Chùm Thơ “Chữa Lành Thế Giới”

21/05/202009:55:00(Xem: 4378)

 

(Cảm niệm bài viết “Thơ sẽ chữa lành thế giới” của cư sỹ Nguyên Giác, nên xin hoan hỷ chia sẻ dăm ý tưởng thường nhật, bằng những lời thơ chất phác)

TN Huệ Trân

 

TN Hue Tran 01
CẤT TIẾNG HÁT THƠ


Thơ sẽ chữa lành thế giới

Mỗi lời xin nụ nở hoa

Mỗi âm điệu là sông suối

Hòa giòng hợp tấu hoan ca

 

Cất tiếng hát thơ, ca ngợi

Từ Bi Hỷ Xả bao la

Tình thương không còn ranh giới

Khi thương người như thương ta

 

Cất tiếng hát thơ, chia sẻ

Muôn loài, vạn hữu, nào xa

Luân hồi từ vô lượng kiếp

Thân sơ, ai biết chăng là!

 

Cất tiếng hát thơ, cùng bước

Nương Bát Chánh Đạo, cùng đi

Bỏ bờ mê, qua bến giác

Chân-như bất khả tư nghì

 

Cùng nhau thả thơ trong gió

Gió vờn tà áo ai bay

Thả thơ, trong chiều mưa xuống

Nón ai, nghiêng nhẹ vai gầy

 

TN Hue Tran 02 

 

CHỈ LÀ NGỒI YÊN


Chiều xuống, rồi ánh dương lên

Vạn hữu tuần hoàn tự nhiên

Tịnh thất, bóng ai thầm lặng

Thân tâm an lạc tọa thiền

 

Chiều xuống, thở vào thở ra

Nắng lên, hơi thở điều hòa

Tâm bình an trong chánh định

Thân vững chãi, thế kiết già

 

Ngồi yên, chỉ là ngồi yên

Nhìn sâu, thấu rõ tự thân

Đến, đi, vô thường muôn sự

Còn đây, chỉ lúc hiện tiền

 

Nhận thức phút giây hiện tại

Để sống từng phút, từng giây

Hiến tặng niềm vui, bớt khổ

Quá khứ, tương lai, nơi này!

 

NHỔ CỎ DẠI


Người làm vườn,

Phải siêng năng

Nhổ cỏ dại.

Hoa lá mới reo vui

Mà xanh tươi mãi mãi

 

Vườn-tâm cũng cỏ dại

Tham, sân, si, mạn, nghi

Người không siêng nhổ cỏ

Vườn-tâm người còn chi!?


TRỜI MƯA, NHẮN BẠN


Trời mưa, làm việc trong nhà

Kẻo mưa ướt áo, đường xa khó về

Chợt nhớ lời dạy xưa kia

Có ai tránh ướt vì che dù người!

Phải tự tìm dù che thôi

Mới mong đi hết đường đời trầm luân

Chúng sanh thừa tự nghiệp thân

Lành dữ, thiện ác, tỏ phân rõ ràng

Không gieo Nhân,

Qủa nào mang?!

 

TN Hue Tran
QUỲNH NỞ ĐÊM RẰM


Công phu khuya vừa dứt

Bước ra thăm tiểu viên

Một đóa quỳnh vừa nở

Chắp tay đón Chư Thiên

 

Bên hiên, trăng rằm tỏ

Lồng bóng suối Tào-Khê

Quỳnh hoa và bóng nguyệt

Tương giao một lối về

 

Về đây, nghe chuông điểm

Ngân nga Chứng Đạo Ca

Về đây, nghe nhịp mõ

Nam Mô A Di Đà

 

Thân Tâm đồng thanh tịnh

Bát Nhã nào đâu xa!

 

 

VỀ CÕI TỊNH


Về Cõi Tịnh bằng Tâm

Không bằng Thân tứ đại

Tâm chưa tịnh, chưa thanh

Sẽ là bao chướng ngại

Niệm niệm dẫu không rời

Vẫn còn muôn cửa ải!

 

NÀO GẦN, NÀO XA


Đã lâu Sư không lên chùa

Tịnh tu nhập thất bao mùa Đông Xuân

Thoắt đây, nắng Hạ vàng sân

Sư về thăm lại bạn gần, bạn xa

Chắp tay chào “A Di Đà”

Xôn xao vồn vã, níu tà áo nâu

“Sư Cô ơi, qúa là lâu,

Chúng con nhớ lắm, biết đâu mà tìm!”

Nhẹ nhàng đáp lời tình thân

“Cùng quy một hướng, nào gần nào xa

Gặp nhau, một niệm Di Đà

Tâm tâm giao cảm là ta đang gần”

 
TN Hue Tran 04


NGƯỜI VỀ XỨ PHẬT


Chân người “Theo dấu Như Lai” (*)

Tâm người, tâm Phật bản hoài dung thông

Người về xứ Phật thong dong

Nắng mưa nào quản, trải lòng vị tha

Mặc danh, mặc lợi gần xa

Tâm-sen chỉ nở đóa hoa Đại Từ.

 

(*) (Tỳ-Kheo Thích Tánh Tuệ,

miệt mài làm từ thiện nơi Xứ Phật)


CHO VÀ NHẬN


Của Cho không bằng Cách Cho

Ngã chấp, ngã sở đắn đo làm gì!

Vô thường, đến đó rồi đi

Còn đó rồi mất, có chi vững vàng!

Vui, buồn, hợp đó rồi tan

Xuôi tay nhắm mắt, ai mang được gì!

Sống tử tế với nhau đi

Trực tâm thị đạo, ngay khi hiện tiền.

 

QUÁN KHÔNG


Thân nhẹ lâng lâng, tâm đối vách

Khẩu tịnh vô ngôn,

Làn sương rơi

KHÔNG chỉ là KHÔNG, không gì khác

Trong, ngoài, trên, dưới,

Chẳng đầy vơi

 

Gạn sạch tư duy, dừng hý luận

Thảnh thơi dứt nghiệp, buông duyên thôi

Thì TÂM thanh tịnh, cùng KHÔNG ấy

Hợp nhất chung giòng Diệu Pháp xuôi

 

Lẽ đạo là đâu? Gần hay xa?

Phút giây KHÔNG quyện chặt TÂM ta

Muôn sự oan, ưng, sang, hèn, phải, trái

Tự tan, tự biến,

Tựa như-thị-là.

 

TN Huệ Trân

(Tào-Khê tịnh thất – Những ngày tịnh tu)

 

Mưa Mưa Mưa Bên kia biển Mưa có lạnh không em Dúi ngón chân son dưới lòng cát ấm Cát sẽ phủ chân em Biển vuốt ve trìu mến Sóng nhấp nhô mưa đời
Tam quan mái lạnh người không tới | Cả ngôi chùa đứng khóc trong mưa.
Trước khi là một bài thơ, "Hòn Đá Làm Ra Lửa" đã là một hành vi kỳ lạ đối với chính khái niệm văn bản. Nó ra đời không trên trang giấy mà trong trí nhớ, giữa hai trại tù Gia Trung và Hàm Tân, suốt gần một thập niên, chỉ được ghi thành chữ lần đầu khi tác giả đã đặt chân tới Thụy Điển, theo tài liệu, nhưng tôi nghĩ, phải trước đó, khi ra khỏi tù hay đến chốn an toàn, phải ghi lại dù không được tề chỉnh như sau này. Phần đông người đọc dừng lại tắc lưỡi, xem đây là một chi tiết cảm động về nghị lực.
Tôi gặp lại anh bên kia ngọn núi / Trong nắng chiều sắp tối / Sao anh không về nhà? / Cha khóc con tàn hết mùa hoa / Mẹ chờ con khuyết cả trăng rằm / Nhà xưa em vẫn đợi / Đó không phải là nhà / Đó là cái còn lại / Của bóng tối. Khuôn mặt tôi không còn nữa / Bên kia cánh cửa: không ai chờ / Làng quê xa vời vợi: tiếng gà gáy sáng / Chó sủa đêm trăng.
Như đứa trẻ nghịch ngợm xé ra trên mặt nước những vòng tròn quấn quít trăm điểm mở
buổi chiều trở về từ cuộc đi bộ | nghe chút hương thơm của hoa jasmin | trắng như bạch ngọc
Cách tốt nhất để giết một con chim | là thế này: dù nó đang cãi cọ hay cất tiếng kêu, | bạn hãy viết rằng chú chim nhỏ đang hót.
Thưa Công nương mắt hương thu u uất Mùa thu không trở lại trong đôi mắt đại dương xanh đầy móng vuốt và, tiếng hát của nàng rắc hoa trên đường về quê cũ xa xăm. Công nương không tin ư
Chuỗi hạt mẹ nằm trên trang | Ý thờ sâu lắng miên man niệm tình
Trận Mậu Thân xãy ra, đơn vị tôi đánh nhau với vc ngay sân nhà.Trận Gò Me Biên Hòa cách hậu cứ tôi chừng 500 mét. Thằng em tôi, thằng em… tôi vừa cưới vợ cho nó nằm lại cùng chiến trường. Vợ nó đón đơn vị quay về ngay tại sân cờ, nhìn quanh không thấy nó, mang cái bầu, xông thẳng đến tôi, không một giọt nước mắt đấm vào ngực tôi bình bịch ‘chồng em đâu, mất rồi hả anh hai’. Vâng đời lính là vậy, vợ lính là vậy.
Để hiểu một nhà thơ, đôi khi phải bắt đầu từ chỗ thân xác họ đã đi qua. Với Nguyễn Hoàng Nam, chỗ ấy là một chiếc ghe đánh cá ra cửa biển Rạch Giá. Trong bài Về nguồn (1990), ông ghi lại khoảnh khắc mửa thốc mật xanh trong hầm ghe, và chính trong cơn say sóng kinh hoàng đó, ký ức quê nhà bật lên: xứ Bưởi Biên Hòa, căn nhà số 66 đường Phan Đình Phùng nơi người mẹ mang ông trong lòng. Rồi đến trại tị nạn Songkhla ở Thái Lan với nắng cháy tóc và sứa lửa phỏng da, sau những bữa ăn cá sình rau vụn. Rồi đến Bolsa, đến tượng Phước Lộc Thọ, đến những bãi biển California.
Môi thầm ngậm nửa lời kinh | Tưởng như thập giá ẩn mình trong sương | Trả lại Chúa những vết thương
tâm trí và khói lang thang | bên này, bên kia trái đất | hồ nước cạn, con đường ngập | cánh rừng tự thiêu | tảng băng bắc cực lững lờ