Thơ Nguyễn Đức Sơn

20/12/201910:12:00(Xem: 11549)
bia 1
Hình bìa.

THƠ VÀ ĐÁ

 

Đá hát

Ngàn thâu

Tóc râu

Ta nhịp

Thơ hát

Đá át

Hồn sa

Bát ngát

 

****

 

RẰM

 

Đá nhập thơ

Nhảy trờ trờ

Trời nguyệt mở

 

****

 

VẠN CỔ

 

Đá chọi thơ

Thơ chọi đá

Sáng mịt mờ

Cõi quá lạ

 

****

 

ĐÁ HÁT

 

Đá ca

Trăng tà

Thiên ma

Bách chiết

Khuya nghe đá hát

Đòn roi thấm rát

Bất tận hồn mơ

Bốc cao tiếng sát

 

****

 

MỘNG

 

Nhà đá

Trăng tà

Vạn cổ

Hồn ta

 

****

 

ĐÊM NAY

 

Qua khe cửa sắt nhà tù

Tôi thấy trăng mù

Nín thở

 

****

 

THIÊN CAO

 

Mây bạc về đâu

Bên trên cửa sổ

Ta đợi ngoài thâu

Chuyến đi quá đắt

 

****

 

TRĂNG và MỘNG

 

Thôi trăng

Đừng vào thăm ta

Mộng đã chín ngoài xa

Vạn dặm

 

****

 

BÀI THƠ HY VỌNG

 

Thơ ca

Không đồng nghĩa

Với kêu la

Trối chết

Đồng hóa

Với trời đất bao la

Thơ ca

Có tiếng la

Từ đó

Từ đó

Giọt lệ phải sa

Cho thiên hà

Lấp ló

 

****

 

SAO

 

Núi sinh ra

Họa hoằn lắm

Mới

Có chỗ mềm

Nhưng

Cũng đủ

Cho kẻ xấu

Ngày đêm

Chê trách

 

****

 

TÔI KHÔNG HIỂU

 

Những trái tim

Trăm năm chao đảo

Nói gì

Với cái đầu

Ngàn năm

Trụ giữa giông bão

 

****

 

SỐNG

 

Cùng với thơ

Chẳng lẽ

Chỉ còn có

Một cách

Là đứng một chân

Trên núi

 

****

 

CHIỀU

 

Gò đống

Ngang qua

Ma

Một lũ

Đang ngồi cú rủ

Không thấy đứa nào hỏi

Trái đất

Mới hay cũ

Dẫu sao thì

Người

Đang sống

Phải nhào với

Ma

Một đống

 

****

 

GIỜ ĐỢI HÀNH QUYẾT

 

Cứ hỏi

Thật

Trời xanh

Khi

Các anh

Chưa bóp cò

Thì

Tự do

Đã gục

 

****

 

MAI KIA TỪ GIÃ CÕI ĐỜI

 

Mai kia từ giã cõi đời

Đừng nghe

Cái cẳng từng rời cái chân

Cái xa nhập với cái gần

Cái lạ lẫm

Cái thiết thân một rồi

Không có đứng

Không có ngồi

Không trên

Không dưới

Bồi hồi là sao

Không nghiệt ngã

Không ngọt ngào

Trần gian trở lại

Ta chào chính ta

 

 

*****

 

Nguyen Duc Son _Truong Dinh Uyen minh hoa
Nguyễn Đức Sơn, nhìn bởi HS Trương Đình Uyên



Vài dòng tiểu sử nhà thơ Nguyễn Đức Sơn

 

Nhà thơ Nguyễn Đức Sơn quê gốc làng Thanh Lương, huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế.  Ông sinh ngày 18 tháng 11 năm 1937 tại làng Dư Khánh, tỉnh Ninh Thuận.  Nguyễn Đức Sơn bắt đầu sáng tác thơ với bút hiệu Sao Trên Rừng. Ông làm thơ rất sớm, xuất bản nhiều tập thơ và truyện ngắn từ đầu thập niên 60 cho tới năm 73. Ông là một trong bốn thi sĩ thường được gọi là “Tứ trụ thi ca” của miền Nam Việt Nam (ba người kia là Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền và Tô Thùy Yên.) Sơn Núi là tên gọi thân mật khi hàn huyên với bạn bè. Hiện vợ chồng Nguyễn Đức Sơn sống ở đồi Phương Bối, xã Lộc Châu, thành phố Bảo Lộc.

 

Các tác phẩm đã xuất bản:

 

Tập truyện:

  • Cát Bụi Mệt Mỏi (An Tiêm, 1968)
  • Cái Chuồng Khỉ (An Tiêm, 1969)
  • Xóm Chuồng Ngựa (An Tiêm, 1971)
  • Ngồi Đợi Ngoài Hành Lang (chưa in)

 

Thơ:

  • Hoa Cô Độc (Mặt Đất, 1965)
  • Bọt Nước (Mặt Đất, 1966)
  • Lời Ru (Mặt Đất, 1966)
  • Đêm Nguyệt Động (An Tiêm, 1967)
  • Vọng (An Tiêm, 1972)
  • Mộng Du Trên Đỉnh Mùa Xuân (An Tiêm, 1972)
  • Tịnh Khẩu (An Tiêm, 1973)
  • Du Sỹ Ca (An Tiêm, 1973)
  • Thơ và Đá (Văn Học Press, 2019).

Mối tình đầu đã giết dì tôi / như người ta giết bông hoa / cắm lên bàn thờ / héo hon tháng ngày còn lại. / Dì tôi yêu thích và buồn theo tiếng hát / “Đồi Thông Hai Mộ” / Như thể mối tình trong ca khúc này / là tâm sự của dì tôi.
nguyên thủy là kêu gọi trở về / nơi cánh đồng của những trong lành tươi mát / chưa nảy sinh những dị biệt / chân đi trên phù sa / ướt những tấm lòng xanh ngát bao la
một ngày trôi giạt theo sóng vào bờ / một ngày quấn quýt từng bước chân trần / tuổi trẻ bềnh bồng không định hướng / một ngày câm nín xao động ôm trái tim mình / bay cao ngang ngửa trên ngọn cây mộc lan / trập trùng những nụ búp xanh tươi mơn mởn
Tập thơ thứ 11: “Đời Sống Làng Quê” ấn hành năm 2009. Được xem như một khúc quanh trong sự nghiệp thi ca của Louise Gluck. Khác hẳn với tập “Hoa Diên Vĩ Hoang Dại”, 1992, với nội dung siêu hình và siêu nhiên, đã tạo cho bà nhiều danh vọng. 1. “A Village Life” mang đến cho độc giả những cảm xúc thâm trầm về tâm sinh lý của cá nhân và xã hội. Một loại xã hội thực tế, dùng lám ẩn dụ, tuy hiện diện nhưng gần như bị lãng quên bởi đời sống phố thị rộn ràng nhốn nháo. Những mẫu chuyện ngắn thật ngắn, nhỏ thật nhỏ, đôi khi phức tạp, ly kỳ. Đa số bình thường với những nhận xét tinh tế:
Đàn ông biết được phụ nữ bao nhiêu? Tôi dùng chữ “biết”, không phải ý chữ “hiểu”. Tôi không dùng chữ “đàn bà” vì e rằng thiếu kính trọng. Tôi lấy vợ đã gần nửa thế kỷ. Đã bắt tay, chào hỏi vài ngàn phụ nữ và nhìn ngắm họ qua trăm ngàn vóc dáng khi du hành nhiều nơi trên thế giới, nếu tính luôn trên truyền hình, qua video, con số có thể lên hàng triệu. Nói như vậy, bạn đọc có thể lầm tưởng tôi là người có bản lãnh biết về phụ nữ, thực tế, như Louis de Bernières đã nói: “Đường lối phụ nữ chinh phục trái tim đàn ông là khiến cho anh ta tưởng bở đang làm cô thích thú.” (“That's how a woman wins a man heart, by making him think that he amuses her.)
điều nguyên vẹn nhất / vẫn nằm im trong tim / ngày mùa thu nhớ dòng sông / nấm đất buồn tênh bên lở bên bồi / quăng viên sỏi trắng cạnh chiếc cầu run rẩy / bàn tay nào níu giữ / bạn bè và tình nhân / ngẩn ngơ năm ba lời tiếc nuối / con chim non hót mấy tiếng cội nguồn
Thế giới giờ này người né người! / Ngồi trên xe bus gắn máy lạnh, hoặc xe bò cọc cạch lăn bánh, / người ngồi xa người, khoảng cách an toàn, một thước rưỡi. / Anh xa tôi! Tôi xa em! Ta xa nhau! Đúng 2 thước. / Giờ này đôi ta hôn nhau nụ hôn gió qua khẩu trang! / Ai đó lỡ miệng ách-xì một, hoặc hai tiếng, hoặc một tràng; / Hết rồi những ánh mắt ái ngại, / những lời nói cảm thông, “God bless,” hoặc “Trời, Phật, Chúa chữa!”
Mời các bạn đọc một ngụ ngôn tân thời của thi sĩ Nobel Louise Gluck. Bóng tối che đậy tội ác. Che giấu những con mèo từ rừng hoang xuống trà trộn vào thành phố. Ban ngày, chúng hiền lành. Về đêm, mèo lộng hành, bè đảng, lòng dạ hung tợn, ngay cả người cũng sợ. Chúng săn đuổi, tiêu diệt những sinh vật không có sức kháng cự. Thảm thương cho thân phận làm chuột. Ngày không dám nhìn mặt trời. Đêm la hét đau đớn dưới răng mèo sắc bén. Chết, Chuột chết la liệt đầy phố đêm. Ai biết? Biết rồi, ai nói? Trước khi trời sáng, xã hội quét dọn, đường phố sạch sẽ, không dấu vết sát thủ, nạn nhân. Mặt trời lên. Mèo hiều hậu, dễ thương, Chuột trốn nắng. Người vô tư. Nhưng rồi đêm sẽ đến, sẽ tiếp diễn máu me và định mệnh.
Mời nghe Alexandra Huỳnh đọc bài thơ Di Sản (Inheritance) "live" trên đài truyền hình LX News. Nữ sinh gốc Việt Alexandra Huynh, tên Việt là Thụy An, 18 tuổi, trong buổi chung kết đêm Thứ Năm 20/5/2021 vừa qua đã thắng giải: "2021 National Youth Poet Laureate -- Nhà Thơ Khôi Nguyên Giới Trẻ Quốc Gia 2021". Huynh trả lời phỏng vấn AP đêm Thứ Năm qua điện thoại từ nhà, rằng thơ đối với cô là phương tiện để tự bày tỏ và để giúp công lý xã hội. Cô nói “Tiếng Việt tự nó đã là một tiếng nói giàu chất thơ. Trong sinh hoạt văn hóa của người Việt người ta đã nói thành thơ trong cuộc sống hằng ngày.” Cô cho hay là đã tập viết những lời thơ phổ nhạc từ khi mới 7 tuổi; đặc biệt là sau những lần đọc thơ trước công chúng thì lại càng cảm thấy sức mạnh của chữ nghĩa có tác động tích cực lên tâm lý và tinh thần đại chúng. Alexandra Huynh căn bản sáng tác thơ bằng tiếng Anh nhưng luôn nuôi hy vọng là sẽ có tác phẩm thơ ra đời và sẽ được chuyển ngữ sang “tiếng Mẹ đẻ”, ngôn ngữ Việt Nam.
nếu tôi không thể là người hùng / tôi mang tên người di dân gương mẫu / ôi những chiếc thuyền / & những người trên những chiếc thuyền ấy / can đảm biết bao & khác xa / đám tỵ nạn đương thời chúng ta nợ họ / Tôi ngậm chặt lưỡi / nghe âm thanh / thân thuộc gần như nhà mình / khi tên Dương Thu Hương mất đi dòng sông / trong miệng lão thầy / và chẳng ai buồn hỏi vì sao / mặt tôi giàn giụa. & nhớ đến chiếc bàn buồn bã, / trong góc xó lớp học / tôi viết lời nguyện cầu / cho lũ trẻ sắp vào chật lớp này: / hãy để đám trẻ được xưng tên chúng như mẹ chúng đã từng gọi thế. / hãy để điệp khúc được xướng lại hay cố gắng & cố gắng như thế. / hãy để những câu chuyện không pha chất trọ trẹ / & giữ lại thanh âm không phiên dịch. / hãy để lũ trẻ điền vào khoảng trống bằng ký ức.
những bông hoa Diên Vỹ / nở tím chiều tháng Năm / Anh nở tím hồn em / bắt đầu vào tháng mấy
trên đồi gió khoác áo thư sinh tóc bạc / như lữ hành đi qua đồng bằng / thỏa mãn khát khao / sông dài núi rộng / thèm dòng sữa chảy ra từ lồng ngực / que diêm cháy một lần rồi tắt / vẽ vời chi / trăm cảnh lao đao
Trước đây, Thường Thấu Thấm thuộc về giả thuyết thưởng ngoạn và sáng tác. Tuy nhiên, dịch thuật cũng mang cấu trúc cơ bản của ngôn ngữ và ngữ pháp, được xác định minh bạch về bản chất, cá tính và chức năng, có tính toàn cầu trong hệ thống ngôn ngữ, có tính chung để thông đạt, nên giả thuyết này có thể áp dụng vào dịch thuật, song song với giả thuyết thưởng ngoạn và sáng tác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.