Hôm nay,  

Huế, quê hương đi để mà nhớ

3/11/202414:08:00(View: 3368)
Tùy bút

ao tim ben cua

Làm người Huế là đã mang một cái “nghiệp” tha hương. Vì đất thì chật mà lòng người thì rộng lớn nên không giữ được những bước chân ôm mộng viễn xứ sông hồ. Huế kỳ cục, ở thì không thấy thương mà đi xa rồi mới quay quắt nhớ. Nhớ đất, nhớ quê có khi di lụy cả một đời…
    Đó là một buổi sáng ba tôi nằm trên võng và nói: “Ben! Thi lại đại học kiến trúc Sài Gòn đi con, vô trong nớ mới có tương lai”, dù rằng lúc đó tôi đang là sinh viên năm nhất kiến trúc của Đại học Khoa Học Huế. Và quyết định “cưu mang viễn xứ” đã đưa tôi đến Sài Gòn hơn 15 năm. Để rồi biết bao lần về thăm Huế tôi cũng có cảm giác tê cóng cảm xúc không nói được, như mình đang mất một cái gì đó quý giá vừa tìm lại được.
    Ba mẹ tôi không bao giờ ngạc nhiên mỗi lần tôi về thăm nhà và thả cái ba lô xuống một góc phòng. Ba nhìn tôi bình nhiên như thuở bé chạy đi chơi trong xóm mới về rồi nói “Ben vô thưa ôn mệ đi con!”.Ôn mệ cũng nhìn tôi rồi cười, không nói gì. Mẹ tôi vẫn nấu ăn cho buổi cơm chiều như mọi ngày vẫn diễn ra. Bởi cả nhà tôi tin rằng Huế là quê hương đi để mà nhớ, mà đã là nhớ thì phải trở về cho thỏa nỗi ngóng chờ của kẻ tha hương lẫn người cố quận như một lẽ tất nhiên.
    Huế đày đọa người Huế ly hương mà không cho quên Huế!
    Hơn 10 năm trước ngồi cà phê với đứa em còn là cộng tác viên của một tờ báo, sau một hồi im lặng nó nói: “Em thấy anh giống cái bánh”. Tôi ngạc nhiên hỏi: “Sao em so sánh anh lạ vậy?” Nó nói: “Bởi anh sinh ra trong một cái khuôn, cái nếp, cái gia giáo xưa của Huế”. Bất chợt mới thấy không chỉ riêng mình mà những người con Huế khác dù có lưu lạc tứ xứ vẫn gìn giữ những nếp nghĩ xưa cũ, vẫn “dạ thưa”, vẫn khiêm cung lễ độ trong cách ăn nói, vẫn thường soi mình trong mắt người khác để coi mình cư xử có làm phật lòng người khác hay không. Cũng như cảnh Huế đã “trơ gan “ giữa thời đô thị hóa để giữ gìn những thành quách, đền đài lăng miếu hoang rêu. Cảnh Huế và tình Huế đã đồng điệu trong việc lưu giữ, lắng đọng xuống bề sâu những giá trị thuộc về ngày cũ.
    Tôi vẫn có thói quen im lặng và thả mù khói thuốc xám bay khi nghe ai đó than phiền hay chưa vừa lòng với Huế. Những lúc đó tôi dấu được nỗi buồn trong mắt người đối diện nhưng không sao dấu được tiếng thở dài. Bởi kỷ niệm ký ức mới làm nên cái tình cái hồn cho nơi chốn, nếu nhìn Huế qua hình ảnh và hiểu Huế bằng chữ nghĩa thì chỉ thấy màu tàn phai lẫn tiếng thở than của thành quách đã nhuốm đời hoang phế. Người ta làm sao có thể hiểu được nỗi niềm, tình cảm của một đứa bé lớn lên ở Huế. Tôi làm sao quên những ngày rét căm của Huế ngồi sau xe mẹ chở tới trường, hay những tối muộn màng ba vẫn đi về để trả nợ áo cơm. Những đêm mưa dột hết cả chỗ nằm mà vẫn ấm hơi cha mẹ, hay những mùa  lụt tận năm nào vẫn còn ngập sũng lòng tôi. Có mấy ai biết mỗi lần gần Tết Nguyên Đán là nỗi nhớ quê nhà cứ tự nhiên thấm đẫm trong tận cùng sâu thẳm của mỗi tấc lòng, giữa đoạn trường đời nhau chờ ngày sum họp…
    Huế bình thản ngày tạ từ mà đau đáu ngày đoàn viên. Huế để người ta đi xa ngái mà day dứt thương nhớ cố quận khôn nguôi. Với tôi Sài Gòn là nhà mà Huế là quê hương!
    Những người bạn đi du lịch Huế về gặp tôi thường nói: “Huế buồn quá Linh ơi, mưa dầm dề mãi”. Tôi không ngạc nhiên bởi tôi biết Huế đủ nỗi buồn để chia đều hết thảy cho mọi người. Huế buồn từ thuở khai sinh bởi tiếng thở dài của người Chiêm lưu vong đã giao thoa với những người từ phía đàng Ngoài đi mở cõi, đã trải qua thất thủ kinh đô với những miễu âm hồn như vết tích, qua bao đời hưng phế của triều Nguyễn chỉ còn lại đền đài một thuở sương phai. Huế buồn bởi nắng sớm mưa trưa chiều tím đều mang vẻ khắc khoải hoài vọng quá khứ, lặng lẽ với hiện tại và mong chờ ở ngày mai sẽ hội ngộ tương phùng. Có người thì thắc mắc sao Huế đi ngủ sớm vậy, mới có 9 giờ tối mà đường phố vắng tênh. Thực ra Huế không thức khuya ngoài đường phố mà thức dưới mái nhà, bên cạnh cha mẹ anh em với những câu chuyện đời chuyện người bất tận như những cơn mưa. Những cơn mưa dầm như một món đặc sản đã làm cho tình cảm Huế ít phát triển hướng ngoại mà thường hướng về chiều sâu của nội tâm, âm thầm mà chung thủy. Thế nên, người ở lại thì vẫn năm tháng đợi chờ gót lữ hành của kẻ “khăn gói đi xa”. Người viễn xứ thì luôn có một “góc Huế” trong mớ hành trang của ký ức để luôn canh cánh trở về mỗi khi thấy nhớ.
    Huế cũng như bao bà mẹ quê trên đất nước này: giản dị, chất phác đơn sơ nhưng luôn bao dung, cảm thông, nhớ thương những đứa con luân lạc của mình. Làm sao ra đi cho đành đoạn mà không khắc khoải ngày trở về thăm Huế: nơi chốn lưu giữ một phận đời tôi.
 

– Bùi Hoàng Linh

Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.
Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.