Hôm nay,  

Cái Đồng Hồ Quả Quít

8/7/202600:00:00(View: 783)

Đồng hồ
Dĩ vãng như một cuốn phim quay chậm của mấy mươi năm về trước. Nhàn nhớ Nhàn mua tặng Hoàng chiếc đồng hồ này vào ngày sinh nhật của anh và anh thích lắm, luôn luôn bỏ vào trong túi, ngay cả túi áo nhà binh. Ảnh: OpenAI.

Chỉ có giữa nhà mình với nhà con hay mang thức ăn sang cho nhau mà tự dưng mất một cái nắp nồi. Tìm mãi cả hai bếp vẫn không ra. Chị của Nhàn bảo, cứ đo cái miệng nồi rồi ra tiệm Goodwill, cái gì cũng có hết.

Nhàn nghe chị, đi Goodwill vào ngàyThứ Sáu, vì nghe nói Thứ Sáu lại được bớt 20% cho người trên 60 tuổi (Nhàn cười, nói khẽ một mình: 60 tuổi à? Dư sức qua cầu!)

Vào đây như lạc vào mê cung, cả một gian nhà to như cái nhà kho khổng lồ, thượng vàng, hạ cám không thiếu thứ gì làm Nhàn hoa cả mắt: Quần áo cũ, giầy dép, chăn nệm, bàn ghế, sách vở, băng nhạc, nồi xoong, máy móc… không thiếu một thứ gì. Ngay cả đồ chơi cho em bé cũng có.

Nhàn lang thang ở chỗ xếp đồ bát đĩa, nồi xoong. Cầm lên bỏ xuống, chưa thấy cái nắp nào đúng tầm cái nắp nồi nàng muốn tìm, đi loanh quanh sang cả chỗ để bát đĩa, ấm, chén trà… cầm lên, bỏ xuống thấy cái nào cũng đẹp. Hình như mấy bộ đồ trà này của các cụ già qua đời, các con đem cho đi. Nhàn cầm lên một cái chén kiểng nhái theo kiểu chén cổ của Tàu đời xưa, men chén mỏng, hoa văn tinh tế, nàng áp cái miệng chén vào tai mình nghe u..u… như tiếng gió từ thật xa thổi tới, Nhàn khẽ rùng mình, bỏ xuống. Một nỗi buồn thật nhẹ thổi qua lồng ngực Nhàn, Nhàn biết đó là “Tiếng thời gian”.

Cứ thế Nhàn chưa mua được cái nắp nồi nào mà vẫn lang thang trong tiệm vì thấy hấp dẫn quá… Đi một vòng Nhàn dừng lại ở kệ bán:  Radio, Đĩa nhạc, Đồng hồ để bàn, Đồng hồ treo tường… Ôi thôi! Không thiếu thứ gì, Nhàn tò mò cầm lên, ngắm nghía rồi bỏ xuống, định sang dãy kế bên thì mắt Nhàn bỗng chạm phải cái đồng hồ “quả quít” nằm khiêm tốn bên cạnh một cái đồng hồ để bàn và một cái Radio cũ kỹ. Tim Nhàn bỗng đập mạnh trong lồng ngực. Nhàn giơ tay chạm nhẹ vào cái đồng hồ, chưa dám cầm hẳn lên, một luồng điện rất nhẹ nhưng rất rõ ràng chạy từ mấy ngón tay nàng lên thẳng trái tim. Nhàn nhắm mắt lại co mấy ngón tay của mình lại như ôm lấy cái đồng hồ.


Nhàn nói trong cuống họng: “Sao nó lại nằm đây? Nó phải nằm với anh trong nghĩa trang ngày hôm đó chứ?” Nhàn nhớ rất rõ là người anh chồng của Nhàn đã để tấm hình của Nhàn và cái đồng hồ này trên nóc áo quan của Hoàng ngày hôm đó và Nhàn đã chứng kiến những xẻng đất hất lên nóc áo quan che khuất tấm hình Nhàn cùng với chiếc đồng hồ quả quýt này, nó đã được chôn cùng với Hoàng.

Dĩ vãng như một cuốn phim quay chậm của mấy mươi năm về trước. Nhàn nhớ Nhàn mua tặng Hoàng chiếc đồng hồ này vào ngày sinh nhật của anh và anh thích lắm, luôn luôn bỏ vào trong túi, ngay cả túi áo nhà binh.

Nhàn cầm chiếc đồng hồ lên ngắm nghía, càng ngắm càng thấy đúng là chiếc đồng hồ của nàng mua cho Hoàng, lật mặt sau của chiếc đồng hồ lên Nhàn thấy hai chữ H và N khắc cạnh nhau rõ ràng. Một hơi lạnh chạy dọc theo xương sống Nhàn, Nhàn như nghẹn thở, nước mắt ứa ra ràn rụa… Nhàn vội lấy tay quẹt nhanh lên mặt, sợ ai nhìn thấy.

Nhàn cầm chiếc đồng hồ chạy nhanh ra quầy trả tiền, quên luôn cả việc đi mua cái nắp nồi.

Nhàn vào xe, cầm chiếc đồng hồ quả quít trên tay, nước mắt Nhàn ràn rụa như mưa, Nhàn khóc như chưa bao giờ được khóc. Nhàn nhớ lại nụ cười của Hoàng hôm được “người yêu” tặng cho cái đồng hồ quả quýt. Nhàn nhớ nụ hôn của anh đặt trên trán nàng khi nói “Cám ơn em”.

Nhàn tỉnh dậy, thấy hai bên thái dương mình hình như ươn ướt, với tay lấy cái phone xem giờ. 10 giờ sáng rồi, sao mình dậy trễ thế nhỉ!

Hình như, hôm nay là thứ sáu, mình còn phải ra Good Will mua cái nắp nồi.

tmt
Viết cho ngày 30- 7-2026 (57 năm Cung mất)
 

Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.
Buổi sáng cuối cùng ở Chamonix im lặng lạ thường. Suốt đêm qua, tôi đã để cửa sỗ mở toang, nên khi giựt mình thức dậy, ánh sáng trong suốt của núi tràn đầy phòng. Tấm mền len và drap giường trắng lóa như được phủ lân tinh. Không một tiếng động nào từ dưới đường phố vọng lên. Chỉ có hơi lạnh. Tôi nằm co ro và nghĩ đến ly cà-phê đen. Mùi thơm sẽ bốc lên cùng hơi nóng, rồi tan dần vào không khí. Giống như ký ức. Đôi giày đóng đầy đất bùn và gậy trekking đã xếp gọn gàng trong bao duffle cùng với áo quần đi núi từ đêm hôm qua. Chúng nằm bên cửa, sẵn sàng lên đường. Bên ngoài cửa sổ, rặng núi Mont Blanc vẫn kia, vẫn vĩ đại, vẫn trùng điệp, vẫn lặng lẽ xa xăm. Tôi nghĩ đến 11 ngày vừa qua và cảm thấy buồn buồn, làm như có điều gì tôi đã đánh mất, hay đã để quên trên ngọn núi kia, ở đâu đó, trong quãng đường dài tôi đã đi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.