Hôm nay,  

Cái Đồng Hồ Quả Quít

07/08/202600:00:00(Xem: 1114)

Đồng hồ
Dĩ vãng như một cuốn phim quay chậm của mấy mươi năm về trước. Nhàn nhớ Nhàn mua tặng Hoàng chiếc đồng hồ này vào ngày sinh nhật của anh và anh thích lắm, luôn luôn bỏ vào trong túi, ngay cả túi áo nhà binh. Ảnh: OpenAI.

Chỉ có giữa nhà mình với nhà con hay mang thức ăn sang cho nhau mà tự dưng mất một cái nắp nồi. Tìm mãi cả hai bếp vẫn không ra. Chị của Nhàn bảo, cứ đo cái miệng nồi rồi ra tiệm Goodwill, cái gì cũng có hết.

Nhàn nghe chị, đi Goodwill vào ngàyThứ Sáu, vì nghe nói Thứ Sáu lại được bớt 20% cho người trên 60 tuổi (Nhàn cười, nói khẽ một mình: 60 tuổi à? Dư sức qua cầu!)

Vào đây như lạc vào mê cung, cả một gian nhà to như cái nhà kho khổng lồ, thượng vàng, hạ cám không thiếu thứ gì làm Nhàn hoa cả mắt: Quần áo cũ, giầy dép, chăn nệm, bàn ghế, sách vở, băng nhạc, nồi xoong, máy móc… không thiếu một thứ gì. Ngay cả đồ chơi cho em bé cũng có.

Nhàn lang thang ở chỗ xếp đồ bát đĩa, nồi xoong. Cầm lên bỏ xuống, chưa thấy cái nắp nào đúng tầm cái nắp nồi nàng muốn tìm, đi loanh quanh sang cả chỗ để bát đĩa, ấm, chén trà… cầm lên, bỏ xuống thấy cái nào cũng đẹp. Hình như mấy bộ đồ trà này của các cụ già qua đời, các con đem cho đi. Nhàn cầm lên một cái chén kiểng nhái theo kiểu chén cổ của Tàu đời xưa, men chén mỏng, hoa văn tinh tế, nàng áp cái miệng chén vào tai mình nghe u..u… như tiếng gió từ thật xa thổi tới, Nhàn khẽ rùng mình, bỏ xuống. Một nỗi buồn thật nhẹ thổi qua lồng ngực Nhàn, Nhàn biết đó là “Tiếng thời gian”.

Cứ thế Nhàn chưa mua được cái nắp nồi nào mà vẫn lang thang trong tiệm vì thấy hấp dẫn quá… Đi một vòng Nhàn dừng lại ở kệ bán:  Radio, Đĩa nhạc, Đồng hồ để bàn, Đồng hồ treo tường… Ôi thôi! Không thiếu thứ gì, Nhàn tò mò cầm lên, ngắm nghía rồi bỏ xuống, định sang dãy kế bên thì mắt Nhàn bỗng chạm phải cái đồng hồ “quả quít” nằm khiêm tốn bên cạnh một cái đồng hồ để bàn và một cái Radio cũ kỹ. Tim Nhàn bỗng đập mạnh trong lồng ngực. Nhàn giơ tay chạm nhẹ vào cái đồng hồ, chưa dám cầm hẳn lên, một luồng điện rất nhẹ nhưng rất rõ ràng chạy từ mấy ngón tay nàng lên thẳng trái tim. Nhàn nhắm mắt lại co mấy ngón tay của mình lại như ôm lấy cái đồng hồ.


Nhàn nói trong cuống họng: “Sao nó lại nằm đây? Nó phải nằm với anh trong nghĩa trang ngày hôm đó chứ?” Nhàn nhớ rất rõ là người anh chồng của Nhàn đã để tấm hình của Nhàn và cái đồng hồ này trên nóc áo quan của Hoàng ngày hôm đó và Nhàn đã chứng kiến những xẻng đất hất lên nóc áo quan che khuất tấm hình Nhàn cùng với chiếc đồng hồ quả quýt này, nó đã được chôn cùng với Hoàng.

Dĩ vãng như một cuốn phim quay chậm của mấy mươi năm về trước. Nhàn nhớ Nhàn mua tặng Hoàng chiếc đồng hồ này vào ngày sinh nhật của anh và anh thích lắm, luôn luôn bỏ vào trong túi, ngay cả túi áo nhà binh.

Nhàn cầm chiếc đồng hồ lên ngắm nghía, càng ngắm càng thấy đúng là chiếc đồng hồ của nàng mua cho Hoàng, lật mặt sau của chiếc đồng hồ lên Nhàn thấy hai chữ H và N khắc cạnh nhau rõ ràng. Một hơi lạnh chạy dọc theo xương sống Nhàn, Nhàn như nghẹn thở, nước mắt ứa ra ràn rụa… Nhàn vội lấy tay quẹt nhanh lên mặt, sợ ai nhìn thấy.

Nhàn cầm chiếc đồng hồ chạy nhanh ra quầy trả tiền, quên luôn cả việc đi mua cái nắp nồi.

Nhàn vào xe, cầm chiếc đồng hồ quả quít trên tay, nước mắt Nhàn ràn rụa như mưa, Nhàn khóc như chưa bao giờ được khóc. Nhàn nhớ lại nụ cười của Hoàng hôm được “người yêu” tặng cho cái đồng hồ quả quýt. Nhàn nhớ nụ hôn của anh đặt trên trán nàng khi nói “Cám ơn em”.

Nhàn tỉnh dậy, thấy hai bên thái dương mình hình như ươn ướt, với tay lấy cái phone xem giờ. 10 giờ sáng rồi, sao mình dậy trễ thế nhỉ!

Hình như, hôm nay là thứ sáu, mình còn phải ra Good Will mua cái nắp nồi.

tmt
Viết cho ngày 30- 7-2026 (57 năm Cung mất)
 

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.