Trang thơ cuối đông

28/11/202220:00:00(Xem: 5331)
1- Ann Phong. Molded Memory 30x40 mixed media 2010
Tranh Ann Phong.



Chuông nguyện mù sương

 

Tôi gõ lòng tôi ba tiếng chuông

Tiễn người thay sợi khói trầm hương

Tiếng chuông đánh thức trò dâu bể

Ngụp lặn phù sinh cuộc nhiễu nhương

 

Rắc rượu vào sông tôi thủy táng

Hẩm hiu cùng với bụi tro về

Ta với người như hoa bỉ ngạn

Nâng chén giang hồ qua bến mê

 

Tôi gõ lòng tôi ba tiếng nữa

Tiễn người? Không. Tôi tiễn tôi thôi.

Mai mốt phiên tôi ai có tiễn

Tôi biết gì đâu khuất biệt rồi

 

Đừng kết hoa tang đừng liễn điếu

Hoa rụng còn trơ lá với cành

Ba tiếng chuông thôi là quá diệu

Cho hồn linh lạc cõi vô thanh!

 

*

 

Đồ người

 

Mắng một người phụ bạc mình là đồ chó

tưởng như vậy sẽ làm họ tức giận

thực sự bạn đã lầm

vì trong mắt họ long lanh sự hãnh diện

được gọi là đồ chó.

 

Giá như những người bị mắng là đồ chó mà thực sự có trái tim loài chó

thế gian này đâu có những kẻ phụ ngãi, bội tình

những kẻ ngồi nhai rau ráu sự chung thủy mới thật sự là lũ súc sinh

 

Hỡi những người bị tình phụ

đừng bao giờ mắng nhiếc kẻ kia là đồ chó

chỉ tổ làm vẻ vang cho họ


Chính xác hơn cả nên mắng họ là:


Đồ
Đồ… đồ

Đồ người.

 

*

Khúc một

Buổi tối băng qua đường Bellaire đầm đìa sương giăng
tưởng đã chàng ràng bạch lộ
ngã tư Beechnut quẹo trái
ông già da đen giương cao đồng xu hai lăm cent
trương cao tấm bảng bằng tiếng Việt không hoa không dấu: o vietnam ve
xin gã da vàng bủng beo bố thí

này man, me trả lại những lon thịt năm xưa
những gói thuốc bốn điếu
Pall Mall, Camel
từ máy bay thả xuống đồng làng Nhị giáp
những chiều hả hê đốt xe jeep Mỹ
yêu nước chống kẻ thù tiếp tế “người anh em”

 

Bây giờ ước gì thấy một cô gái đứng đường
để được cò kè trả giá khan
hai chục đi không, em chiều?
“con đường Duy Tân cây dài bóng mát”
Thị Nghè, Chuồng Chó, Lái Thiêu

Ở trong cái bar kín mít kia
cởi truồng trắng, vàng, đen mỹ miều hợp pháp
dòm lom lom từ lỗ chiếu môn tới đỉnh đầu ruồi
tự trói hai tay ra phía sau miệng ngậm một đồng tiền tip
em không hề vươn tay duỗi chân há miệng vẫn lấy gọn ơ
nghệ thuật tình câm

Các cô gái không một tí vải nào trên người vẫn ngang nhiên cười sằng sặc hào sảng
nụ cười công dân Hoa Kỳ tự tin tư bản
năm chục năm các cô gái đứng đường nước Việt
không có mảy may nụ cười ấy
chỉ có tiếng khóc thảm thê đời đời điếm lậu

những lão thi sĩ già quắp sần sùi tình yêu
ngồi ngó mông mây trắng
biết đợi đến bao giờ…

 

Nguyễn Hàn Chung

Mưa Mưa Mưa Bên kia biển Mưa có lạnh không em Dúi ngón chân son dưới lòng cát ấm Cát sẽ phủ chân em Biển vuốt ve trìu mến Sóng nhấp nhô mưa đời
Tam quan mái lạnh người không tới | Cả ngôi chùa đứng khóc trong mưa.
Trước khi là một bài thơ, "Hòn Đá Làm Ra Lửa" đã là một hành vi kỳ lạ đối với chính khái niệm văn bản. Nó ra đời không trên trang giấy mà trong trí nhớ, giữa hai trại tù Gia Trung và Hàm Tân, suốt gần một thập niên, chỉ được ghi thành chữ lần đầu khi tác giả đã đặt chân tới Thụy Điển, theo tài liệu, nhưng tôi nghĩ, phải trước đó, khi ra khỏi tù hay đến chốn an toàn, phải ghi lại dù không được tề chỉnh như sau này. Phần đông người đọc dừng lại tắc lưỡi, xem đây là một chi tiết cảm động về nghị lực.
Tôi gặp lại anh bên kia ngọn núi / Trong nắng chiều sắp tối / Sao anh không về nhà? / Cha khóc con tàn hết mùa hoa / Mẹ chờ con khuyết cả trăng rằm / Nhà xưa em vẫn đợi / Đó không phải là nhà / Đó là cái còn lại / Của bóng tối. Khuôn mặt tôi không còn nữa / Bên kia cánh cửa: không ai chờ / Làng quê xa vời vợi: tiếng gà gáy sáng / Chó sủa đêm trăng.
Như đứa trẻ nghịch ngợm xé ra trên mặt nước những vòng tròn quấn quít trăm điểm mở
buổi chiều trở về từ cuộc đi bộ | nghe chút hương thơm của hoa jasmin | trắng như bạch ngọc
Cách tốt nhất để giết một con chim | là thế này: dù nó đang cãi cọ hay cất tiếng kêu, | bạn hãy viết rằng chú chim nhỏ đang hót.
Thưa Công nương mắt hương thu u uất Mùa thu không trở lại trong đôi mắt đại dương xanh đầy móng vuốt và, tiếng hát của nàng rắc hoa trên đường về quê cũ xa xăm. Công nương không tin ư
Chuỗi hạt mẹ nằm trên trang | Ý thờ sâu lắng miên man niệm tình
Trận Mậu Thân xãy ra, đơn vị tôi đánh nhau với vc ngay sân nhà.Trận Gò Me Biên Hòa cách hậu cứ tôi chừng 500 mét. Thằng em tôi, thằng em… tôi vừa cưới vợ cho nó nằm lại cùng chiến trường. Vợ nó đón đơn vị quay về ngay tại sân cờ, nhìn quanh không thấy nó, mang cái bầu, xông thẳng đến tôi, không một giọt nước mắt đấm vào ngực tôi bình bịch ‘chồng em đâu, mất rồi hả anh hai’. Vâng đời lính là vậy, vợ lính là vậy.
Để hiểu một nhà thơ, đôi khi phải bắt đầu từ chỗ thân xác họ đã đi qua. Với Nguyễn Hoàng Nam, chỗ ấy là một chiếc ghe đánh cá ra cửa biển Rạch Giá. Trong bài Về nguồn (1990), ông ghi lại khoảnh khắc mửa thốc mật xanh trong hầm ghe, và chính trong cơn say sóng kinh hoàng đó, ký ức quê nhà bật lên: xứ Bưởi Biên Hòa, căn nhà số 66 đường Phan Đình Phùng nơi người mẹ mang ông trong lòng. Rồi đến trại tị nạn Songkhla ở Thái Lan với nắng cháy tóc và sứa lửa phỏng da, sau những bữa ăn cá sình rau vụn. Rồi đến Bolsa, đến tượng Phước Lộc Thọ, đến những bãi biển California.
Môi thầm ngậm nửa lời kinh | Tưởng như thập giá ẩn mình trong sương | Trả lại Chúa những vết thương
tâm trí và khói lang thang | bên này, bên kia trái đất | hồ nước cạn, con đường ngập | cánh rừng tự thiêu | tảng băng bắc cực lững lờ