Trang Thơ: Khoảnh khắc thời gian

07/04/202300:00:00(Xem: 2815)

Photo Nguyễn Bá Trạc
Photo Nguyễn Bá Trạc
 
Dấu thời gian để lại trên con đường nó đi qua là tàn phai, là những đổi thay tác động vào tâm thái vui buồn của ta, tạo nên hoài niệm, và ước mơ. Vậy cái lúc đang thở, bạn có biết thời gian đang có mặt không, và có nhìn kỹ người bạn đồng hành ấy không. Phải chăng lúc dừng lại đó là ta đang thức cùng hiện tại? Trong Kinh Người Biết Sống Một Mình, Đức Phật dạy: Đừng tìm về quá khứ/ Đừng tưởng tới tương lai/ Quá khứ đã không còn/ Tương lai thì chưa tới/ Hãy quán chiếu sự sống/ Trong giờ phút hiện tại/ Kẻ thức giả an trú/ Vững chãi và thảnh thơi.
 
Khoảnh khắc hiện tại, theo thiền sư Thích Nhất Hạnh, là lúc duy nhất chúng ta có thể kiểm soát, để biết rõ cái bây giờ, ở đây, cùng ý thức được mình với chung quanh một cách tỉnh thức.
 
Còn Nhà Thơ thì sao? Xin mời đọc thơ của Ingeborg Bachmann, Nguyễn Lương Vỵ,  Nguyễn Hồi Thủ, Trịnh Y Thư, Đoàn Minh Châu, sống cùng với họ những cảm nghiệm về thời gian, nỗi hiện tiền rõ mặt phút giây qua, từng chiếc lá – dẫu sẽ rụng – nhưng vẫn từng phút xanh dưới bầu trời độ lượng, đếm hạt mưa rơi như chỉ điểm từng sát na đang trôi, nghe mỗi tiếng đập của trái tim là cú rơi khỏi thời gian, và thỏa hiệp với người bạn thời gian rằng, Thời gian là liều thuốc/ Chữa ưu phiền và chữa cả mê say… như La Fontaine khi trở về cũng bình an nói rằng, nỗi buồn bay đi trên đôi cánh của thời gian, Bạn có đồng ý với tôi, khi các nhà thơ đang viết xuống những lời thơ, có phải là lúc họ sống trọn vẹn trong hiện tại, ném mình lên từng con sóng, đi tìm sự vĩnh hằng trong từng khoảnh khắc như nhà thơ Mỹ Henry David Thoreau đã nói? – NTKM
  
INGEBORG BACHMANN (1926-1973)
 
Hãy Rụng Xuống, Hỡi Trái Tim
 
Hãy rụng xuống, hỡi trái tim, từ cái cây thời gian,
hãy rụng xuống, những chiếc lá, từ tán cây băng giá,
đã một lần được ôm ấp bởi dương quang,
hãy rụng xuống, như nước mắt từ đôi mi mòn mỏi.
 
Dẫu lọn tóc anh mỗi ngày bay trong gió
quanh vầng trán nâu thẫm của chúa tể đất đai,
dưới chiếc áo một nắm tay ấn xuống
đã lọt vào khe hở vết thương dài.
 
Hãy vững chãi, nếu tấm lưng mềm mại của mây
một lần nữa bên anh cúi xuống.
Hãy chấp nhận, nếu những tổ ong của rặng Hymettus
lần nữa nhấn chìm anh.
 
Bởi một thân cây chẳng là gì đối với người nông dân trong cơn hạn hán,
một mùa hè thời quá ít đối với dòng giống vĩ đại của ta.
 
Và trái tim anh sẽ minh chứng điều gì?
giữa hôm qua và ngày mai nó chao lượn,
vô thanh và lạ lẫm,
và mỗi tiếng đập,
là cú rơi khỏi thời gian.
 
– Pháp Hoan dịch từ tiếng Đức
(Ingeborg Bachmann là nhà thơ, nhà văn người Áo)
 
*
 
NGUYỄN LƯƠNG VỴ (1952-2021)
 
Nhịp thời gian

(Tặng Tô Đăng Khoa)
 
I.
chiều nay bước nhẹ với thời gian
ôi lãng du quay về điêu tàn
câu hát vang thầm theo cát bụi
tiếng đàn rung nhẹ với tro than
sương rơi nương bóng thềm rêu nhạt
lá rụng nghiêng vai giọt nắng tràn
chim khách là ta mà chẳng biết
biết ai ai biết khúc tiêu lan…

II.
khuya nay khắc vợi những nguồn cơn
ôi thoáng nghe dây lòng tiếc đờn
hiên xưa thoáng hiện trăng tiền kiếp
mái cũ truy tầm bóng cố nhơn
phiêu bạt trời quen chưa dứt nợ
lang thang đất lạ vẫn hàm ơn
chim khách là ta nay đã thấu
thấu ta ta thấu cái sạch trơn…
 
III.
sáng nay thầm nhắc đóa hoàng hoa
giọt mưa đã gieo trên thềm nhà
cửa sổ khép hờ thơ trốn biệt
dương cầm im lắng nhạc về xa
một tách trà thơm ôn kỷ niệm
đôi lời độc thoại lạnh thân già
chim khách là ta đang chớp mắt
hiện tiền rõ mặt phút giây qua…
 
– Nguyễn Lương Vỵ
 
(Cảm xúc khi nghe lại bản nhạc “Trở Về Mái Nhà Xưa” (nguyên tác: “Torna a Surriento” – Trở về Surriento – Bài hát tiếng Napoli, phần nhạc được sáng tác vào năm 1902 bởi Ernesto De Curtis, phần ca từ của Giambattista De Curtis viết). Nhạc sỹ Phạm Duy viết lời Việt. Ba câu in nghiêng trong bài thơ là ca từ của Phạm Duy trong “Trở Về Mái Nhà Xưa.”)
 
*
 
ĐOÀN MINH CHÂU
 
Bài hồn nhiên tháng năm

Luẩn quẩn từ một buổi chiều
nơi ranh giới của giọt nước nào rất mỏng
cơn mưa hối hả sau ngày oi nồng
đầu hạ
cố làm dịu những cồn cào nơi ngực
về một hoang tưởng không tên
phập phồng
thở

ta bỏ đi rất nhiều tháng năm
trên đường
không nhớ nữa bao lần vội vã
buổi chiều ngồi đếm những giọt nước
rơi giữa trời
hồn nhiên tan vào đất
phút giây bỗng thành huyễn hoặc
xa như ngày đã qua

còn lại những giọt mưa tạt ngang
giấc chiêm bao
nguệch ngoạc vẽ thêm vào
phía trước
hình hài mơ hồ của ước vọng
giữ trong vòng tay chông chênh
 
– Đoàn Minh Châu
 
*
 
TRỊNH Y THƯ
 
Những phiến lá từ tâm
 
(Trích đoạn 1)
 
Những phiến lá từ tâm dưới bầu trời độ lượng
rưng rưng vũng nắng – ấm mặt tường gạch nâu
hanh hao sân tu viện im nghe tiếng gót giày va khẽ
như nhịp điệu một khúc nhạc thanh xuân.
 
Chưa hết những điều muốn nói
nhưng ngôn từ sao thừa thãi lạ
sự lặng im của lá canh cánh một âm vang
 
Mùa lá nhú mầm xanh vời vợi
lập loè đầu ngọn cỏ ánh biếc xuân sơn
một chú sóc vụt hiện ra
giương đôi mắt trong veo thăm dò
khiến tôi chợt nhớ
 
Tôi vừa chia tay một linh hồn
tôi vừa gieo vào một đôi mắt
tôi vừa ôm ấp một mái đầu
tôi vừa giẵm nát một con sâu
tôi vừa dụi mắt giấc mơ nào
 
Lẽo đẽo thời gian như khúc kinh chiều thoi thóp
tất cả đi về dửng dưng chẳng có gì khác lạ
những phiến lá từ tâm
dưới bầu trời độ lượng.
 
– Trịnh Y Thư
(Trích tuyển thơ “Phế tích của ảo ảnh”, 2018)
 
*
 
NGUYỄN HỒI THỦ
 
Cánh áo rộng dài
 
(Trích đoạn trong bài thơ dài 122 câu)
 
Như mầu trắng của mây
Như mầu vàng của nắng
Như mầu xanh của cây
Như mầu tím của buổi chiều đang chín
Như nước nguồn ai đựng giữa lòng tay
Xin người uống
Thời gian là liều thuốc
Chữa ưu phiền và chữa cả mê say
…
Như muộn rồi bao chuyện quá tầm tay
Như một lần đi chẳng bao giờ về lại nữa
xin người đến gần bên cửa sổ
Nghe sóng thời gian vỗ
Nghe thời gian dấy bão tự xa khơi…
…
Ôi thời gian cứng như sắt thép
Thời gian lạnh đến ghê người
Như mầu trắng của đêm không chợp mắt
Như mầu chì nặng trĩu một lòng người
Như mầu đỏ của quả tim đau xót
Như trong ngần giọt nước mắt đang rơi
 
Thời gian đập mãi không thôi
Như mạch máu bên thái dương trong cơn sốt
Thời gian đánh kẻng trong sân trường
Vừa hết giờ ra chơi
Thời gian như chiếc áo tơi
Ngày mưa sùi sụt
Như chiếc quan tài gỗ tạp
Đưa người về cánh đồng xa
Như tích tắc chiếc đồng hồ cũ kỹ
Thuở mới vào đời nằm ngủ xa nhà
…
Thời gian như cánh áo rộng dài
Mẹ may trừ hao cho con đang độ lớn
… Như mộng ảo tàn phai trên nếp trán
Như nợ nần hẹn khất với tương lai
…
Thời gian bay cánh chim
Trong khoảnh khắc nắng bừng lên mơ ước
 
… Chúng ta đều khoác lên người
Những cánh áo thời gian đỏ xanh
Chúng ta đi những đôi hài. Vạn dặm
Chúng ta đều mơ
Những giấc mơ thời gian vô tận
…
Ở tuổi này chúng ta đều biết
Không có gì đợi chờ
Không có hầm nào trú ẩn được thời gian
 
Và bây giờ là phút giây chúng ta,
Cửa đóng lại/
Một mình còn ở lại/
Hai bàn tay úp mặt với thời gian…
 
– Nguyễn Hồi Thủ
(Trong thi phẩm Nói Chuyện Một Mình, 1987)
 

Đàn ông biết được phụ nữ bao nhiêu? Tôi dùng chữ “biết”, không phải ý chữ “hiểu”. Tôi không dùng chữ “đàn bà” vì e rằng thiếu kính trọng. Tôi lấy vợ đã gần nửa thế kỷ. Đã bắt tay, chào hỏi vài ngàn phụ nữ và nhìn ngắm họ qua trăm ngàn vóc dáng khi du hành nhiều nơi trên thế giới, nếu tính luôn trên truyền hình, qua video, con số có thể lên hàng triệu. Nói như vậy, bạn đọc có thể lầm tưởng tôi là người có bản lãnh biết về phụ nữ, thực tế, như Louis de Bernières đã nói: “Đường lối phụ nữ chinh phục trái tim đàn ông là khiến cho anh ta tưởng bở đang làm cô thích thú.” (“That's how a woman wins a man heart, by making him think that he amuses her.)
điều nguyên vẹn nhất / vẫn nằm im trong tim / ngày mùa thu nhớ dòng sông / nấm đất buồn tênh bên lở bên bồi / quăng viên sỏi trắng cạnh chiếc cầu run rẩy / bàn tay nào níu giữ / bạn bè và tình nhân / ngẩn ngơ năm ba lời tiếc nuối / con chim non hót mấy tiếng cội nguồn
Thế giới giờ này người né người! / Ngồi trên xe bus gắn máy lạnh, hoặc xe bò cọc cạch lăn bánh, / người ngồi xa người, khoảng cách an toàn, một thước rưỡi. / Anh xa tôi! Tôi xa em! Ta xa nhau! Đúng 2 thước. / Giờ này đôi ta hôn nhau nụ hôn gió qua khẩu trang! / Ai đó lỡ miệng ách-xì một, hoặc hai tiếng, hoặc một tràng; / Hết rồi những ánh mắt ái ngại, / những lời nói cảm thông, “God bless,” hoặc “Trời, Phật, Chúa chữa!”
Mời các bạn đọc một ngụ ngôn tân thời của thi sĩ Nobel Louise Gluck. Bóng tối che đậy tội ác. Che giấu những con mèo từ rừng hoang xuống trà trộn vào thành phố. Ban ngày, chúng hiền lành. Về đêm, mèo lộng hành, bè đảng, lòng dạ hung tợn, ngay cả người cũng sợ. Chúng săn đuổi, tiêu diệt những sinh vật không có sức kháng cự. Thảm thương cho thân phận làm chuột. Ngày không dám nhìn mặt trời. Đêm la hét đau đớn dưới răng mèo sắc bén. Chết, Chuột chết la liệt đầy phố đêm. Ai biết? Biết rồi, ai nói? Trước khi trời sáng, xã hội quét dọn, đường phố sạch sẽ, không dấu vết sát thủ, nạn nhân. Mặt trời lên. Mèo hiều hậu, dễ thương, Chuột trốn nắng. Người vô tư. Nhưng rồi đêm sẽ đến, sẽ tiếp diễn máu me và định mệnh.
Mời nghe Alexandra Huỳnh đọc bài thơ Di Sản (Inheritance) "live" trên đài truyền hình LX News. Nữ sinh gốc Việt Alexandra Huynh, tên Việt là Thụy An, 18 tuổi, trong buổi chung kết đêm Thứ Năm 20/5/2021 vừa qua đã thắng giải: "2021 National Youth Poet Laureate -- Nhà Thơ Khôi Nguyên Giới Trẻ Quốc Gia 2021". Huynh trả lời phỏng vấn AP đêm Thứ Năm qua điện thoại từ nhà, rằng thơ đối với cô là phương tiện để tự bày tỏ và để giúp công lý xã hội. Cô nói “Tiếng Việt tự nó đã là một tiếng nói giàu chất thơ. Trong sinh hoạt văn hóa của người Việt người ta đã nói thành thơ trong cuộc sống hằng ngày.” Cô cho hay là đã tập viết những lời thơ phổ nhạc từ khi mới 7 tuổi; đặc biệt là sau những lần đọc thơ trước công chúng thì lại càng cảm thấy sức mạnh của chữ nghĩa có tác động tích cực lên tâm lý và tinh thần đại chúng. Alexandra Huynh căn bản sáng tác thơ bằng tiếng Anh nhưng luôn nuôi hy vọng là sẽ có tác phẩm thơ ra đời và sẽ được chuyển ngữ sang “tiếng Mẹ đẻ”, ngôn ngữ Việt Nam.
nếu tôi không thể là người hùng / tôi mang tên người di dân gương mẫu / ôi những chiếc thuyền / & những người trên những chiếc thuyền ấy / can đảm biết bao & khác xa / đám tỵ nạn đương thời chúng ta nợ họ / Tôi ngậm chặt lưỡi / nghe âm thanh / thân thuộc gần như nhà mình / khi tên Dương Thu Hương mất đi dòng sông / trong miệng lão thầy / và chẳng ai buồn hỏi vì sao / mặt tôi giàn giụa. & nhớ đến chiếc bàn buồn bã, / trong góc xó lớp học / tôi viết lời nguyện cầu / cho lũ trẻ sắp vào chật lớp này: / hãy để đám trẻ được xưng tên chúng như mẹ chúng đã từng gọi thế. / hãy để điệp khúc được xướng lại hay cố gắng & cố gắng như thế. / hãy để những câu chuyện không pha chất trọ trẹ / & giữ lại thanh âm không phiên dịch. / hãy để lũ trẻ điền vào khoảng trống bằng ký ức.
những bông hoa Diên Vỹ / nở tím chiều tháng Năm / Anh nở tím hồn em / bắt đầu vào tháng mấy
trên đồi gió khoác áo thư sinh tóc bạc / như lữ hành đi qua đồng bằng / thỏa mãn khát khao / sông dài núi rộng / thèm dòng sữa chảy ra từ lồng ngực / que diêm cháy một lần rồi tắt / vẽ vời chi / trăm cảnh lao đao
Trước đây, Thường Thấu Thấm thuộc về giả thuyết thưởng ngoạn và sáng tác. Tuy nhiên, dịch thuật cũng mang cấu trúc cơ bản của ngôn ngữ và ngữ pháp, được xác định minh bạch về bản chất, cá tính và chức năng, có tính toàn cầu trong hệ thống ngôn ngữ, có tính chung để thông đạt, nên giả thuyết này có thể áp dụng vào dịch thuật, song song với giả thuyết thưởng ngoạn và sáng tác.
Sủa ra xóm sủa xuống làng / Người dân nghe sủa hoang mang tột cùng / Nhưng loài sủa vẫn dửng dưng / Sủa tâng công để cửu trùng sủa khen
Tôi lắng nghe tiếng khóc đâu / đó nấc lên ngày tháng tư lắng / nghe từng âm âm ức ức mà / phỏng đoán tiếng khóc / ấy là khóc mừng vui sum / họp hay tủi hờn chia ly.
khi tiếng đàn chìm vào khuya tối nhường lại cho đàn dế đen / huyên náo gọi nhau / tuyên bố kẻ thua người thắng / vì còn quá nhiều tranh đấu suốt ngày / đài chưa kịp loan tin tức
Ngày ấy, nơi nơi hưởng thái bình / Vì đâu đất nước phải điêu linh? / Triệu người lưu lạc, xa lìa xứ / Giờ giỗ Hùng Vương, khóc một mình....
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.