Thơ Nguyễn Đức Sơn

20/12/201910:12:00(Xem: 11560)
bia 1
Hình bìa.

THƠ VÀ ĐÁ

 

Đá hát

Ngàn thâu

Tóc râu

Ta nhịp

Thơ hát

Đá át

Hồn sa

Bát ngát

 

****

 

RẰM

 

Đá nhập thơ

Nhảy trờ trờ

Trời nguyệt mở

 

****

 

VẠN CỔ

 

Đá chọi thơ

Thơ chọi đá

Sáng mịt mờ

Cõi quá lạ

 

****

 

ĐÁ HÁT

 

Đá ca

Trăng tà

Thiên ma

Bách chiết

Khuya nghe đá hát

Đòn roi thấm rát

Bất tận hồn mơ

Bốc cao tiếng sát

 

****

 

MỘNG

 

Nhà đá

Trăng tà

Vạn cổ

Hồn ta

 

****

 

ĐÊM NAY

 

Qua khe cửa sắt nhà tù

Tôi thấy trăng mù

Nín thở

 

****

 

THIÊN CAO

 

Mây bạc về đâu

Bên trên cửa sổ

Ta đợi ngoài thâu

Chuyến đi quá đắt

 

****

 

TRĂNG và MỘNG

 

Thôi trăng

Đừng vào thăm ta

Mộng đã chín ngoài xa

Vạn dặm

 

****

 

BÀI THƠ HY VỌNG

 

Thơ ca

Không đồng nghĩa

Với kêu la

Trối chết

Đồng hóa

Với trời đất bao la

Thơ ca

Có tiếng la

Từ đó

Từ đó

Giọt lệ phải sa

Cho thiên hà

Lấp ló

 

****

 

SAO

 

Núi sinh ra

Họa hoằn lắm

Mới

Có chỗ mềm

Nhưng

Cũng đủ

Cho kẻ xấu

Ngày đêm

Chê trách

 

****

 

TÔI KHÔNG HIỂU

 

Những trái tim

Trăm năm chao đảo

Nói gì

Với cái đầu

Ngàn năm

Trụ giữa giông bão

 

****

 

SỐNG

 

Cùng với thơ

Chẳng lẽ

Chỉ còn có

Một cách

Là đứng một chân

Trên núi

 

****

 

CHIỀU

 

Gò đống

Ngang qua

Ma

Một lũ

Đang ngồi cú rủ

Không thấy đứa nào hỏi

Trái đất

Mới hay cũ

Dẫu sao thì

Người

Đang sống

Phải nhào với

Ma

Một đống

 

****

 

GIỜ ĐỢI HÀNH QUYẾT

 

Cứ hỏi

Thật

Trời xanh

Khi

Các anh

Chưa bóp cò

Thì

Tự do

Đã gục

 

****

 

MAI KIA TỪ GIÃ CÕI ĐỜI

 

Mai kia từ giã cõi đời

Đừng nghe

Cái cẳng từng rời cái chân

Cái xa nhập với cái gần

Cái lạ lẫm

Cái thiết thân một rồi

Không có đứng

Không có ngồi

Không trên

Không dưới

Bồi hồi là sao

Không nghiệt ngã

Không ngọt ngào

Trần gian trở lại

Ta chào chính ta

 

 

*****

 

Nguyen Duc Son _Truong Dinh Uyen minh hoa
Nguyễn Đức Sơn, nhìn bởi HS Trương Đình Uyên



Vài dòng tiểu sử nhà thơ Nguyễn Đức Sơn

 

Nhà thơ Nguyễn Đức Sơn quê gốc làng Thanh Lương, huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế.  Ông sinh ngày 18 tháng 11 năm 1937 tại làng Dư Khánh, tỉnh Ninh Thuận.  Nguyễn Đức Sơn bắt đầu sáng tác thơ với bút hiệu Sao Trên Rừng. Ông làm thơ rất sớm, xuất bản nhiều tập thơ và truyện ngắn từ đầu thập niên 60 cho tới năm 73. Ông là một trong bốn thi sĩ thường được gọi là “Tứ trụ thi ca” của miền Nam Việt Nam (ba người kia là Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền và Tô Thùy Yên.) Sơn Núi là tên gọi thân mật khi hàn huyên với bạn bè. Hiện vợ chồng Nguyễn Đức Sơn sống ở đồi Phương Bối, xã Lộc Châu, thành phố Bảo Lộc.

 

Các tác phẩm đã xuất bản:

 

Tập truyện:

  • Cát Bụi Mệt Mỏi (An Tiêm, 1968)
  • Cái Chuồng Khỉ (An Tiêm, 1969)
  • Xóm Chuồng Ngựa (An Tiêm, 1971)
  • Ngồi Đợi Ngoài Hành Lang (chưa in)

 

Thơ:

  • Hoa Cô Độc (Mặt Đất, 1965)
  • Bọt Nước (Mặt Đất, 1966)
  • Lời Ru (Mặt Đất, 1966)
  • Đêm Nguyệt Động (An Tiêm, 1967)
  • Vọng (An Tiêm, 1972)
  • Mộng Du Trên Đỉnh Mùa Xuân (An Tiêm, 1972)
  • Tịnh Khẩu (An Tiêm, 1973)
  • Du Sỹ Ca (An Tiêm, 1973)
  • Thơ và Đá (Văn Học Press, 2019).

Nắng cất chứa trong lòng gỗ thơm / Khói ấm đưa thơ về trên trang ngoại sử / Nắng vắng trong hư không, nhưng nắng chất đầy một lò sưởi đỏ / Nắng lên thành mầu Khói, thơ đọng thành mầu Sương / Nắng cất giữ trong từng hạt mưa Xuân / Giọt nước cúi xuống hôn Đất, cho hạt cây nẩy Mầm / Thơ đi theo mưa về trên đọt Lá / Nắng thành màu Xanh, thơ thành mầu Hồng
tìm mãi không ra con đường bất tận / chở thương yêu về ruộng đồng / nơi có những chôn giấu thầm lặng / phôi pha theo đất đỏ phù sa / bao nhiêu lần dang tay réo gọi / níu về phía mặt trời
Tôi khuyên ông tạm dừng ra quán uống rượu uống cà phê / bạn ta theo đảng Dân Chủ cũng nhiều mà Cộng Hòa cũng lắm / động tới chuyện bầu cử, vaccine, covid, khẩu trang / thế nào cũng có khả năng choảng nhau văng nước miếng / lúc say máu ngà có tránh trớ virus gì đâu?
“Đôi khi Chàng gần, đôi khi Chàng xa / Chàng vẫn ngồi đâu đó từ hôm qua / Cho đến hôm nay, và ngày mai nữa / Dòng sông vẫn đầy và trôi đi xa.”
Cả Trung Quốc, một cõi người đông như cỏ, mới có một tài năng thần kỳ như Bào Đinh, cắt thịt như gió xuyên qua lá, tưởng chừng là loạn đao, mà lại thứ tự lành nghề, đạt đến kỹ thuật cao, và nghệ thuật độc nhất vô nhị. Nhưng vài mươi năm sau, ông ta qua đời. Từ đó, không còn ai thừa kế. Tài năng vượt thời gian trở thành truyền thuyết. Về sau, biết bao nhiêu người vì truyền thuyết đã mơ tưởng tu luyện để tiến đến nghệ thuật kỳ tài. Vì không thể nào lưu truyền, tài năng cắt thịt không mang lại ích lợi chung là bao nhiêu.
khi tôi ngước mặt trả lời / bà đã quay lưng / nắng sớm vươn theo lấp lánh / trên tóc trên vai / áo phất phơ bay trong gió
chút ánh sáng của núi rạng đông / phương đó quê hương là mặt trời / rót chén rượu ân tình nắng ấm / lòng xao xuyến như lần đầu tìm nhau / tấm lòng như con nước dâng cao / hạnh phúc như đến từ vũ trụ / giấc mơ vẽ lên bức tranh trăm nỗi / cuộc tương phùng cuối đời
Thơ ông có bí mật ma thuật ra sao? Xin đọc Howl (Hú), bạn đọc sẽ thấy chữ nghĩa biến hóa, phẩm chất văn chương văn học, cách mạng văn học, hòa tan vào nhau, cuồn cuộn bất ngờ, như múa lân, không biết lúc nào nó ngóc đầu, đập đuôi, xàng xê, nhảy cao, trồn đồn, lăn chiên. Đám muá lân đó, có Bùi Giáng đóng vai tề thiên đầy phép tắc và huyền thoại.
Saigon mẹ tôi không miếng trầu tươi / Không miếng vôi nồng, môi miệng biếng cười / Mẹ ngồi lặng nghe từng con số tới / Số cứ tăng dần, mắt Mẹ lệ rơi
bất kể dự báo thời tiết hôm nay & mười ngày tới / ở một nơi rất riêng tư ̶ ̶ ̶ trước không hề có tên / nay gọi vùng vịnh bóng đè / đối mặt một đại dương chưa bao giờ phẳng lặng
Ba bài thơ trên được trích từ tập sách "Không Đứng Mãi Trong Tranh" của Lê Chiều Giang, sách gồm những bài tùy bút ngắn tác giả viết "Mà như vẽ lại... không hề tẩy xóa, chẳng tô vẽ thêm..." và những bài thơ "hiện thực đầy ẩn dụ". "Không Đứng Mãi Trong Tranh" của Lê Chiều Giang là cuốn sách đầu tay và duy nhất được tác giả gởi tặng đến những người bạn của Nghiêu Đề và bạn Cô, với lời Nguyễn Thị Thụy Vũ viết thay đề tựa: "Chúng tôi sẽ đọc Lê Chiều Giang, những giòng chữ chảy lui về quá khứ. Một quá khứ không thể nào không nhắc tới, nhớ tới... Những quá khứ của thời đã "Chết đi, sống lại." Đọc Lê Chiều Giang là đứng lùi lại, ngắm nhìn những bức tranh vẽ lại kỷ niệm, bạn bè, tình yêu, những điều rất xa xưa, bằng cặp mắt của hiện tại, bức tranh của những tháng ngày cũ ẩn hiện bằng cảm xúc riêng của tác giả, nhưng rất chung như chính trăn trở của bạn bè, thế giới, thời đại của Cô. Đọc thơ Lê Chiều Giang, là để ngọn khói trong lòng mình bay lên, là "Mổ trái tim.
Thơ ba dòng là một thứ “hố đen” trong vũ trụ thơ. Đó là thứ “thơ còn lại” sau khi thiêu rụi những rườm rà, những quy cách, những lối mòn của những đường lối thơ đã trở nên chán ngắt mà, trong đó, nổi bật nhất, là sự mượt mà du dương của chủ nghĩa lãng mạn. Thơ ba dòng, do đó, là thơ để nghĩ hơn là để ngân nga như những nhạc điệu êm tai và, trong tương tác với người đọc, như là một thứ thơ đã nén chặt, nó sẽ bùng nổ theo những liên tưởng và suy tưởng không ngờ.
Thanh âm một cõi Sa Bà / Ba ngàn thế giới cũng là tại tâm / Nước non chung một cung trầm / Máu sa lệ sót những lầm than đau