từ mà đau đáu ngày đoàn viên. Huế để người ta đi xa ngái mà day dứt thương nhớ cố quận khôn nguôi. Với tôi Sài Gòn là nhà mà Huế là quê hương!
    Những người bạn đi du lịch Huế về gặp tôi thường nói: “Huế buồn quá Linh ơi, mưa dầm dề mãi”. Tôi không ngạc nhiên bởi tôi biết Huế đủ nỗi buồn để chia đều hết thảy cho mọi người. Huế buồn từ thuở khai sinh bởi tiếng thở dài của người Chiêm lưu vong đã giao thoa với những người từ phía đàng Ngoài đi mở cõi, đã trải qua thất thủ kinh đô với những miễu âm hồn như vết tích, qua bao đời hưng phế của triều Nguyễn chỉ còn lại đền đài một thuở sương phai. Huế buồn bởi nắng sớm mưa trưa chiều tím đều mang vẻ khắc khoải hoài vọng quá khứ, lặng lẽ với hiện tại và mong chờ ở ngày mai sẽ hội ngộ tương phùng. Có người thì thắc mắc sao Huế đi ngủ sớm vậy, mới có 9 giờ tối mà đường phố vắng tênh. Thực ra Huế không thức khuya ngoài đường phố mà thức dưới mái nhà, bên cạnh cha mẹ anh em với những câu chuyện đời chuyện người bất tận như những cơn mưa. Những cơn mưa dầm như một món đặc sản đã làm cho tình cảm Huế ít phát triển hướng ngoại mà thường hướng về chiều sâu của nội tâm, âm thầm mà chung thủy. Thế nên, người ở lại thì vẫn năm tháng đợi chờ gót lữ hành của kẻ “khăn gói đi xa”. Người viễn xứ thì luôn có một “góc Huế” trong mớ hành trang của ký ức để luôn canh cánh trở về mỗi khi thấy nhớ.
    Huế cũng như bao bà mẹ quê trên đất nước này: giản dị, chất phác đơn sơ nhưng luôn bao dung, cảm thông, nhớ thương những đứa con luân lạc của mình. Làm sao ra đi cho đành đoạn mà không khắc khoải ngày trở về thăm Huế: nơi chốn lưu giữ một phận đời tôi.
 

– Bùi Hoàng Linh

Người Việt Nam chúng ta vừa trải qua, ôn lại ký ức tháng 4 với đầy rẩy u buồn, đau thương và tiếc nuối kèm cả oán hận âm ỷ trong lòng. «… 30-04-1975 hàng loạt đạn pháo cuồng nộ đâm xuống biển, tung lên những cột nước cao dìm sâu xuống biển những ghe thuyền tìm cách vượt biên tìm tự do, những con tàu nhỏ, những con người vô phước trúng đạn tung tóe gỗ nát trộn thịt da, chấm dứt những tháng ngày vất vả sống với chế độ độc tài cộng sản miền Bắc tràn vô Nam…» Đúng thế, họ dựa vào thế lực và sự hậu thuẫn của bè đảng Nga Tầu, họ cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta. Họ vô nhân đạo cưỡng chiếm của cải tài sản của dân miền Nam qua hai lần đổi tiền tháng 9-1975 và tháng 5-1978. Họ đánh tư sản vơ vét của cải của dân miền Nam thu gom vào túi cán bộ và mang về miến Bắc.
Tháng tư ngửa mặt nhìn trời | Nhớ xem hồng nhạn đã rơi phương nào | Cánh chim gãy sợi tóc đau | Con đò chở khẳm nỗi sầu lưu vong.
Tôi mất ý thức về phương hướng. Không gian chỉ còn một chiều, phía trước, phía sau. Phía sau là quê nhà, phía trước là sự chọn lựa. Biển xanh như ngọc khi chúng tôi ra đến hải phận quốc tế. Nó chờ chúng tôi ở đó, hiện hữu ngay cả trước đại dương. Hải phận quốc tế là một huyền thoại. Ai cũng nhắc đến, nhưng không ai biết nó là gì. Ra đến hải phận quốc tế, thì con người không thuộc về đất nước của mình nữa, mà thuộc về cộng đồng thế giới, thích chưa? Lúc ấy trời đất cảm nhau mà biến hóa, từ một sinh hai, từ hai sinh bốn, từ bốn sinh tám. Cứ thế liên miên, bất tuyệt, mọi vật sinh trưởng, người với đất với trời là một. Tồn tại ung dung, có sanh có diệt mà không sanh diệt.
Và nếu bài viết này góp được một phần nhỏ bé vào việc hàn gắn những vết thương âm thầm ấy, thì nó đã làm tròn sứ mệnh của nó.
Năm mươi năm trước những đám mây đen đã bay qua đời... Những vầng mây hải đảo tiếp tục bay theo chiều đếm của 50 mùa xuân, mây bay trên đầu và mây bay trong ký ức. Như một chiều cuối tháng tư Phú Quốc, những đám mây đen nặng chì, chồm xuống màu biển thẫm. Nắng hấp hối núp sau mây vạch từng tia quái gở xuống lòng vịnh...
Cùng trên một con đường, nhà tôi cạnh nhà Thức, cách 2 căn nữa là nhà Vân Ù và tiếp theo là nhà Liên. Bốn đứa chúng tôi chơi thân nhau từ bé và cùng lứa tuổi. Trước 1975 đoạn đường này, nhà nào cũng có cửa hàng buôn bán. Bố mẹ Thức bán quán giải khát giống như nhà tôi, sau 1975 chuyển sang bán bún riêu trước cửa nhà, Thức có hai người chị là giáo viên. Nhà Vân Ù đâu kém gì, trước 1975 là một depot lớn chuyên bán bia, nước ngọt, nước đá, mỗi ngày xe hãng BGI đến giao hàng chục két bia hàng chục cây nước đá, những cây đá này chất đầy trong một cái tủ lớn và ủ trấu, sẽ bỏ mối và bán lẻ cho khách hàng. Người ta gọi bố mẹ Vân Ù bằng cái tên nghề nghiệp "Ông bà Đề Pô".
Ngôi nhà của Anne rất đẹp. Ý tôi muốn nói là chiếc giày. Đó là một ngôi nhà lý tưởng. Những người nào chưa bao giờ nhìn thấy nó sẽ không thể tin được rằng một chiếc giày có thể đẹp đến thế, tức là một ngôi nhà có thể đẹp đến thế. Thực ra, nhu cầu của con người rất giản dị, Anne thầm nghĩ. Bạn không cần phải có lầu cao cửa rộng, không cần phải có nhiều trang sức và tiền bạc lắm. Bạn chỉ cần có một đời sống đầy đủ, thức ăn, áo mặc, chỗ ngủ, vài cuốn tiểu thuyết và truyện ngắn và nhạc Trịnh hay Taylor Swift bên cạnh. Một chiếc giày hoàn toàn có thể phục vụ cho những mục đích đó.
Năm 1956, một phụ nữ trẻ qua đời trên bàn sinh ở Bệnh Viện Trung Ương Huế. Đứa bé mồ côi được các soeur tại Cô Nhi Viện Tây Lục đem về nuôi, đặt tên là Th. Sau này, anh Th nghe các soeur kể rằng cha anh là một “ông Tây nhà đèn” đã hồi hương từ trước khi mẹ anh biết có thai. Dù được các soeur thương yêu và dạy học, cậu bé Th thích phiêu lưu hơn chữ nghĩa nên đã bỏ ra đời kiếm sống bằng nghề đánh giày từ năm mười ba tuổi. Trong thời gian kiếm ăn trên khắp các nẻo đường, cậu đã ngưỡng mộ hình ảnh oai hùng của các anh lính VNCH. Vì thế, khi vừa đủ mười tám tuổi, anh Th tình nguyện nhập ngũ. Sau ba tháng huấn luyện ở trung tâm Giạ Lê, Thừa Thiên, Huế, anh đã chính thức trở thành Binh Nhì của Đại Đội Trinh Sát thuộc Sư Đoàn 1.
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù. ( In old Burmese belief, every large tree shelters a spirit called a Nat. Before anyone cuts a tree, they must ask the spirit for permission. One day, a woodcutter ignored this rule. He chopped down a tree without a word of warning. The Nat who lived inside felt deeply offended and decided to take revenge.)
Anh đã đến căn nhà cũ, 76 Bạch Đằng. Đứng bên kia đường, đối diện, nhìn nhà mình. Mái tóc phai màu, mất thăng bằng, sụp xuống mé phải, cài một cần ăng-ten cong vẹo như chiếc lược hàng nội. Đôi cánh cửa sổ bụi như ghèn bỏ thí trên đôi mắt phụ nữ không buồn trang điểm nữa. Thềm xi măng trước cửa nứt nẻ — nơi mẹ anh thường dội nước những trưa hè cho bớt hơi nóng bốc nực phòng khách. Anh đã gõ cửa nhà mình, lịch sự, như khách. Không ai mở. Cả xóm không còn ai quen. Anh đứng một lúc rồi đi, cảm giác mình là con ma vô hình lục lọi trong nghĩa địa giữa mùa cúng vàng mã.
Đêm không ngủ được, Khoa nằm nhìn trần nhà.Không có lý do gì. Đó mới là vấn đề.Người ta mất ngủ vì lo lắng, vì đau, vì hối hận, những thứ đó anh hiểu. Nhưng Khoa nằm trong phòng máy lạnh mười bảy độ, nệm tốt, gối mềm, và não cứ chạy như một cái máy không có nút tắt mà không sản xuất ra thứ gì cụ thể. Chỉ là... nhiều loại hình ảnh, câu hỏi, câu trả lời nửa chừng, nhảy vọt từ nơi này sang nơi kia, từ người này sang người nọ… một loại trật tự hỗn loạn của người không biết mình đang nghĩ gì. Chợt Anh dừng lại ở khuôn mặt của Linh.
Đến cuối chợ là gian hàng ăn, đập vào mắt tôi là xe hủ tíu mì của một người Tàu rất đông khách. Ông chủ vừa làm hủ tíu vừa rao hàng bằng 3 tiếng Việt-Cam-Tàu. Tôi đã thưởng thức tô hủ tíu Nam Vang ngay giữa lòng Nam Vang (tên cũ của Phnom Penh), một tô hủ tíu ngon đến nhớ đời. Trên đường về, chúng tôi đi qua những con đường rất đẹp, có hàng cây cao bóng mát, có những quán cafe vỉa hè, và đâu đó vang lên những bài hát “nhạc Vàng” của Sài Gòn, mới thấy dân Việt sinh sống nơi đây rất đông.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.