Hôm nay,  

Vốn Liếng Yêu Thương

5/11/202617:22:00(View: 1164)
Gia dinh
Gia Đình, Gemini vẽ         


                                                                                

À Ơi, Ru Con

Tất cả mười đứa con đều được Mạ thương đặc biệt. Con đầu, con út tất nhiên được thương thật nhiều. Con lập gia đình trễ, hoặc có con muộn, con qua Đức chậm phải chịu phận uống nước đục, con qua Đức sớm phải xa Ba Mạ khi tuổi vừa xong trung học, con trực tiếp chăm sóc Ba Mạ… Tất cả đều có lý do để được Mạ thương thật nhiều. Riêng tôi, chẳng có lý do nào rõ ràng, nhưng tôi vẫn cảm thấy tình thương vô bờ của Mạ. Mạ thương mỗi đứa con đặc biệt, đơn giản vì bầy con là con của Mạ. Tôi cảm động rưng rưng khi anh cả nhắc chuyện ngày xưa. Anh kể, lúc tôi còn bé, Mạ thương tôi lạ lùng. Cứ trước khi đặt tôi vào trong nôi để ngủ, Mạ hun tôi không biết bao nhiêu lần. Mạ vừa ru, vừa hò: “À ơi, ru con, con ngủ cho muồi…” Tiếng hò ru con của Mạ cứ theo anh, văng vẳng trong tai mỗi khi anh nghĩ đến Mạ. Lúc đó, dù còn quá nhỏ, nhưng những lời ru ngọt ngào của Mạ đã khắc sâu vào tâm khảm tôi.

Ba kể, Mạ hay nựng nịu hai đứa út song sinh, nói, ai đem núi vàng tới, Mạ cũng không đổi hai cục cưng của Mạ. Hai đứa út vẫn thích nằm ngủ gần Mạ, dầu khi đã lớn bộn.

Mạ lo lắng quan tâm sức khỏe cho cả nhà. Khi bầy con còn nhỏ, Mạ vẫn giữ nguyên tắc ăn vừa đủ no, chứ không ăn ráng. Anh chị em trong nhà, hễ ai hơi phổng phao một chút, Mạ nhẹ nhàng nhắc nhở.

Vợ Chồng Có Đôi

Ở Đức, Mạ luôn để phần dẫn đường cho Ba. Ba đi đâu, Mạ theo đó. Có lần, Ba đi mua bánh mì, Ba làm rơi tấm hình của Mạ, do sơ ý lúc lấy tiền trong ví. Đến chiều, khi hai chị em tôi đi ngang tiệm bánh mì, cô bán hàng ngoắc ngoắc, kêu vào đưa tấm hình. Cô nói: “Hình của Mẹ các em đó.” Ở những con đường của thành phố Bad-Nauheim, rất nhiều người đã thành thân thuộc với hình ảnh đôi vợ chồng già người Việt. Những tháng trời đẹp, Ba Mạ tham gia các chuyến du ngoạn dành cho công dân cao niên, do thành phố tổ chức.

Thỉnh thoảng Ba Mạ đi chơi ở những tỉnh lân cận. Ba có giấy chứng nhận tàn tật, miễn mua vé, chỉ cần vé cho Mạ mà thôi. Ba Mạ đến mua vé ở máy tự động. Ba nhìn hình vẽ con nít trên nút bấm, Ba nghĩ đó là phụ nữ, nên bấm ở nút đó, mua vé cho Mạ. Nghe Ba Mạ kể lại, mấy đứa con cười thích thú, thấy nhầm lẫn của Ba Mạ dễ thương hết sức.

Mùa hè, Ba loay hoay nhiều giờ ngoài vườn. Mạ làm ly nước cam đem cho Ba. Ba nghỉ tay. Hai ông bà ngồi trên xích đu, uống nước cam, nhẩn nha nói chuyện với nhau. Người hàng xóm quan sát, nói với chúng tôi: “Đó là cặp vợ chồng hạnh phúc nhất trần gian.” Ba Mạ học được công thức nước uống dưỡng sinh: xay táo, cà rốt, cần tây, mướp đắng. Thời gian tôi về nhà Ba Mạ, sáng nào Mạ cũng nhắc tôi làm nước sinh tố đặc biệt để Ba uống sớm cho công hiệu.

Có lần trong bao gạo Thái Lan, người ta bỏ thêm một lon nước dừa khuyến mãi. Hôm đó, Ba Mạ ở nhà một mình. Hết gạo trong thùng. Ba đem bao gạo mới ra khui. Khi Mạ lần múc gạo từ bao ra thùng, đụng phải vật cứng cứng tròn tròn, có lẽ hơi giống trái lựu đạn. Mạ hoảng hồn, kêu Ba. Ba Mạ cùng nhau kéo bao gạo để ngoài sân, chờ con gái và con rể về “xử lý”.

Bầy cháu nội ngoại

Bầy cháu nội ngoại, ít nhiều đều có những kỷ niệm thật thắm thiết với Mạ.

Khi vợ chồng anh cả có con đầu lòng, chúng tôi còn ở Việt Nam. Mạ ngắm nhìn thằng bé trong hình, mơ ước đến ngày được gặp con, cháu, để bồng ẵm, nựng nịu đứa cháu đầu tiên. Những cháu ra đời khi Ba Mạ đã qua Đức, các bà mẹ trẻ đều có hạnh phúc được Ba Mạ đến chăm sóc một vài tuần. Ba Mạ tạo thành “truyền thống” nuôi đẻ. Ba Mạ đi lưu diễn từ bắc chí nam. Khi nào có đứa cháu ra đời, Ba Mạ thu xếp gồng gánh đến nhà chăm sóc cháu vài tuần.

Khi Ba Mạ qua Đức, con trai tôi được 10 tháng. Nhớ đến câu “Ăn cơm với cá, như mạ với con”, tôi thích con gọi tôi bằng Mạ. Khi ngồi chơi với con có Mạ, tôi xưng Mạ với con tôi, Mạ nói: “Thôi, con đừng xưng Mạ với cu Bê, chữ Mạ của thời xưa rồi.” Thời gian tôi đi học ở đại học Frankfurt, Bê được ông Ngoại đón từ vườn trẻ về nhà ông bà Ngoại. Buổi chiều, đi học về, tôi đến nhà Ba Mạ để đón Bê. Hôm nào muốn đi chợ, Mạ chuẩn bị sẵn. Tôi chở Mạ và Bê đi chợ. Thuở đó, chợ chỉ mở cửa đến sáu giờ chiều. Tôi đang chạy xe, Bê ngồi sau nói vọng lên:

- Mẹ ơi, Mẹ phải chạy nhanh lên, chớ không thôi đến nơi là chợ đóng cửa.

Thấy vận tốc chạy xe như rùa của mẹ, Bê ngại, “bò” tới nơi sẽ hơn 6 giờ chiều. Mạ chỉ băn khoăn, trễ quá, giống chợ chiều ở Việt Nam, sợ thịt ôi, cá ươn, rau héo. Tôi trấn an Mạ:

- Chỉ sợ trễ, họ dẹp hàng thôi. Chứ chợ ở đây họ bán hàng giờ nào cũng phải bảo đảm phẩm chất của hàng hóa.

Mua đầy đủ hàng hóa, trời còn sáng, Bê xin ra cầu tuột sau chợ chơi. Mạ nhắc chừng:

- Bê ơi, con phải cẩn thận nghe. Thấy cầu tuột cao quá, bà Ngoại lo lo.


Mạ lóng ngóng đi lui tới, lâu lâu lại kêu:

- Bê ơi, Bê ơi, chạy chậm, không thôi té đau.

Tôi xong đại học, có việc làm ở München, tít tận miền nam nước Đức. Gia đình nhỏ của tôi phải dọn nhà. Bê buồn lắm, phải xa nhà ông bà ngoại hơn 500 cây số. Tôi cắt nghĩa cho Bê, rằng chúng tôi phải làm việc để kiếm tiền ăn ở. Bê không hiểu, nói:

- Ba Mẹ không cần mua đồ ăn. Mình chỉ cần qua ông bà Ngoại là có cơm ngon rồi.

Khi tôi sinh Bê, Ba Mạ chưa qua, tôi không có được hạnh phúc được Mạ nuôi đẻ. Bê tuy không được may mắn có ông bà Ngoại khi chào đời. Nhưng có hạnh phúc sống bên ông bà Ngoại một thời gian. Bê chơi lúc thúc cả ngày với bà Ngoại, vậy mà đến giờ mẹ về, cu cậu giả đò đau ốm hoặc trốn đâu đó. Tôi đi tìm Bê thì nghe tiếng Mạ cười, nói với Bê:

- Bê, con làm chi mà đục dưới giường, cho dính đầy bụi bặm rứa!


Mạ cùng với bầy con, cháu đi hồ bơi, Mạ bơi giỏi hơn mấy đứa con gái của Mạ rất nhiều. Ra biển, Mạ xăng xái lui tới bơi lội. Đám cháu hay gọi đùa là cool Oma.

Nghệ Thuật Nấu Ăn

Nhớ những ngày tết xưa, dù bận rộn với tiệm sách, Mạ vẫn sắp xếp làm bánh mứt. Những ngày cuối năm, thuở gia đình ở Quảng Ngãi, mùi mứt gừng, bánh thuẫn thơm lựng trong nhà. Mạ gói bánh in bột nếp, bột mình tinh, bầy con cũng được tham gia, cắt giấy bóng kiếng, lâu lâu xin Mạ cho tập gói. Hoặc cắt rua hai đầu để gói kẹo hột sen. Khi anh cả đi du học, có lẽ anh kể bên Đức không có nước mắm, nên Mạ thắng nước mắm với đường trong chảo. Nhìn hơi từa tựa kẹo bùn. Không biết rồi sau đó, Ba Mạ có gởi được món ăn đặc biệt qua Đức không.



Mạ hay làm thịt chà bông, Mạ gọi là thịt chấy, để sẵn từng hũ, phân phát cho bầy cháu. Mấy đứa cháu mê ăn cơm với thịt chấy của bà nội. Thấy Mạ làm cực quá, em trai tôi hỏi công thức về tự làm. Nhưng mấy đứa nhỏ phụng phịu: “Thịt Ba không ngon. Thịt Bà Nội ngon hơn”. Món cá kho rau răm của Mạ tuyệt vời. Bê ghiền món cá kho. Thỉnh thoảng tôi bày cá ra kho. Bê nhận xét: “Mẹ kho cá cũng ngon, nhưng chưa bằng Bà Ngoại”. Bê nhắc món cá hun khói kho bất hủ của Bà Ngoại. Do là, có lần, cá hồi hun khói hạ giá, nên mua nhiều. Ăn với bánh mì đã ngán, mà vẫn còn. Vậy là Mạ có sáng kiến, cuốn cá tròn tròn, kho với rau răm. Ai dè, món cá hồi kho này lại ngon độc đáo.

Lúc mới qua Đức ở trại chuyển tiếp, Mạ học cách làm nem của người cùng trại. Mỗi mùa Giáng Sinh, Mạ tận dụng giấy gói quà gói ngoài bọc nem. Tụ tập ở nhà Ba Mạ qua mùa tết tây, Mạ phân phát nem cho bầy con cháu. Ai nấy ra về với những lọn nem xanh đỏ vui mắt và thật ngon. Món thịt kho tàu của Mạ đặc biệt lắm. Miếng thịt nâu óng, ăn cơm hít hà, ăn lủng nồi cơm luôn. Ba Mạ đi chợ mỗi ngày. Lúc thì Ba Mạ mua yoghurt “hàng hiệu” ở siêu thị. Có khi, Ba Mạ mua ở chợ trái cây những bịch to có nhiều loại rau cải khác nhau. Ba Mạ mua vài loại bánh mì, bánh ngọt ở tiệm quen. Để lúc chiều chiều, con cháu ghé chơi, buồn miệng, có chi mà nhai. Kẻo không thôi, như kiểu nói giỡn chơi của Mệ Nội, của Mạ, hở miệng chó nó... ẻ vô. Mạ thích con gái đưa đi chợ hơn. Vì con gái kiên nhẫn, chờ Mạ chọn lựa những miếng thịt thăn ngon nhất để làm thịt chấy. Có khi lựa xong, Mạ thấy miếng thịt khác ngon hơn, Mạ muốn đổi. Tất cả chỉ vì Mạ muốn nấu bữa cơm ngon, các món khoái khẩu cho con và cháu. Ba ăn chay, Mạ cũng ăn theo Ba. Thỉnh thoảng Mạ ăn dặm chút thịt cá, nhưng rất ít. Ngày ở trại, Ba gọi Mạ là phi hành gia. Mạ mua bao hành 5 ký lô, xắt mỏng rồi phi hành trong dầu, bỏ sẵn từng hũ thủy tinh phân phát cho các con. Mạ nói, để mấy đứa đỡ mất thì giờ và đỡ hôi nhà. Khi kho nấu, chỉ múc ra một hai muỗng hành phi bỏ vô là món canh, món xào thơm tho mặn mà. Vào xuân, khi lá gai Brennessel (nettle) lên mơn mởn, Ba Mạ đi thu hoạch lá chuẩn bị cho những đợt bánh gai. Bánh gai của Ba Mạ luôn đắt hàng. Ai có mặt cũng ăn thử và xin để dành cho những người không đến được.

Bây giờ ở nhà em gái tôi, mặc dù nhà có nhiều tấm thớt mới, em tôi vẫn giữ tấm thớt nhỏ với tay cầm, rất cũ kỹ. Tôi hỏi, sao không thay. Em nói, tự nhiên thích giữ, vì ngày xưa Mạ ưa xài tấm thớt đó.

Những Ngày Cơ Cực

Tiệm sách đã bị mất ngay năm 1975. Đến 1976 quán cà phê của gia đình bị tịch thu đã làm rúng động thị xã nhỏ bé. Lúc đó Mệ Nội vẫn còn ở với chúng tôi. Mệ và mấy Mạ con bị dồn về căn nhà nhỏ ở ngoại ô. Ra khỏi nhà, chúng tôi chẳng được đem gì theo ngoài vài bộ áo quần và ít chén bát. Sau đó vài ngày, là đợt đi thăm nuôi tù cải tạo. Mạ bới xách chuẩn bị thăm Ba. Mạ ngồi chờ xe lam ở quán cơm bến xe, bác chủ quán hỏi thăm có phải Mạ vừa bị tịch thu nhà không? Đó là bác Kh., một người không quen biết, đã mở lời, rủ Mạ đến bán hàng chung với bác. Thật là cơ duyên lành. Trong lúc khốn đốn trắng tay, Mạ chưa biết làm gì để lo cho Mệ, để thăm Ba và nuôi bầy con, để có kế sinh nhai, lại gặp người giúp đỡ. Trong thời gian ngắn, quán cơm thay đổi nhiều. Khách hàng đến đông hơn vì bây giờ quán cơm có bà Uyên, là Mạ. Thời gian đầu, những tối sau khi đóng cửa tiệm cơm, mấy Mạ con về nhà ngủ. Tôi nhớ, có tối, thấy đường khuya vắng, mấy chị em đưa xe đạp cho Mạ thử đạp. Mấy Mạ con tức cười, rúc rích suốt đường về.

Sau đó, chị lớn của tôi về Quảng Ngãi thu xếp cho tôi và hai đứa em trai vô Sài Gòn. Em gái và hai đứa út ở lại với Mạ. Thời gian này, các bạn của em tôi hay lui tới và có nhiều kỷ niệm với Mạ. Bạn em kể lại, dường như ngày nào mấy đứa cũng có mặt ở quán cơm để chơi với em, rồi cùng rửa chén, cùng bưng cơm cho khách. Sau đó, cùng ăn vụng mứt củ mình tinh, Mạ làm để dành đi thăm nuôi Ba... Ngày đó, củ mình tinh được Mạ chế biến thành từng miếng mứt rim đường đen ngon ghê lắm. Bao năm rồi, bao nhiêu thứ cao lương mỹ vị vẫn không sánh nổi với miếng mứt ăn vụng ngày xưa.

Mỗi mùa hè mấy chị em thay phiên nhau về Quảng Ngãi thăm Ba Mạ và mấy đứa em nhỏ. Hết hè, đám con vô lại Sài Gòn. Mạ chuẩn bị nào là xôi ngọt, có đậu đen, gừng, mè, thịt cá kho mặn, ruốc kho sả. Ngoài ra, Mạ có món mỡ ướp đường để được lâu, dùng kho cá rất ngon. Lúc đó hai đứa út còn nhỏ quá, Mạ không muốn xa hai đứa, nên giữ ở lại Quảng Ngãi. Thế mà, phường khóm không chứng giấy cho hai đứa nhỏ vào lớp một vì là con của “ngụy quyền”. Mạ đành phải đứt ruột gửi hai đứa vô Sài Gòn ở với mấy anh chị để khỏi thất học. 

Những năm cuối thập niên 70, đầu thập niên 80 là thời gian quá cơ cực. Thật tội cho Mạ, phải một mình bươn chải ngoài Quảng Ngãi. Mấy chị em ở Sài Gòn, sống bằng nguồn thu nhập rất khiêm tốn, lương giáo viên của hai người chị và những thùng quà “khẩn cấp cứu đói”, “khẩn cấp cứu khó” của ông anh từ Tây Đức gửi về. Nhưng trên hết, Mạ vẫn nuôi bầy con bằng quán cơm bình dân ở bến xe. Mỗi khi Mạ vô Sài Gòn, Mạ tay xách, nách mang, gạo cơm, mắm muối cho bầy con.

Sở Thích Văn Nghệ

Mạ rất thích xem ca nhạc. Mạ luôn là khán giả thưởng thức hết lòng những màn văn nghệ của tiệc cưới. Những lần đi coi đại nhạc hội, Ba không ngồi lâu vì tiếng nhạc to. Nhưng Mạ rõ là khán giả ái mộ, trân trọng lời ca, tiếng hát của ca sĩ. Mạ luôn lắng nghe chương trình cho đến hết giờ.

Những khi các con, cháu của Mạ đóng góp văn nghệ ở tiệc tùng, đám cưới, Mạ là một khán giả, thính giả tuyệt vời. Mạ chăm chú nghe, ngắm, khuôn mặt Mạ rạng ngời niềm vui. Mạ không chỉ khen thưởng những màn trình diễn trên sân khấu, mà Mạ còn trầm trồ khi bầy cháu nội ngoại có những tiết mục bỏ túi những lúc gia đình tụ họp. Như khi mấy đứa cháu nhỏ lúc lắc hát “mua vịt, mua vịt” (move it), hoặc nhảy lưng tưng ca “ghế đâu ghế đâu” (get down). Trong mắt của Mạ, bầy cháu nội ngoại đều là những ca sĩ có tài năng.

Ôi, biết bao nhiêu kỷ niệm đầm ấm, ngọt ngào với Mạ yêu. Đã có những ngày tháng gian nan, thống khổ. Mạ không quản ngại khó khan. Mạ không nề hà, nhọc nhằn. Với trái tim bao la như biển, với vòng tay bao dung rộng mở, Mạ ôm ấp, nâng niu bầy con, nuôi dưỡng chúng con nên người. Dẫu cuộc sống có đôi lúc trắc trở, không như ý, nhưng với hành trang Mạ khoác lên vai chúng con, bầy con của Mạ có được vốn liếng yêu thương vô cùng quý giá. Giờ đây, chúng con không còn diễm phúc bông hồng cài áo. Nhưng Mạ vẫn luôn trong tâm, trong trí của tụi con. Mạ mãi là bóng mát che chở cho tụi con trong cuộc đời.

Hoàng Quân

 

Tháng Chạp bắt đầu với những làn gió nhẹ, đã nghe thoang thoảng mùi hương xuân, chẳng biết có phải là vì cô Thuỷ Tiên giàu tưởng tượng hay không. Cả ấp Trà Cuôn đã rộn ràng chuẩn bị đón Tết, làm cô cũng thấy nao nao trong dạ. Nhạc xuân tưng bừng cất tiếng từ những máy truyền thanh bên hàng xóm. Bên thì réo rắt tân nhạc, Đón xuân này tôi nhớ xuân xưa/Một chiều xuân ai đã hẹn hò...1, bên thì bùi ngùi vọng cổ, Tết năm nay chắc nhà mình buồn lắm/Ngõ trước vườn sau tiêu điều vắng lặng/Xuân đã về chưa mà con của Mẹ vẫn chưa về...2 Tết sắp về ai lại chẳng nôn nao, nhưng riêng cô Thuỷ Tiên còn thêm nỗi niềm xa nhà nên nghe mấy bài hát đó cô cũng buồn nẫu ruột. Mùa xuân sắp tới, đánh dấu một năm tròn hương lửa mặn nồng giữa Minh Anh và cô, tình yêu còn phơi phới như đoá hoa bừng thắm. Nhưng mùa xuân cũng gợi cho cô những ngày Tết thời con gái vui tươi, hồn nhiên với gia đình ở Sài Gòn.
Độc giả luôn công bình và người viết bài này cũng sẽ bỏ phiếu Kiều Phong nếu có cuộc thăm dò lần nữa. Vậy lý do gì Kiều Phong được mến mộ hơn so với các nhân vật kiệt xuất khác của Kim Dung? Nếu đọc nhiều truyện võ hiệp của nhiều tác giả khác nhau kể cả Kim Dung, bạn sẽ để ý thấy các cốt truyện đêu mang máng một bố cục giống nhau: Có một gia đình hay môn phái nào đó bị kẻ thù ác độc đang tâm tận diệt nhưng may mẵn có một đứa bé, thường là bé trai, may mắn trồn thoát. Đứa bé từ đó phải một mình lưu lạc và may mắn gặp được minh sư thu làm đệ tử truyền dạy võ công tuyệt thế. Nhiều khi cậu ta nhờ cơ duyên ăn được kỳ trân dị bảo nào đó nên có được công lực thâm hậu, võ học tuyệt vời, lớn lên thành một thanh niên khoảng 17, 18 tuổi đẹp trai, thông minh, giỏi võ.
Có một loại gương mà con người không bao giờ muốn nhìn vào: gương phản chiếu nguyên trạng của bản thân. Chúng ta thích gương tô vẽ, gương photoshop, gương nghiêng một góc để che khuyết điểm. Và đối với một số người Việt—đặc biệt những người sống lưu vong trong tâm trí, dù thân xác họ ở California, ở Sydney, ở Paris hay ngay tại Sài Gòn—Trump không phải là chính khách. Trump là tấm gương được tô vẽ hoàn hảo. Họ không yêu Trump vì chính sách của ông. Họ yêu Trump vì ông là phiên bản thỏa mãn ước mơ ngầm của chính họ. Nhưng trước khi đi sâu vào anh Tuấn, hãy dừng lại một chút. Vì câu chuyện này không chỉ về người Việt hải ngoại. Nó còn về những người Việt trong nước—những người đáng lẽ là "bên thắng cuộc."
Là lũ chúng tôi đấy, những con “ngựa” sinh năm Bính Ngọ 1966. Năm đầu tiên bước vào ngưỡng cửa cấp ba, chúng tôi còn ngơ ngác, nhìn nhau …phòng thủ nhiều hơn là thân thiện . Bởi đó là năm lớp 10, vừa mới chia tay bạn bè, thầy cô của mái trường cấp hai, lại nghe nói lớp 10A1 năm nay sẽ là “Lớp Điểm” dành cho những học sinh được tuyển thẳng từ lớp 9 lên lớp 10 và những học sinh đạt điểm cao trong kỳ thi lên lớp 10 .
Anh cầm cây đàn lên, dạo một đoạn theo ngẫu hứng, rồi anh hát. Bản nhạc mấy mươi năm chưa hoàn thành. Nó như thiếu một chất men. Anh đã từng sáng tác thơ, nhạc, trên mỗi bước đường. Duy chỉ có bài hát này, anh chưa thể viết trọn. Giọng của anh nghe kỳ kỳ. Anh thấy nó lạ với chính mình. Sau lần mổ cắt khối u ở thanh quản, anh đã bị mất giọng. Đúng ra là giọng bị thay đổi, khàn hơn, đục hơn. Và khi hát, anh không thể ngân dài như trước. Bác sĩ hỏi anh có dùng thuốc lá, cà phê không. Anh thành thật thú nhận, thuốc lá cũng thuốc lá, cà phê cũng cà phê. Xưa, đi lính, hầu như ai cũng hút thuốc lá, nhưng nay anh đã bỏ hút rồi. Còn cà phê thì… không thể thiếu, để thức đêm làm việc.
Khác với các tác giả khác, tất cả tình tiết và diễn biến của câu chuyện đều xoay quanh nhân vật chính, truyện của Kim Dung được tác giả lồng vào những câu chuyện khác, đầy đủ tình tiết éo le từ những nhân vật phụ chung quanh kết nối vào trong tác phẩm một cách khéo léo. Những “Truyện trong truyện” này đã làm cho tiểu thuyết Kim Dung vô cùng đa dạng. Thí dụ trong “Bích Huyết Kiếm”, mối tình giữa Viên Thừa Chí và Hạ Thanh Thanh rất tẻ nhạt, trong khi chuyện tình của cha mẹ Thanh Thanh là nàng Ôn Nghi và Kim Xà Lang Quân lại là một thiên tình sử đầy thương cảm.
Vào những năm của thập niên 1960s và 70s, truyện võ hiệp kỳ tình là một phong trào ăn khách nhất của các tờ nhật báo thời bấy giờ. Có khá nhiều tác giả viết võ hiệp lúc đó, nhưng cái tên Kim Dung là sáng chói nhất. Ông là một hiện tượng nổi bật làm say mê hàng triệu độc giả và khán giả từ những trang tiểu thuyết của thế kỷ 20 kéo tiếp đến thế giới phim bộ Hồng Kông thế kỷ 21, không phải chỉ tạiViệt Nam, mà còn nhiếu nước khác ở Á châu.
Con đã nghe rất nhiều lần ở chùa, các thầy đọc: Quán tự tại Bồ Tát, hành thâm bát nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách…Con đã nhìn thấy ở các chánh điện các chùa, các tượng Quan Thế Âm, phật A Di Đà và Đại Thế Chí Bồ Tát, được đặt cạnh nhau, hợp thành bộ Tây Phương Tam Thánh để dẫn dắt chúng sinh vào thế giới cực lạc tịch tĩnh. Con cũng thấy tượng phật Quan Âm được đặt thờ ở cổng chính các chùa, ở các nơi trang nghiêm để chúng sanh chiêm bái và ngưỡng vọng lòng từ bi cứu khổ cứu nạn…
Tới đây, tôi lại nhớ cái ngày ấy, khi tôi ngồi bàn phỏng vấn đi Canada. Thực ra, chỉ là cuộc nói chuyện ngắn gọn, vui vẻ, vì tôi làm việc trong văn phòng Cao Ủy trại tỵ nạn, thường xuyên giúp đỡ phái đoàn Canada chuyện điền forms cho các gia đình đi Canada, nên ông trưởng phái đoàn quen mặt, thấy tôi bị phái đoàn Mỹ từ chối, ổng sẵn sàng nhận tôi đi Canada bất chấp trong hồ sơ lý lịch của tôi có đầy đủ anh chị em đang ở Mỹ
Trong thời đại nhân danh mọi thứ trừ sự thật, chữ “trung thực” vừa đắt giá vừa khả nghi – người ta nhân danh đạo lý che đậy quyền lợi, nhân danh hòa bình chuẩn bị chiến tranh, nhân danh “dám nói thẳng” biện minh cho mất nhân cách. “Người Trung Thực Nhất Thế Giới” mượn hai vị sứ giả hành tinh soi ranh giới giữa trung thực và bình phong mưu đồ: không trào lộng, dù tiếng cười khó thảnh thơi; không buộc tội ai, dù bóng ai đó thấp thoáng. Xin giới thiệu đến độc giả Việt Báo khúc văn suy tưởng này, bình thản giọng kể mà day dứt nỗi băn khoăn trước cái giá thế giới phải trả cho việc “dám” nói thực.
Sau 4 năm trong trại tù Cải Tạo, tôi trở về Vũng Tàu, tìm lại gia đình mình. Gia đình tôi đã thành cổ tích. Cha Mẹ tôi qua đời, anh em tôi thất lạc, ngôi nhà của chúng tôi đã thành nhà của một cán bộ cao cấp ngoài Bắc dọn vào. Tôi thành người tứ cố vô thân, tôi cố đi tìm gia đình anh tôi, nhưng tăm cá bóng chim. Người nói anh tôi bị bắt lại sau khi vượt biển không thành, người nói cả gia đình hình như đã sang tới Úc, có người lại nói chuyến tầu có gia đình anh tôi mất tích trên biển.Vì nếu bị bắt lại thì ở tù mấy tháng cũng ra. Sang đến Úc thì phải có tin về. Có người nói hình như anh tôi bỏ xót lại một đứa con nhỏ mới 7, 8 tuổi. Hôm cả nhà có người đến đón ra khơi thì thằng bé chơi ngủ lại ở nhà bạn, chủ thuyền không đợị được. Hứa là sẽ cho nó đi ngay chuyền sau. Nhưng chuyến sau không bao giờ có.
Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.