Mậu Thân

03/02/202300:00:00(Xem: 5771)
Mau-Than
Phan Nhật Nam tại Lễ Tưởng Niệm 40 Năm Mậu Thân tại Việt Báo Gallery, 2008

 

Chúng giết người vào buổi sớm mai

Sáng Mồng Hai, ngày Tết

Chúng giết người không ghê tay,

không giấu mặt.

Những hàng xóm, phố xưa quen biết lâu dài,

chung tộc họ, tính danh, gia cảnh

Chúng giết người bởi quyết tâm định sẵn

"Đường vinh quang xây xác quân thù

Lềnh loang màu cờ thẫm máu. (1)

 

Chúng giết trẻ thơ

giữa sân trường, nơi lớp học.

Chúng giết mẹ thương khó tảo tần lưng nặng,

nuôi con thay chồng đóng đồn,

phận lính khổ Nghĩa Quân.

Chúng giết Thầy ta,

Trưởng Gà Hùng Biện (2)

Dạy kẻ thiếu niên nên Điều Thiện, tròn việc tốt mỗi ngày.

 

Chúng trói siết chặt thân

Chúng đập dập nát đầu

Bác Sĩ hiền nhân, lương y từ mẫu

Quy tội danh dạy Đại Học Y Khoa

Quốc tịch phản động Cộng Hòa Liên Bang Đức (3)

Chúng giết người dậy sôi men vọng âm sâu độc

Gọi là "thơ"...

Đêm Giao Thừa,

Bắc Bộ Phủ truyền lệnh tấn công (4)

 

Hãy đốt đuốc lên!

Hãy đốt đuốc lên!

Đào xuống huyệt nông bốn mươi năm xưa lấp vội

Tìm kiếm sọ đầu con vỡ tung lưỡi búa!

Hãy đốt đuốc lên!

Hãy đốt đuốc lên!

Vét suối, phá rừng

Vuốt xếp gọn lọn tóc em tuổi hai-mươi chôn sống

 

Sợi xanh biếc thảm thiết mọc dài

(dưới lường sâu ngàn dép lốp dậm chân nén chặt)

Vẫy vùng, bập bùng, dẫy dụa...

Đòi được thở

Đòi được sống

Em ơi!

 

Mậu Tuất năm nao giỗ ngõ Âm Hồn (5)

Mậu Thân ngày nầy linh, vong thất lạc

Đối mặt chết, bé sợ rung nín khóc

Mẹ che con hứng nhát cuốc hờn oan

Âm cắm sâu thịt người

Dội tầng tầng mạch đất

Xuyên suốt cõi âm ty

Rúng động mười cửa ngục

 

Hồn người chết oan không biết đường về (6)

Đất lưu vong nhớ đuốc chiêu hồn

"Mỗi lần hoàng hôn,

ta đốt lửa người ta tới trước" (7)

Hồn hỡi hồn..

Hồn uất hận nơi đâu!

 

Tại sao chúng giết người?

Tai sao chúng đành đoạn giết Con Người?

Em em ơi và Huế Huế ơi!

 

Phan Nhật Nam

 

Thơ viết ngày 29 tháng Ba, 2008

Đọc tại Lễ Tưởng Niệm 40 Năm Mậu Thân

Với Giải Khăn Sô Cho Huế - Nhã Ca

 

 

(1) Bài hát Tiến Quân của cộng sản Hà Nội

(2) Trưởng Trần Điền, Ủy Viên Trung Ương Hội Hướng Đạo Việt Nam

(3) Các Bác Sĩ Alterkoster, Discher, và Krainick người Tây Đức

(4) "Thơ Chúc Tết" của HCM đêm Giao Thừa Mậu Thân là lệnh tấn công.

(5) Ngõ Âm Hồn, Thành Nội Huế, miếu cúng vong linh

    trong biến cố Thất Thủ Kinh Đô, 1918

(6) Lời Nhã Ca kể trong bài nói chuyện về "Sự Thật Mậu Thân".

(7) Thơ Thanh Tâm Tuyền

Mưa Mưa Mưa Bên kia biển Mưa có lạnh không em Dúi ngón chân son dưới lòng cát ấm Cát sẽ phủ chân em Biển vuốt ve trìu mến Sóng nhấp nhô mưa đời
Tam quan mái lạnh người không tới | Cả ngôi chùa đứng khóc trong mưa.
Trước khi là một bài thơ, "Hòn Đá Làm Ra Lửa" đã là một hành vi kỳ lạ đối với chính khái niệm văn bản. Nó ra đời không trên trang giấy mà trong trí nhớ, giữa hai trại tù Gia Trung và Hàm Tân, suốt gần một thập niên, chỉ được ghi thành chữ lần đầu khi tác giả đã đặt chân tới Thụy Điển, theo tài liệu, nhưng tôi nghĩ, phải trước đó, khi ra khỏi tù hay đến chốn an toàn, phải ghi lại dù không được tề chỉnh như sau này. Phần đông người đọc dừng lại tắc lưỡi, xem đây là một chi tiết cảm động về nghị lực.
Tôi gặp lại anh bên kia ngọn núi / Trong nắng chiều sắp tối / Sao anh không về nhà? / Cha khóc con tàn hết mùa hoa / Mẹ chờ con khuyết cả trăng rằm / Nhà xưa em vẫn đợi / Đó không phải là nhà / Đó là cái còn lại / Của bóng tối. Khuôn mặt tôi không còn nữa / Bên kia cánh cửa: không ai chờ / Làng quê xa vời vợi: tiếng gà gáy sáng / Chó sủa đêm trăng.
Như đứa trẻ nghịch ngợm xé ra trên mặt nước những vòng tròn quấn quít trăm điểm mở
buổi chiều trở về từ cuộc đi bộ | nghe chút hương thơm của hoa jasmin | trắng như bạch ngọc
Cách tốt nhất để giết một con chim | là thế này: dù nó đang cãi cọ hay cất tiếng kêu, | bạn hãy viết rằng chú chim nhỏ đang hót.
Thưa Công nương mắt hương thu u uất Mùa thu không trở lại trong đôi mắt đại dương xanh đầy móng vuốt và, tiếng hát của nàng rắc hoa trên đường về quê cũ xa xăm. Công nương không tin ư
Chuỗi hạt mẹ nằm trên trang | Ý thờ sâu lắng miên man niệm tình
Trận Mậu Thân xãy ra, đơn vị tôi đánh nhau với vc ngay sân nhà.Trận Gò Me Biên Hòa cách hậu cứ tôi chừng 500 mét. Thằng em tôi, thằng em… tôi vừa cưới vợ cho nó nằm lại cùng chiến trường. Vợ nó đón đơn vị quay về ngay tại sân cờ, nhìn quanh không thấy nó, mang cái bầu, xông thẳng đến tôi, không một giọt nước mắt đấm vào ngực tôi bình bịch ‘chồng em đâu, mất rồi hả anh hai’. Vâng đời lính là vậy, vợ lính là vậy.
Để hiểu một nhà thơ, đôi khi phải bắt đầu từ chỗ thân xác họ đã đi qua. Với Nguyễn Hoàng Nam, chỗ ấy là một chiếc ghe đánh cá ra cửa biển Rạch Giá. Trong bài Về nguồn (1990), ông ghi lại khoảnh khắc mửa thốc mật xanh trong hầm ghe, và chính trong cơn say sóng kinh hoàng đó, ký ức quê nhà bật lên: xứ Bưởi Biên Hòa, căn nhà số 66 đường Phan Đình Phùng nơi người mẹ mang ông trong lòng. Rồi đến trại tị nạn Songkhla ở Thái Lan với nắng cháy tóc và sứa lửa phỏng da, sau những bữa ăn cá sình rau vụn. Rồi đến Bolsa, đến tượng Phước Lộc Thọ, đến những bãi biển California.
Môi thầm ngậm nửa lời kinh | Tưởng như thập giá ẩn mình trong sương | Trả lại Chúa những vết thương
tâm trí và khói lang thang | bên này, bên kia trái đất | hồ nước cạn, con đường ngập | cánh rừng tự thiêu | tảng băng bắc cực lững lờ