Hôm nay,  

Bảy Kỳ Quan

03/07/202600:00:00(Xem: 686)

bay ky quan
Tranh Cy Twombly.

Mỗi năm nhân loại xếp hạng lại bảy kỳ quan trên thế giới. Bảy Kỳ Quan của nhân loại được kê khai ra phải đạt được những tiêu chuẩn: Đẹp, lạ, có di tích lịch sử, vẻ đẹp tồn tại của thiên nhiên hoặc một kỳ công của con người.
Thí dụ bảy kỳ quan dưới đây: Núi Hy Mã Lạp Sơn: Taj Maha (Kiến trúc nổi tiếng thuộc Agra-India,) Grand Canyon- Mỹ,  Kênh Đào Panama, Tòa Cao Ốc Empire State Building(102 từng ở NY; xây1930-1931), Nhà Thờ St. Peter Basilica (Rome),Vạn Lý Trường Thành (Trung Quốc.)

Những kỳ quan này thu hút cả thế giới, thu hút những người muốn chinh phục thiên nhiên (Hy Mã Lạp Sơn). Những khách du lịch muốn được xem tận mắt những kỳ công của nhân loại (Empire State Building; Agra-India) Muốn mở lại những trang lịch sử của nhân loại trên những di tích phế, hưng( như Vạn lý Trường Thành; St. Peter Basilica)

Nhưng có những kỳ quan khác của nhân loại,quý báu nhất, dản dị nhất, không phải xếp loại lại mỗi năm, luôn luôn ở bên cạnh mỗi ngày mà không ai để ý đến. Đó là năm kỳ quan chính của con người: Thị giác (Mắt nhìn), Thính giác (Tai nghe) Khứu giác (Mũi ngửi), Vị giác (Lưỡi nếm), Xúc giác (Tay sờ)

Cặp mắt là một góc của bầu trời chứa đựng ngàn ngôi sao trong đó, những ngôi sao lấp lánh suốt một đời người. Nếu người sinh ra chẳng may không có những ngôi sao trong hai con mắt hoặc vì một tai nạn nào đó mất hẳn sự sáng sẽ thấy mình bất hạnh biết bao. Tôi nhớ lại một đoạn của bài học thuộc lòng ở thời tiểu học:

Có một cậu bé
Mù từ khi mới đẻ
Chẳng trông thấy vật gì
Phải lần từng bước đi
Suốt ngày ngoài đường
Ai thấy cũng thương.

Tội nghiệp biết bao! Tuổi thơ mà không có ánh sáng, làm sao chạy nhẩy, hái hoa, bắt bướm cùng chúng bạn.

Cặp mắt còn được tượng trưng cho cửa sổ của linh hồn, nghe đã thơ mộng lắm rồi, nhưng có thi sĩ còn đi xa hơn nữa, ví cặp mắt của người yêu với cả một dòng sông, đã viết:

 Mắt em là một dòng sông
Thuyền ta bơi lặng trong dòng mắt em. (Lưu Trọng Lư)

 Cụ Nguyễn Du cũng cho Từ Hải hỏi Kiều một câu rất trữ tình:

 Bấy lâu nghe tiếng má đào
 Mắt xanh chẳng để ai vào phải không?

Còn biết bao lời thơ, bản nhạc ca tụng cặp mắt của phụ nữ trên thế gian này.

Trời cho mỗi người một cặp mắt, nhưng không phải mắt nào cũng giống nhau. Cặp mắt của  người nhân hậu khác với cặp mắt của kẻ gian tà, hay hiểm ác. Người còn trẻ mắt trong veo, ngay thẳng, gió bụi thời gian bay vào trong mắt làm người ta càng lớn tuổi, mắt càng bớt đi vẻ trong sáng, ngây thơ, rồi đôi mắt ấy sẽ mờ dần, mờ dần và kép kín lại. Những ngôi sao sẽ trả lại cho bầu trời.

Đôi tai là một kỳ quan tuyệt vời khác. Tai lắng nghe những tiếng động lớn nhỏ, những thanh âm dịu dàng, những lời âu yếm, những tiếng nhạc, tiếng thơ, tiếng chim hót, tiếng ong đập cánh, tiếng gió trên ngàn, tiếng sóng của biển, tiếng động của con thuyền trên dòng sông, hay tiếng vọng thân yêu từ nơi xa xăm nào đó, của một tiếng gọi không thành lời, hay tiếng “Thì Thầm Bên Gối” mới quyến rũ làm sao! Nhưng đồng thời có những tiếng động không muốn nghe cũng phải nhận, không muốn nghe cũng lọt vào tai như tiếng quát vang vang, la mắng, tiếng cằn nhằn, tiếng bom nổ, tiếng súng đạn của chiến tranh, tiếng khóc ai oán, bi thương của sinh ly, tử biệt. Rồi lại còn những tiếng rất khẽ, phải cố nghiêng tai nghe, tiếng thì thầm qua vách; tiếng đó, ai muốn giấu đi mà có kẻ cố tìm nghe.

Với nhạc sĩ, Thượng Đế tạo ra đôi tai để làm một việc song song cùng với một kỳ quan khác là đôi tay. Tay chạm vào đàn, bật lên tiếng nhạc cho người nhạc sĩ nghe được, viết xuống thành bài. Đôi tay của bác thợ mộc, của người thợ làm đường xá cũng hữu ích ngang với đôi tay của nhân viên y tế trong bệnh viện; đôi tay của họa sĩ vẽ tranh và của bác thợ sơn cũng tài hoa chẳng kém gì nhau, nhưng đôi tay của Michael Angelo là sự thiên vị của Thượng Đế, vì ngài chỉ làm có một đôi tay duy nhất đó. Đôi bàn tay của người mẹ là đặc ân Thượng Đế ban cho loài người, đôi tay đó đã thức khuya, dậy sớm, đã vuốt ve, ôm ấp con, đã đặt lên vầng trán chồng khi nóng, lạnh, và cũng đã làm bao công việc nhọc nhằn. Một đôi tay thô, nhám, của người mẹ là cả một kho tàng quý giá cho gia đình.

Vị giác, là một kỳ quan cũng thật đáng kể. Lưỡi dùng để nếm cay, chua, ngọt, đắng để hiểu gia vị của cuộc sống. Cứ tưởng tượng nếu không có vị giác, tất cả các quốc gia trên thế giới còn có văn hóa ẩm thực hay không? Cái lưỡi như một chiếc lá không xương đó đã giữ vai trò thẩm định nghệ thuật ăn uống của cả nhân loại. Không có vị giác làm sao có những đầu bếp nổi tiếng xuất hiện của mỗi quốc gia. Lưỡi cũng có những hoa văn, và không có cái lưỡi nào có hoa văn giống nhau (như các ngón tay) . Phát ra ngôn ngữ cho tai thưởng thức, tiếng hát véo von cũng do lưỡi mà ra. Chiếc lưỡi nói lời khôn ngoan thành thật hay nói lời hiểm ác, có thể giết người. Ngày xưa trong những truyện cổ tích, ta thường nghe nói “Uốn ba tấc lưỡi” mà cứu được mạng người, hay làm tan cả một ngai vàng cũng do ba tấc lưỡi của quân sư. Các vị quan yêu nước thương dân cũng chết bay đầu vì những lời trung thực, khẳng khái. Tất cả do cái lưỡi!

Khứu giác, ngoài việc giúp để hít thở, ngửi những hương thơm, hay tránh xa khí độc còn giúp ta hồi ức lại một thời gian nào đó, hay một nơi chốn nào đó ta đã sống, đã đi qua:

Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình (Kiều) hay có ông vua đa tình hơn nữa: Xếp tàn y lại để dành hương. Như vua Tự Đức khóc Bàng Phi ngày trước.
Chắc ta sẽ khó sống lắm nếu không còn khứu giác để phân biệt được những mùi hương quen, lạ, trong đời sống hàng ngày. Hít khói xe đầy phổi mà không hay biết, một mái tóc vừa đi qua trên phố mang theo mùi xả, mùi chanh quen thuộc mà vẫn dửng dưng, thật đáng buồn!

 Một dân tộc, tận dụng cả năm giác quan của Thượng Đế ban cho vào đời sống hàng ngày một cách rất nghệ thuật phải kể đến là người Nhật. Người Nhật xem việc trưng bầy thức ăn, thức uống là cả một nghệ thuật. Với người Nhật, phải nhìn cho đẹp trước đã rồi mới ăn, mới uống. Nên ăn, uống, người Nhật đưa lên hàng “Đạo” với đầy đủ nghi lễ,chứ không phải chỉ ăn cho chắc bụng.

Nghệ Thuật trưng bầy thức ăn trên những bát đĩa sứ, làm bánh, cắm hoa, uống trà.  Những môn này, tất cả năm giác quan được mang ra xử dụng tối đa. Đặc biệt cắm hoa và uống trà đã đạt tới “Trà Đạo”“Hoa Đạo”. Mắt ngắm vẻ thanh lịch, mầu sắc, của những cánh hoa, mũi ngửi mùi hương của hoa bay, của trà, tay khoan thai chạm vào hoa lá, ấm trà, tách trà, tai nghe tiếng nước sôi, tiếng than nổ lách tách, tiếng gió lùa qua cánh cửa giấy, lưỡi nếm vị đắng thanh thanh của trà, vị ngòn ngọt của bánh đậu. Một món bánh làm bằng bột gạo và đậu đỏ, có tên là Wagashi của Nhật chính là một siêu nghệ thuật về mầu sắc và hình dáng. Tên gọi của các loại bánh Wagashi đều rất trang nhã, dễ nghe. Đó thường là tên gọi những loài hoa đẹp, những cảnh thiên nhiên thanh tịnh, được rút ra từ những bài thơ trữ tình Nhật. Mỗi một chiếc Wagashi đưa đến đủ năm giác quan, từ hình dáng, mùi thơm, âm thanh trong từng chiếc bánh.

Nhưng ngoài năm giác quan trên, có người còn được Thượng Đế ưu đãi cho thêm giác quan thứ sáu, có thể tạm gọi là “Trực Giác.” Trực Giác là sự linh cảm. Người có linh cảm là người có khả năng dự báo sự việc sắp xẩy ra. Kiến thức đặc biệt này không ai có thể dậy cho ai được. Họ có thể là những nhà tiên tri hay chỉ là một người bạn rất thường ta gặp hàng ngày, nhưng đã cho ta biết một điều gì đó mà ta không biết trước được, khi nó chưa đến.

Nhưng nếu chúng ta có: Tai nghe, mắt thấy, tay sờ, lưỡi nếm, mũi ngửi và ngay cả trực giác nữa (giác quan thứ sáu) mà chúng ta “Vô Tâm” thì cũng thành vô dụng thôi. Lúc đó chúng ta sẽ thành một Robot (người máy) cư xử, hành động theo nút bấm. Mọi việc có quy củ, ngăn nắp nhưng vô hồn. Con người cần có “Tâm” để thành con người đích thực. Yêu, thương, lo lắng cho người khác, thông cảm và chấp nhận một sự nghịch lý, tất cả cần tâm cảm. Thượng Đế chắc chú trọng đến điều này trước nhất khi dựng lên loài người. Tâm cảm phát xuất từ trái tim con người nên Trái Tim cũng được coi như một kỳ quan. Chúng ta không cần phải là những nhà tu khổ hạnh mới có được cái Tâm.

Trong đời thường, sống thương yêu và khoan dung với những người chung quanh một cách tự nhiên, giản dị là Cái Tâm tự nó đã trở thành một kỳ quan tuyệt mỹ rồi. Yêu thương cha mẹ, con cháu mình, dễ lắm! Điều này ai cũng làm được, nhưng yêu thương được cha mẹ, con cháu của người khác, không có liên hệ gì với mình, yêu người không cùng giai cấp, chủng tộc, không cùng mầu da, đấy mới gọi là“Tâm”.
 
Chúng ta chẳng cần đi đâu xa để ngắm bảy kỳ quan thế giới. Thượng Đế đã đặt vào người bạn đang đi ở bên cạnh chúng ta, bảy kỳ quan đó: Mắt, Mũi, Miệng, Tai,Tay chân, Trực Giác và Tâm Cảm. Tất cả đều đơn sơ, giản dị và tuyệt vời!
 
Trần Mộng Tú
 

Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.
Buổi sáng cuối cùng ở Chamonix im lặng lạ thường. Suốt đêm qua, tôi đã để cửa sỗ mở toang, nên khi giựt mình thức dậy, ánh sáng trong suốt của núi tràn đầy phòng. Tấm mền len và drap giường trắng lóa như được phủ lân tinh. Không một tiếng động nào từ dưới đường phố vọng lên. Chỉ có hơi lạnh. Tôi nằm co ro và nghĩ đến ly cà-phê đen. Mùi thơm sẽ bốc lên cùng hơi nóng, rồi tan dần vào không khí. Giống như ký ức. Đôi giày đóng đầy đất bùn và gậy trekking đã xếp gọn gàng trong bao duffle cùng với áo quần đi núi từ đêm hôm qua. Chúng nằm bên cửa, sẵn sàng lên đường. Bên ngoài cửa sổ, rặng núi Mont Blanc vẫn kia, vẫn vĩ đại, vẫn trùng điệp, vẫn lặng lẽ xa xăm. Tôi nghĩ đến 11 ngày vừa qua và cảm thấy buồn buồn, làm như có điều gì tôi đã đánh mất, hay đã để quên trên ngọn núi kia, ở đâu đó, trong quãng đường dài tôi đã đi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.