Hôm nay,  

Vốn Liếng Yêu Thương

11/05/202617:22:00(Xem: 1162)
Gia dinh
Gia Đình, Gemini vẽ         


                                                                                

À Ơi, Ru Con

Tất cả mười đứa con đều được Mạ thương đặc biệt. Con đầu, con út tất nhiên được thương thật nhiều. Con lập gia đình trễ, hoặc có con muộn, con qua Đức chậm phải chịu phận uống nước đục, con qua Đức sớm phải xa Ba Mạ khi tuổi vừa xong trung học, con trực tiếp chăm sóc Ba Mạ… Tất cả đều có lý do để được Mạ thương thật nhiều. Riêng tôi, chẳng có lý do nào rõ ràng, nhưng tôi vẫn cảm thấy tình thương vô bờ của Mạ. Mạ thương mỗi đứa con đặc biệt, đơn giản vì bầy con là con của Mạ. Tôi cảm động rưng rưng khi anh cả nhắc chuyện ngày xưa. Anh kể, lúc tôi còn bé, Mạ thương tôi lạ lùng. Cứ trước khi đặt tôi vào trong nôi để ngủ, Mạ hun tôi không biết bao nhiêu lần. Mạ vừa ru, vừa hò: “À ơi, ru con, con ngủ cho muồi…” Tiếng hò ru con của Mạ cứ theo anh, văng vẳng trong tai mỗi khi anh nghĩ đến Mạ. Lúc đó, dù còn quá nhỏ, nhưng những lời ru ngọt ngào của Mạ đã khắc sâu vào tâm khảm tôi.

Ba kể, Mạ hay nựng nịu hai đứa út song sinh, nói, ai đem núi vàng tới, Mạ cũng không đổi hai cục cưng của Mạ. Hai đứa út vẫn thích nằm ngủ gần Mạ, dầu khi đã lớn bộn.

Mạ lo lắng quan tâm sức khỏe cho cả nhà. Khi bầy con còn nhỏ, Mạ vẫn giữ nguyên tắc ăn vừa đủ no, chứ không ăn ráng. Anh chị em trong nhà, hễ ai hơi phổng phao một chút, Mạ nhẹ nhàng nhắc nhở.

Vợ Chồng Có Đôi

Ở Đức, Mạ luôn để phần dẫn đường cho Ba. Ba đi đâu, Mạ theo đó. Có lần, Ba đi mua bánh mì, Ba làm rơi tấm hình của Mạ, do sơ ý lúc lấy tiền trong ví. Đến chiều, khi hai chị em tôi đi ngang tiệm bánh mì, cô bán hàng ngoắc ngoắc, kêu vào đưa tấm hình. Cô nói: “Hình của Mẹ các em đó.” Ở những con đường của thành phố Bad-Nauheim, rất nhiều người đã thành thân thuộc với hình ảnh đôi vợ chồng già người Việt. Những tháng trời đẹp, Ba Mạ tham gia các chuyến du ngoạn dành cho công dân cao niên, do thành phố tổ chức.

Thỉnh thoảng Ba Mạ đi chơi ở những tỉnh lân cận. Ba có giấy chứng nhận tàn tật, miễn mua vé, chỉ cần vé cho Mạ mà thôi. Ba Mạ đến mua vé ở máy tự động. Ba nhìn hình vẽ con nít trên nút bấm, Ba nghĩ đó là phụ nữ, nên bấm ở nút đó, mua vé cho Mạ. Nghe Ba Mạ kể lại, mấy đứa con cười thích thú, thấy nhầm lẫn của Ba Mạ dễ thương hết sức.

Mùa hè, Ba loay hoay nhiều giờ ngoài vườn. Mạ làm ly nước cam đem cho Ba. Ba nghỉ tay. Hai ông bà ngồi trên xích đu, uống nước cam, nhẩn nha nói chuyện với nhau. Người hàng xóm quan sát, nói với chúng tôi: “Đó là cặp vợ chồng hạnh phúc nhất trần gian.” Ba Mạ học được công thức nước uống dưỡng sinh: xay táo, cà rốt, cần tây, mướp đắng. Thời gian tôi về nhà Ba Mạ, sáng nào Mạ cũng nhắc tôi làm nước sinh tố đặc biệt để Ba uống sớm cho công hiệu.

Có lần trong bao gạo Thái Lan, người ta bỏ thêm một lon nước dừa khuyến mãi. Hôm đó, Ba Mạ ở nhà một mình. Hết gạo trong thùng. Ba đem bao gạo mới ra khui. Khi Mạ lần múc gạo từ bao ra thùng, đụng phải vật cứng cứng tròn tròn, có lẽ hơi giống trái lựu đạn. Mạ hoảng hồn, kêu Ba. Ba Mạ cùng nhau kéo bao gạo để ngoài sân, chờ con gái và con rể về “xử lý”.

Bầy cháu nội ngoại

Bầy cháu nội ngoại, ít nhiều đều có những kỷ niệm thật thắm thiết với Mạ.

Khi vợ chồng anh cả có con đầu lòng, chúng tôi còn ở Việt Nam. Mạ ngắm nhìn thằng bé trong hình, mơ ước đến ngày được gặp con, cháu, để bồng ẵm, nựng nịu đứa cháu đầu tiên. Những cháu ra đời khi Ba Mạ đã qua Đức, các bà mẹ trẻ đều có hạnh phúc được Ba Mạ đến chăm sóc một vài tuần. Ba Mạ tạo thành “truyền thống” nuôi đẻ. Ba Mạ đi lưu diễn từ bắc chí nam. Khi nào có đứa cháu ra đời, Ba Mạ thu xếp gồng gánh đến nhà chăm sóc cháu vài tuần.

Khi Ba Mạ qua Đức, con trai tôi được 10 tháng. Nhớ đến câu “Ăn cơm với cá, như mạ với con”, tôi thích con gọi tôi bằng Mạ. Khi ngồi chơi với con có Mạ, tôi xưng Mạ với con tôi, Mạ nói: “Thôi, con đừng xưng Mạ với cu Bê, chữ Mạ của thời xưa rồi.” Thời gian tôi đi học ở đại học Frankfurt, Bê được ông Ngoại đón từ vườn trẻ về nhà ông bà Ngoại. Buổi chiều, đi học về, tôi đến nhà Ba Mạ để đón Bê. Hôm nào muốn đi chợ, Mạ chuẩn bị sẵn. Tôi chở Mạ và Bê đi chợ. Thuở đó, chợ chỉ mở cửa đến sáu giờ chiều. Tôi đang chạy xe, Bê ngồi sau nói vọng lên:

- Mẹ ơi, Mẹ phải chạy nhanh lên, chớ không thôi đến nơi là chợ đóng cửa.

Thấy vận tốc chạy xe như rùa của mẹ, Bê ngại, “bò” tới nơi sẽ hơn 6 giờ chiều. Mạ chỉ băn khoăn, trễ quá, giống chợ chiều ở Việt Nam, sợ thịt ôi, cá ươn, rau héo. Tôi trấn an Mạ:

- Chỉ sợ trễ, họ dẹp hàng thôi. Chứ chợ ở đây họ bán hàng giờ nào cũng phải bảo đảm phẩm chất của hàng hóa.

Mua đầy đủ hàng hóa, trời còn sáng, Bê xin ra cầu tuột sau chợ chơi. Mạ nhắc chừng:

- Bê ơi, con phải cẩn thận nghe. Thấy cầu tuột cao quá, bà Ngoại lo lo.


Mạ lóng ngóng đi lui tới, lâu lâu lại kêu:

- Bê ơi, Bê ơi, chạy chậm, không thôi té đau.

Tôi xong đại học, có việc làm ở München, tít tận miền nam nước Đức. Gia đình nhỏ của tôi phải dọn nhà. Bê buồn lắm, phải xa nhà ông bà ngoại hơn 500 cây số. Tôi cắt nghĩa cho Bê, rằng chúng tôi phải làm việc để kiếm tiền ăn ở. Bê không hiểu, nói:

- Ba Mẹ không cần mua đồ ăn. Mình chỉ cần qua ông bà Ngoại là có cơm ngon rồi.

Khi tôi sinh Bê, Ba Mạ chưa qua, tôi không có được hạnh phúc được Mạ nuôi đẻ. Bê tuy không được may mắn có ông bà Ngoại khi chào đời. Nhưng có hạnh phúc sống bên ông bà Ngoại một thời gian. Bê chơi lúc thúc cả ngày với bà Ngoại, vậy mà đến giờ mẹ về, cu cậu giả đò đau ốm hoặc trốn đâu đó. Tôi đi tìm Bê thì nghe tiếng Mạ cười, nói với Bê:

- Bê, con làm chi mà đục dưới giường, cho dính đầy bụi bặm rứa!


Mạ cùng với bầy con, cháu đi hồ bơi, Mạ bơi giỏi hơn mấy đứa con gái của Mạ rất nhiều. Ra biển, Mạ xăng xái lui tới bơi lội. Đám cháu hay gọi đùa là cool Oma.

Nghệ Thuật Nấu Ăn

Nhớ những ngày tết xưa, dù bận rộn với tiệm sách, Mạ vẫn sắp xếp làm bánh mứt. Những ngày cuối năm, thuở gia đình ở Quảng Ngãi, mùi mứt gừng, bánh thuẫn thơm lựng trong nhà. Mạ gói bánh in bột nếp, bột mình tinh, bầy con cũng được tham gia, cắt giấy bóng kiếng, lâu lâu xin Mạ cho tập gói. Hoặc cắt rua hai đầu để gói kẹo hột sen. Khi anh cả đi du học, có lẽ anh kể bên Đức không có nước mắm, nên Mạ thắng nước mắm với đường trong chảo. Nhìn hơi từa tựa kẹo bùn. Không biết rồi sau đó, Ba Mạ có gởi được món ăn đặc biệt qua Đức không.



Mạ hay làm thịt chà bông, Mạ gọi là thịt chấy, để sẵn từng hũ, phân phát cho bầy cháu. Mấy đứa cháu mê ăn cơm với thịt chấy của bà nội. Thấy Mạ làm cực quá, em trai tôi hỏi công thức về tự làm. Nhưng mấy đứa nhỏ phụng phịu: “Thịt Ba không ngon. Thịt Bà Nội ngon hơn”. Món cá kho rau răm của Mạ tuyệt vời. Bê ghiền món cá kho. Thỉnh thoảng tôi bày cá ra kho. Bê nhận xét: “Mẹ kho cá cũng ngon, nhưng chưa bằng Bà Ngoại”. Bê nhắc món cá hun khói kho bất hủ của Bà Ngoại. Do là, có lần, cá hồi hun khói hạ giá, nên mua nhiều. Ăn với bánh mì đã ngán, mà vẫn còn. Vậy là Mạ có sáng kiến, cuốn cá tròn tròn, kho với rau răm. Ai dè, món cá hồi kho này lại ngon độc đáo.

Lúc mới qua Đức ở trại chuyển tiếp, Mạ học cách làm nem của người cùng trại. Mỗi mùa Giáng Sinh, Mạ tận dụng giấy gói quà gói ngoài bọc nem. Tụ tập ở nhà Ba Mạ qua mùa tết tây, Mạ phân phát nem cho bầy con cháu. Ai nấy ra về với những lọn nem xanh đỏ vui mắt và thật ngon. Món thịt kho tàu của Mạ đặc biệt lắm. Miếng thịt nâu óng, ăn cơm hít hà, ăn lủng nồi cơm luôn. Ba Mạ đi chợ mỗi ngày. Lúc thì Ba Mạ mua yoghurt “hàng hiệu” ở siêu thị. Có khi, Ba Mạ mua ở chợ trái cây những bịch to có nhiều loại rau cải khác nhau. Ba Mạ mua vài loại bánh mì, bánh ngọt ở tiệm quen. Để lúc chiều chiều, con cháu ghé chơi, buồn miệng, có chi mà nhai. Kẻo không thôi, như kiểu nói giỡn chơi của Mệ Nội, của Mạ, hở miệng chó nó... ẻ vô. Mạ thích con gái đưa đi chợ hơn. Vì con gái kiên nhẫn, chờ Mạ chọn lựa những miếng thịt thăn ngon nhất để làm thịt chấy. Có khi lựa xong, Mạ thấy miếng thịt khác ngon hơn, Mạ muốn đổi. Tất cả chỉ vì Mạ muốn nấu bữa cơm ngon, các món khoái khẩu cho con và cháu. Ba ăn chay, Mạ cũng ăn theo Ba. Thỉnh thoảng Mạ ăn dặm chút thịt cá, nhưng rất ít. Ngày ở trại, Ba gọi Mạ là phi hành gia. Mạ mua bao hành 5 ký lô, xắt mỏng rồi phi hành trong dầu, bỏ sẵn từng hũ thủy tinh phân phát cho các con. Mạ nói, để mấy đứa đỡ mất thì giờ và đỡ hôi nhà. Khi kho nấu, chỉ múc ra một hai muỗng hành phi bỏ vô là món canh, món xào thơm tho mặn mà. Vào xuân, khi lá gai Brennessel (nettle) lên mơn mởn, Ba Mạ đi thu hoạch lá chuẩn bị cho những đợt bánh gai. Bánh gai của Ba Mạ luôn đắt hàng. Ai có mặt cũng ăn thử và xin để dành cho những người không đến được.

Bây giờ ở nhà em gái tôi, mặc dù nhà có nhiều tấm thớt mới, em tôi vẫn giữ tấm thớt nhỏ với tay cầm, rất cũ kỹ. Tôi hỏi, sao không thay. Em nói, tự nhiên thích giữ, vì ngày xưa Mạ ưa xài tấm thớt đó.

Những Ngày Cơ Cực

Tiệm sách đã bị mất ngay năm 1975. Đến 1976 quán cà phê của gia đình bị tịch thu đã làm rúng động thị xã nhỏ bé. Lúc đó Mệ Nội vẫn còn ở với chúng tôi. Mệ và mấy Mạ con bị dồn về căn nhà nhỏ ở ngoại ô. Ra khỏi nhà, chúng tôi chẳng được đem gì theo ngoài vài bộ áo quần và ít chén bát. Sau đó vài ngày, là đợt đi thăm nuôi tù cải tạo. Mạ bới xách chuẩn bị thăm Ba. Mạ ngồi chờ xe lam ở quán cơm bến xe, bác chủ quán hỏi thăm có phải Mạ vừa bị tịch thu nhà không? Đó là bác Kh., một người không quen biết, đã mở lời, rủ Mạ đến bán hàng chung với bác. Thật là cơ duyên lành. Trong lúc khốn đốn trắng tay, Mạ chưa biết làm gì để lo cho Mệ, để thăm Ba và nuôi bầy con, để có kế sinh nhai, lại gặp người giúp đỡ. Trong thời gian ngắn, quán cơm thay đổi nhiều. Khách hàng đến đông hơn vì bây giờ quán cơm có bà Uyên, là Mạ. Thời gian đầu, những tối sau khi đóng cửa tiệm cơm, mấy Mạ con về nhà ngủ. Tôi nhớ, có tối, thấy đường khuya vắng, mấy chị em đưa xe đạp cho Mạ thử đạp. Mấy Mạ con tức cười, rúc rích suốt đường về.

Sau đó, chị lớn của tôi về Quảng Ngãi thu xếp cho tôi và hai đứa em trai vô Sài Gòn. Em gái và hai đứa út ở lại với Mạ. Thời gian này, các bạn của em tôi hay lui tới và có nhiều kỷ niệm với Mạ. Bạn em kể lại, dường như ngày nào mấy đứa cũng có mặt ở quán cơm để chơi với em, rồi cùng rửa chén, cùng bưng cơm cho khách. Sau đó, cùng ăn vụng mứt củ mình tinh, Mạ làm để dành đi thăm nuôi Ba... Ngày đó, củ mình tinh được Mạ chế biến thành từng miếng mứt rim đường đen ngon ghê lắm. Bao năm rồi, bao nhiêu thứ cao lương mỹ vị vẫn không sánh nổi với miếng mứt ăn vụng ngày xưa.

Mỗi mùa hè mấy chị em thay phiên nhau về Quảng Ngãi thăm Ba Mạ và mấy đứa em nhỏ. Hết hè, đám con vô lại Sài Gòn. Mạ chuẩn bị nào là xôi ngọt, có đậu đen, gừng, mè, thịt cá kho mặn, ruốc kho sả. Ngoài ra, Mạ có món mỡ ướp đường để được lâu, dùng kho cá rất ngon. Lúc đó hai đứa út còn nhỏ quá, Mạ không muốn xa hai đứa, nên giữ ở lại Quảng Ngãi. Thế mà, phường khóm không chứng giấy cho hai đứa nhỏ vào lớp một vì là con của “ngụy quyền”. Mạ đành phải đứt ruột gửi hai đứa vô Sài Gòn ở với mấy anh chị để khỏi thất học. 

Những năm cuối thập niên 70, đầu thập niên 80 là thời gian quá cơ cực. Thật tội cho Mạ, phải một mình bươn chải ngoài Quảng Ngãi. Mấy chị em ở Sài Gòn, sống bằng nguồn thu nhập rất khiêm tốn, lương giáo viên của hai người chị và những thùng quà “khẩn cấp cứu đói”, “khẩn cấp cứu khó” của ông anh từ Tây Đức gửi về. Nhưng trên hết, Mạ vẫn nuôi bầy con bằng quán cơm bình dân ở bến xe. Mỗi khi Mạ vô Sài Gòn, Mạ tay xách, nách mang, gạo cơm, mắm muối cho bầy con.

Sở Thích Văn Nghệ

Mạ rất thích xem ca nhạc. Mạ luôn là khán giả thưởng thức hết lòng những màn văn nghệ của tiệc cưới. Những lần đi coi đại nhạc hội, Ba không ngồi lâu vì tiếng nhạc to. Nhưng Mạ rõ là khán giả ái mộ, trân trọng lời ca, tiếng hát của ca sĩ. Mạ luôn lắng nghe chương trình cho đến hết giờ.

Những khi các con, cháu của Mạ đóng góp văn nghệ ở tiệc tùng, đám cưới, Mạ là một khán giả, thính giả tuyệt vời. Mạ chăm chú nghe, ngắm, khuôn mặt Mạ rạng ngời niềm vui. Mạ không chỉ khen thưởng những màn trình diễn trên sân khấu, mà Mạ còn trầm trồ khi bầy cháu nội ngoại có những tiết mục bỏ túi những lúc gia đình tụ họp. Như khi mấy đứa cháu nhỏ lúc lắc hát “mua vịt, mua vịt” (move it), hoặc nhảy lưng tưng ca “ghế đâu ghế đâu” (get down). Trong mắt của Mạ, bầy cháu nội ngoại đều là những ca sĩ có tài năng.

Ôi, biết bao nhiêu kỷ niệm đầm ấm, ngọt ngào với Mạ yêu. Đã có những ngày tháng gian nan, thống khổ. Mạ không quản ngại khó khan. Mạ không nề hà, nhọc nhằn. Với trái tim bao la như biển, với vòng tay bao dung rộng mở, Mạ ôm ấp, nâng niu bầy con, nuôi dưỡng chúng con nên người. Dẫu cuộc sống có đôi lúc trắc trở, không như ý, nhưng với hành trang Mạ khoác lên vai chúng con, bầy con của Mạ có được vốn liếng yêu thương vô cùng quý giá. Giờ đây, chúng con không còn diễm phúc bông hồng cài áo. Nhưng Mạ vẫn luôn trong tâm, trong trí của tụi con. Mạ mãi là bóng mát che chở cho tụi con trong cuộc đời.

Hoàng Quân

 

Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.
Buổi sáng cuối cùng ở Chamonix im lặng lạ thường. Suốt đêm qua, tôi đã để cửa sỗ mở toang, nên khi giựt mình thức dậy, ánh sáng trong suốt của núi tràn đầy phòng. Tấm mền len và drap giường trắng lóa như được phủ lân tinh. Không một tiếng động nào từ dưới đường phố vọng lên. Chỉ có hơi lạnh. Tôi nằm co ro và nghĩ đến ly cà-phê đen. Mùi thơm sẽ bốc lên cùng hơi nóng, rồi tan dần vào không khí. Giống như ký ức. Đôi giày đóng đầy đất bùn và gậy trekking đã xếp gọn gàng trong bao duffle cùng với áo quần đi núi từ đêm hôm qua. Chúng nằm bên cửa, sẵn sàng lên đường. Bên ngoài cửa sổ, rặng núi Mont Blanc vẫn kia, vẫn vĩ đại, vẫn trùng điệp, vẫn lặng lẽ xa xăm. Tôi nghĩ đến 11 ngày vừa qua và cảm thấy buồn buồn, làm như có điều gì tôi đã đánh mất, hay đã để quên trên ngọn núi kia, ở đâu đó, trong quãng đường dài tôi đã đi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.