Hôm nay,  

Bảy Kỳ Quan

03/07/202600:00:00(Xem: 690)

bay ky quan
Tranh Cy Twombly.

Mỗi năm nhân loại xếp hạng lại bảy kỳ quan trên thế giới. Bảy Kỳ Quan của nhân loại được kê khai ra phải đạt được những tiêu chuẩn: Đẹp, lạ, có di tích lịch sử, vẻ đẹp tồn tại của thiên nhiên hoặc một kỳ công của con người.
Thí dụ bảy kỳ quan dưới đây: Núi Hy Mã Lạp Sơn: Taj Maha (Kiến trúc nổi tiếng thuộc Agra-India,) Grand Canyon- Mỹ,  Kênh Đào Panama, Tòa Cao Ốc Empire State Building(102 từng ở NY; xây1930-1931), Nhà Thờ St. Peter Basilica (Rome),Vạn Lý Trường Thành (Trung Quốc.)

Những kỳ quan này thu hút cả thế giới, thu hút những người muốn chinh phục thiên nhiên (Hy Mã Lạp Sơn). Những khách du lịch muốn được xem tận mắt những kỳ công của nhân loại (Empire State Building; Agra-India) Muốn mở lại những trang lịch sử của nhân loại trên những di tích phế, hưng( như Vạn lý Trường Thành; St. Peter Basilica)

Nhưng có những kỳ quan khác của nhân loại,quý báu nhất, dản dị nhất, không phải xếp loại lại mỗi năm, luôn luôn ở bên cạnh mỗi ngày mà không ai để ý đến. Đó là năm kỳ quan chính của con người: Thị giác (Mắt nhìn), Thính giác (Tai nghe) Khứu giác (Mũi ngửi), Vị giác (Lưỡi nếm), Xúc giác (Tay sờ)

Cặp mắt là một góc của bầu trời chứa đựng ngàn ngôi sao trong đó, những ngôi sao lấp lánh suốt một đời người. Nếu người sinh ra chẳng may không có những ngôi sao trong hai con mắt hoặc vì một tai nạn nào đó mất hẳn sự sáng sẽ thấy mình bất hạnh biết bao. Tôi nhớ lại một đoạn của bài học thuộc lòng ở thời tiểu học:

Có một cậu bé
Mù từ khi mới đẻ
Chẳng trông thấy vật gì
Phải lần từng bước đi
Suốt ngày ngoài đường
Ai thấy cũng thương.

Tội nghiệp biết bao! Tuổi thơ mà không có ánh sáng, làm sao chạy nhẩy, hái hoa, bắt bướm cùng chúng bạn.

Cặp mắt còn được tượng trưng cho cửa sổ của linh hồn, nghe đã thơ mộng lắm rồi, nhưng có thi sĩ còn đi xa hơn nữa, ví cặp mắt của người yêu với cả một dòng sông, đã viết:

 Mắt em là một dòng sông
Thuyền ta bơi lặng trong dòng mắt em. (Lưu Trọng Lư)

 Cụ Nguyễn Du cũng cho Từ Hải hỏi Kiều một câu rất trữ tình:

 Bấy lâu nghe tiếng má đào
 Mắt xanh chẳng để ai vào phải không?

Còn biết bao lời thơ, bản nhạc ca tụng cặp mắt của phụ nữ trên thế gian này.

Trời cho mỗi người một cặp mắt, nhưng không phải mắt nào cũng giống nhau. Cặp mắt của  người nhân hậu khác với cặp mắt của kẻ gian tà, hay hiểm ác. Người còn trẻ mắt trong veo, ngay thẳng, gió bụi thời gian bay vào trong mắt làm người ta càng lớn tuổi, mắt càng bớt đi vẻ trong sáng, ngây thơ, rồi đôi mắt ấy sẽ mờ dần, mờ dần và kép kín lại. Những ngôi sao sẽ trả lại cho bầu trời.

Đôi tai là một kỳ quan tuyệt vời khác. Tai lắng nghe những tiếng động lớn nhỏ, những thanh âm dịu dàng, những lời âu yếm, những tiếng nhạc, tiếng thơ, tiếng chim hót, tiếng ong đập cánh, tiếng gió trên ngàn, tiếng sóng của biển, tiếng động của con thuyền trên dòng sông, hay tiếng vọng thân yêu từ nơi xa xăm nào đó, của một tiếng gọi không thành lời, hay tiếng “Thì Thầm Bên Gối” mới quyến rũ làm sao! Nhưng đồng thời có những tiếng động không muốn nghe cũng phải nhận, không muốn nghe cũng lọt vào tai như tiếng quát vang vang, la mắng, tiếng cằn nhằn, tiếng bom nổ, tiếng súng đạn của chiến tranh, tiếng khóc ai oán, bi thương của sinh ly, tử biệt. Rồi lại còn những tiếng rất khẽ, phải cố nghiêng tai nghe, tiếng thì thầm qua vách; tiếng đó, ai muốn giấu đi mà có kẻ cố tìm nghe.

Với nhạc sĩ, Thượng Đế tạo ra đôi tai để làm một việc song song cùng với một kỳ quan khác là đôi tay. Tay chạm vào đàn, bật lên tiếng nhạc cho người nhạc sĩ nghe được, viết xuống thành bài. Đôi tay của bác thợ mộc, của người thợ làm đường xá cũng hữu ích ngang với đôi tay của nhân viên y tế trong bệnh viện; đôi tay của họa sĩ vẽ tranh và của bác thợ sơn cũng tài hoa chẳng kém gì nhau, nhưng đôi tay của Michael Angelo là sự thiên vị của Thượng Đế, vì ngài chỉ làm có một đôi tay duy nhất đó. Đôi bàn tay của người mẹ là đặc ân Thượng Đế ban cho loài người, đôi tay đó đã thức khuya, dậy sớm, đã vuốt ve, ôm ấp con, đã đặt lên vầng trán chồng khi nóng, lạnh, và cũng đã làm bao công việc nhọc nhằn. Một đôi tay thô, nhám, của người mẹ là cả một kho tàng quý giá cho gia đình.

Vị giác, là một kỳ quan cũng thật đáng kể. Lưỡi dùng để nếm cay, chua, ngọt, đắng để hiểu gia vị của cuộc sống. Cứ tưởng tượng nếu không có vị giác, tất cả các quốc gia trên thế giới còn có văn hóa ẩm thực hay không? Cái lưỡi như một chiếc lá không xương đó đã giữ vai trò thẩm định nghệ thuật ăn uống của cả nhân loại. Không có vị giác làm sao có những đầu bếp nổi tiếng xuất hiện của mỗi quốc gia. Lưỡi cũng có những hoa văn, và không có cái lưỡi nào có hoa văn giống nhau (như các ngón tay) . Phát ra ngôn ngữ cho tai thưởng thức, tiếng hát véo von cũng do lưỡi mà ra. Chiếc lưỡi nói lời khôn ngoan thành thật hay nói lời hiểm ác, có thể giết người. Ngày xưa trong những truyện cổ tích, ta thường nghe nói “Uốn ba tấc lưỡi” mà cứu được mạng người, hay làm tan cả một ngai vàng cũng do ba tấc lưỡi của quân sư. Các vị quan yêu nước thương dân cũng chết bay đầu vì những lời trung thực, khẳng khái. Tất cả do cái lưỡi!

Khứu giác, ngoài việc giúp để hít thở, ngửi những hương thơm, hay tránh xa khí độc còn giúp ta hồi ức lại một thời gian nào đó, hay một nơi chốn nào đó ta đã sống, đã đi qua:

Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình (Kiều) hay có ông vua đa tình hơn nữa: Xếp tàn y lại để dành hương. Như vua Tự Đức khóc Bàng Phi ngày trước.
Chắc ta sẽ khó sống lắm nếu không còn khứu giác để phân biệt được những mùi hương quen, lạ, trong đời sống hàng ngày. Hít khói xe đầy phổi mà không hay biết, một mái tóc vừa đi qua trên phố mang theo mùi xả, mùi chanh quen thuộc mà vẫn dửng dưng, thật đáng buồn!

 Một dân tộc, tận dụng cả năm giác quan của Thượng Đế ban cho vào đời sống hàng ngày một cách rất nghệ thuật phải kể đến là người Nhật. Người Nhật xem việc trưng bầy thức ăn, thức uống là cả một nghệ thuật. Với người Nhật, phải nhìn cho đẹp trước đã rồi mới ăn, mới uống. Nên ăn, uống, người Nhật đưa lên hàng “Đạo” với đầy đủ nghi lễ,chứ không phải chỉ ăn cho chắc bụng.

Nghệ Thuật trưng bầy thức ăn trên những bát đĩa sứ, làm bánh, cắm hoa, uống trà.  Những môn này, tất cả năm giác quan được mang ra xử dụng tối đa. Đặc biệt cắm hoa và uống trà đã đạt tới “Trà Đạo”“Hoa Đạo”. Mắt ngắm vẻ thanh lịch, mầu sắc, của những cánh hoa, mũi ngửi mùi hương của hoa bay, của trà, tay khoan thai chạm vào hoa lá, ấm trà, tách trà, tai nghe tiếng nước sôi, tiếng than nổ lách tách, tiếng gió lùa qua cánh cửa giấy, lưỡi nếm vị đắng thanh thanh của trà, vị ngòn ngọt của bánh đậu. Một món bánh làm bằng bột gạo và đậu đỏ, có tên là Wagashi của Nhật chính là một siêu nghệ thuật về mầu sắc và hình dáng. Tên gọi của các loại bánh Wagashi đều rất trang nhã, dễ nghe. Đó thường là tên gọi những loài hoa đẹp, những cảnh thiên nhiên thanh tịnh, được rút ra từ những bài thơ trữ tình Nhật. Mỗi một chiếc Wagashi đưa đến đủ năm giác quan, từ hình dáng, mùi thơm, âm thanh trong từng chiếc bánh.

Nhưng ngoài năm giác quan trên, có người còn được Thượng Đế ưu đãi cho thêm giác quan thứ sáu, có thể tạm gọi là “Trực Giác.” Trực Giác là sự linh cảm. Người có linh cảm là người có khả năng dự báo sự việc sắp xẩy ra. Kiến thức đặc biệt này không ai có thể dậy cho ai được. Họ có thể là những nhà tiên tri hay chỉ là một người bạn rất thường ta gặp hàng ngày, nhưng đã cho ta biết một điều gì đó mà ta không biết trước được, khi nó chưa đến.

Nhưng nếu chúng ta có: Tai nghe, mắt thấy, tay sờ, lưỡi nếm, mũi ngửi và ngay cả trực giác nữa (giác quan thứ sáu) mà chúng ta “Vô Tâm” thì cũng thành vô dụng thôi. Lúc đó chúng ta sẽ thành một Robot (người máy) cư xử, hành động theo nút bấm. Mọi việc có quy củ, ngăn nắp nhưng vô hồn. Con người cần có “Tâm” để thành con người đích thực. Yêu, thương, lo lắng cho người khác, thông cảm và chấp nhận một sự nghịch lý, tất cả cần tâm cảm. Thượng Đế chắc chú trọng đến điều này trước nhất khi dựng lên loài người. Tâm cảm phát xuất từ trái tim con người nên Trái Tim cũng được coi như một kỳ quan. Chúng ta không cần phải là những nhà tu khổ hạnh mới có được cái Tâm.

Trong đời thường, sống thương yêu và khoan dung với những người chung quanh một cách tự nhiên, giản dị là Cái Tâm tự nó đã trở thành một kỳ quan tuyệt mỹ rồi. Yêu thương cha mẹ, con cháu mình, dễ lắm! Điều này ai cũng làm được, nhưng yêu thương được cha mẹ, con cháu của người khác, không có liên hệ gì với mình, yêu người không cùng giai cấp, chủng tộc, không cùng mầu da, đấy mới gọi là“Tâm”.
 
Chúng ta chẳng cần đi đâu xa để ngắm bảy kỳ quan thế giới. Thượng Đế đã đặt vào người bạn đang đi ở bên cạnh chúng ta, bảy kỳ quan đó: Mắt, Mũi, Miệng, Tai,Tay chân, Trực Giác và Tâm Cảm. Tất cả đều đơn sơ, giản dị và tuyệt vời!
 
Trần Mộng Tú
 

Tháng tư ngửa mặt nhìn trời | Nhớ xem hồng nhạn đã rơi phương nào | Cánh chim gãy sợi tóc đau | Con đò chở khẳm nỗi sầu lưu vong.
Tôi mất ý thức về phương hướng. Không gian chỉ còn một chiều, phía trước, phía sau. Phía sau là quê nhà, phía trước là sự chọn lựa. Biển xanh như ngọc khi chúng tôi ra đến hải phận quốc tế. Nó chờ chúng tôi ở đó, hiện hữu ngay cả trước đại dương. Hải phận quốc tế là một huyền thoại. Ai cũng nhắc đến, nhưng không ai biết nó là gì. Ra đến hải phận quốc tế, thì con người không thuộc về đất nước của mình nữa, mà thuộc về cộng đồng thế giới, thích chưa? Lúc ấy trời đất cảm nhau mà biến hóa, từ một sinh hai, từ hai sinh bốn, từ bốn sinh tám. Cứ thế liên miên, bất tuyệt, mọi vật sinh trưởng, người với đất với trời là một. Tồn tại ung dung, có sanh có diệt mà không sanh diệt.
Và nếu bài viết này góp được một phần nhỏ bé vào việc hàn gắn những vết thương âm thầm ấy, thì nó đã làm tròn sứ mệnh của nó.
Năm mươi năm trước những đám mây đen đã bay qua đời... Những vầng mây hải đảo tiếp tục bay theo chiều đếm của 50 mùa xuân, mây bay trên đầu và mây bay trong ký ức. Như một chiều cuối tháng tư Phú Quốc, những đám mây đen nặng chì, chồm xuống màu biển thẫm. Nắng hấp hối núp sau mây vạch từng tia quái gở xuống lòng vịnh...
Cùng trên một con đường, nhà tôi cạnh nhà Thức, cách 2 căn nữa là nhà Vân Ù và tiếp theo là nhà Liên. Bốn đứa chúng tôi chơi thân nhau từ bé và cùng lứa tuổi. Trước 1975 đoạn đường này, nhà nào cũng có cửa hàng buôn bán. Bố mẹ Thức bán quán giải khát giống như nhà tôi, sau 1975 chuyển sang bán bún riêu trước cửa nhà, Thức có hai người chị là giáo viên. Nhà Vân Ù đâu kém gì, trước 1975 là một depot lớn chuyên bán bia, nước ngọt, nước đá, mỗi ngày xe hãng BGI đến giao hàng chục két bia hàng chục cây nước đá, những cây đá này chất đầy trong một cái tủ lớn và ủ trấu, sẽ bỏ mối và bán lẻ cho khách hàng. Người ta gọi bố mẹ Vân Ù bằng cái tên nghề nghiệp "Ông bà Đề Pô".
Ngôi nhà của Anne rất đẹp. Ý tôi muốn nói là chiếc giày. Đó là một ngôi nhà lý tưởng. Những người nào chưa bao giờ nhìn thấy nó sẽ không thể tin được rằng một chiếc giày có thể đẹp đến thế, tức là một ngôi nhà có thể đẹp đến thế. Thực ra, nhu cầu của con người rất giản dị, Anne thầm nghĩ. Bạn không cần phải có lầu cao cửa rộng, không cần phải có nhiều trang sức và tiền bạc lắm. Bạn chỉ cần có một đời sống đầy đủ, thức ăn, áo mặc, chỗ ngủ, vài cuốn tiểu thuyết và truyện ngắn và nhạc Trịnh hay Taylor Swift bên cạnh. Một chiếc giày hoàn toàn có thể phục vụ cho những mục đích đó.
Năm 1956, một phụ nữ trẻ qua đời trên bàn sinh ở Bệnh Viện Trung Ương Huế. Đứa bé mồ côi được các soeur tại Cô Nhi Viện Tây Lục đem về nuôi, đặt tên là Th. Sau này, anh Th nghe các soeur kể rằng cha anh là một “ông Tây nhà đèn” đã hồi hương từ trước khi mẹ anh biết có thai. Dù được các soeur thương yêu và dạy học, cậu bé Th thích phiêu lưu hơn chữ nghĩa nên đã bỏ ra đời kiếm sống bằng nghề đánh giày từ năm mười ba tuổi. Trong thời gian kiếm ăn trên khắp các nẻo đường, cậu đã ngưỡng mộ hình ảnh oai hùng của các anh lính VNCH. Vì thế, khi vừa đủ mười tám tuổi, anh Th tình nguyện nhập ngũ. Sau ba tháng huấn luyện ở trung tâm Giạ Lê, Thừa Thiên, Huế, anh đã chính thức trở thành Binh Nhì của Đại Đội Trinh Sát thuộc Sư Đoàn 1.
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù. ( In old Burmese belief, every large tree shelters a spirit called a Nat. Before anyone cuts a tree, they must ask the spirit for permission. One day, a woodcutter ignored this rule. He chopped down a tree without a word of warning. The Nat who lived inside felt deeply offended and decided to take revenge.)
Anh đã đến căn nhà cũ, 76 Bạch Đằng. Đứng bên kia đường, đối diện, nhìn nhà mình. Mái tóc phai màu, mất thăng bằng, sụp xuống mé phải, cài một cần ăng-ten cong vẹo như chiếc lược hàng nội. Đôi cánh cửa sổ bụi như ghèn bỏ thí trên đôi mắt phụ nữ không buồn trang điểm nữa. Thềm xi măng trước cửa nứt nẻ — nơi mẹ anh thường dội nước những trưa hè cho bớt hơi nóng bốc nực phòng khách. Anh đã gõ cửa nhà mình, lịch sự, như khách. Không ai mở. Cả xóm không còn ai quen. Anh đứng một lúc rồi đi, cảm giác mình là con ma vô hình lục lọi trong nghĩa địa giữa mùa cúng vàng mã.
Đêm không ngủ được, Khoa nằm nhìn trần nhà.Không có lý do gì. Đó mới là vấn đề.Người ta mất ngủ vì lo lắng, vì đau, vì hối hận, những thứ đó anh hiểu. Nhưng Khoa nằm trong phòng máy lạnh mười bảy độ, nệm tốt, gối mềm, và não cứ chạy như một cái máy không có nút tắt mà không sản xuất ra thứ gì cụ thể. Chỉ là... nhiều loại hình ảnh, câu hỏi, câu trả lời nửa chừng, nhảy vọt từ nơi này sang nơi kia, từ người này sang người nọ… một loại trật tự hỗn loạn của người không biết mình đang nghĩ gì. Chợt Anh dừng lại ở khuôn mặt của Linh.
Đến cuối chợ là gian hàng ăn, đập vào mắt tôi là xe hủ tíu mì của một người Tàu rất đông khách. Ông chủ vừa làm hủ tíu vừa rao hàng bằng 3 tiếng Việt-Cam-Tàu. Tôi đã thưởng thức tô hủ tíu Nam Vang ngay giữa lòng Nam Vang (tên cũ của Phnom Penh), một tô hủ tíu ngon đến nhớ đời. Trên đường về, chúng tôi đi qua những con đường rất đẹp, có hàng cây cao bóng mát, có những quán cafe vỉa hè, và đâu đó vang lên những bài hát “nhạc Vàng” của Sài Gòn, mới thấy dân Việt sinh sống nơi đây rất đông.
Đại Tá Hoàng Cơ Lân có tiếng là một cấp chỉ huy trong sạch, thanh liêm và ngay thẳng. Tại Trường Quân Y, Ông giúp cải tổ lại kỷ luật và quân phong của các sinh viên sĩ quan Quân Y hiện dịch, ra chỉ thị các sinh viên phải vào ngủ trong trại, ngoại trừ khi phải trực gác ở bệnh viện, phục hồi duyệt binh và chào cờ VNCH mỗi sáng thứ Hai tại Vũ Đình Trường, những sinh viên hiện dịch bị rớt 1 niên học YK bị cho ra khỏi trường Quân Y. Và có lẽ quan trọng nhất là không còn có chuyện những bác sĩ tốt nghiệp Hiện Dịch hay Trưng Tập thuộc thành phần COCC đã có nhiệm sở của mình trước khi danh sách các đơn vị do Cục Quân Y được phổ biến chính thức tại Trường Quân Y để toàn thể các Quân Y Nha Dược sĩ của toàn khóa chọn cùng một lúc.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.