Hôm nay,  

Tháng Tư Ngửa Mặt Nhìn Trời

29/04/202608:45:00(Xem: 630)
30 tháng 4
Bức ảnh do nữ phóng viên Françoise Demulder chụp ghi lại cảnh xe tăng 390 (trái) của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam húc đổ cổng chính dinh Độc Lập vào trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, trong khi xe tăng 843 (phải) bị kẹt lại ở cổng phụ. Ảnh: Wikipedia.

            

 

Ngày hôm qua tôi dọn tủ quần áo cũ, mang ra phơi dưới nắng gió tháng Tư. Tháng Tư ở thành phố Đông Bắc Seattle năm nay rất đẹp, nắng ấm áp, màu nắng chảy trên những ngọn cây hoa đào, đẹp như có ai rót mật ong lên những chùm hoa. Mang những chiếc áo mùa đông để trong tủ lâu ngày ra phơi vào thời tiết này là đúng nhất. Những chiếc áo này thật ra là những chiếc áo không mặc tới mà vẫn muốn giữ; Áo dài nội hóa của tôi mang theo khi di tản từ 1975, cái áo gilet mầu xám tro của Bố, Bố qua đời từ năm 1985 vẫn giữ, áo cánh lụa của Mẹ may tay, thỉnh thoảng nhớ Mẹ tôi vẫn mang ra măc, vài cái áo của 3 đứa con hồi còn nhỏ bà ngoại may tay cho chúng….Con gấu nhồi bông, mấy cái chăn em bé có hình con thỏ, con mèo…, bộ áo đồng phục của trẻ từ hồi chúng học Mẫu Giáo,Tiểu Học (nay chúng đã có gia đình)

Mở cái tủ quần áo cũ ra là mở cuốn sách ký ức…trang nào cũng đầy ắp kỳ niêm. Nhất là áo khăn của Bố Mẹ đã qua đời để lại.

51 năm rồi. Một thời gian nửa thế kỷ có thể là nguyên một đời người của ai đó.Tôi nhìn những chiếc áo, chiếc khăn,nhớ lại cái ngày cuối tháng Tư năm đó ngổi co ro với cha mẹ già trong lòng chiếc máy bay quân sự Hoa Kỳ. nhớ lại như nhớ một ký ức xa lắc xa lơ mà vẫn rõ như thước phim quay chậm.Nhớ lại những ngày tháng vừa đi vừa quay đầu nhìn lại, vừa khóc tức tưởi của bao nhiêu người dân miền Nam Việt Nam.
 

Năm mươi năm, những con số thống kê tử trận của quân lính Nam, Bắc hai miền, nhớ lại những con số tử vong của tù Cải Tạo, của Thuyền Nhân….Những cái chết oan khiên, tức tưởi….Những cái chết của người Việt…được gọi bằng những Anh Hùng hay những Tội Đồ tùy theo góc đứng, góc nhìn.

Có những người bạn luống tuổi gặp nhau, bảo nhau hãy quên đi, đừng nhớ nữa….Con cháu chúng nó mai này, nếu muốn thì vào Thư Viện tìm đọc. Chúng đọc được Lịch Sử của Việt Nam như thế nào…? Cái lịch sử của bên “Thắng” hay bên “Thua” viết.

  

Tháng Tư của năm 2026, tôi (vẫn) nhận được, mới tuần trước, một lá thư của một Thương Phế Binh-của quân đội VNCH- gửi từ Thôn Hòa An,Xã Phú Lộc, Thành Phố Huế.Tôi nhớ lần cuối cùng tôi về Huế, liên lạc được một số Thương Phế Binh của VNCH cũng trên 20 năm rồi, bằng cách nào đo họ vẫn chuyền tay nhau địa chỉ của tôi, may mà tôi không đổi địa chỉ…

  

Mỗi lần nhìn thấy những tấm hình của một người đàn ông luống tuổi, quần áo xác xơ, cụt tay, hay cụt chân, ngồi trên một cái ghế đẩu,cầm cái chứng chỉ quân ngũ của VNCH mấy chục năm về trước bằng bàn tay còn lại, lòng tôi cứ rơi ra từng mảnh. Rơi thì rơi, cũng chẳng làm sao mà làm cho những bức hình đó hồi sinh được, chân tay ở đâu mà lắp vào… Bây giờ tôi chỉ biết chuyển lá thư này đến những hội Bảo Trở TPB của VNCH.

 

Tháng Tư sau 51 năm, thời gian đó vẫn không làm cho một người miền Nam thời VNCH quên được quá khứ của mình nhưng cũng vì không quên được, nên đôi khi không còn muốn ngồi đây mà kể chuyện…ngày xưa. Lòng đôi khi, như có viên đá, ai cầm ném xuống dòng sông, rơi một tiếng “tõm” nhẹ hẫng rồi chìm lỉm không cả bóng không cả tăm. Nhưng lạ lắm, tiếng rơi lạnh lùng đó vẫn để lại tiếng “gọi đò” trong trái tim người bạt xứ.

 

Viên sỏi chìm

mặt hồ im

Hình như tiếng sóng trong tim

gọi đò.

 

Tiếng sóng trong tim cứ gọi, con đò đã nát, tan tác từng mảnh ván mục, không con mảnh nào xót lại…viên đá đã chìm lỉm đáy sông sâu.

Thôi đừng gọi nữa, chẳng còn con đò nào trên dòng sông quá khứ đó.

 

Tháng tư ngửa mặt nhìn trời

 Nhớ xem hồng nhạn đã rơi phương nào

Cánh chim gãy sợi tóc đau

 Con đò chở khẳm nỗi sầu lưu vong.

 

Tháng Tư, chao ơi là nhớ!

 

 

Trần Mộng Tú

Tháng 4 năm 2026

 

 

Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.
Buổi sáng cuối cùng ở Chamonix im lặng lạ thường. Suốt đêm qua, tôi đã để cửa sỗ mở toang, nên khi giựt mình thức dậy, ánh sáng trong suốt của núi tràn đầy phòng. Tấm mền len và drap giường trắng lóa như được phủ lân tinh. Không một tiếng động nào từ dưới đường phố vọng lên. Chỉ có hơi lạnh. Tôi nằm co ro và nghĩ đến ly cà-phê đen. Mùi thơm sẽ bốc lên cùng hơi nóng, rồi tan dần vào không khí. Giống như ký ức. Đôi giày đóng đầy đất bùn và gậy trekking đã xếp gọn gàng trong bao duffle cùng với áo quần đi núi từ đêm hôm qua. Chúng nằm bên cửa, sẵn sàng lên đường. Bên ngoài cửa sổ, rặng núi Mont Blanc vẫn kia, vẫn vĩ đại, vẫn trùng điệp, vẫn lặng lẽ xa xăm. Tôi nghĩ đến 11 ngày vừa qua và cảm thấy buồn buồn, làm như có điều gì tôi đã đánh mất, hay đã để quên trên ngọn núi kia, ở đâu đó, trong quãng đường dài tôi đã đi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.