chúng tôi ngày đó

24/04/202313:47:00(Xem: 2663)

Refugees Ann Phong

 

chúng tôi ngày đó

những thanh niên gầy nhom

lớn lên theo chiến tranh, tìm kiếm mình trong lời hát

nhạc tình, nhạc tiền chiến, nhạc phản chiến

phim Romeo và Juliet

thương phận người, phận nước

than nỗi buồn nhược tiểu

và mơ

 

bứt ra khỏi lớp học

mắt còn đọng hình ảnh người yêu, chúng tôi đã quen tay súng

những con rắn lột mình

bùn Đồng Tháp, rừng Tây Nguyên, sỏi Quảng Nam Quảng Trị

tấn công, đẩy lùi, bảo vệ, giết

thành tinh

thành thiên thần

người khổng lồ

ngủ với chiến tranh, không biết mình biến dạng lúc nào

 

định nghĩa độc lập tự do

hỏi, chúng tôi sẽ nhún vai, ngượng

đầu ngẩng cao, chửi thề khi bất bình người lãnh đạo

không nhượng đảo, không cắt đất, không xâm phạm

đó là cách chúng tôi hiểu

độc lập tự do

 

chúng tôi bây giờ

những ông già tóc tro

những trái khô, hạt quắt queo tàn hận

bãi cạn

chiếc buồm rách nằm trêu nắng

những đợt sóng li ti nhìn chúng tôi bực tức

nửa thế kỷ

buông đi và siêu thoát

chúng tôi cười, buồn

nhạc lính, nhạc tình chúng tôi viết

lương tâm của cuộc chiến, còn đang hát

chúng tôi thuộc về biển động. vải thô không mục dễ dàng

****

 

us, those days

 

us, those days

skinny young men

growing up along the war, we searched for ourselves in lyrics

of love songs, pre-war music, anti-war music

the movie Romeo and Juliet

felt sorry. our land, us

lamented weak country sadness

and dreamed

 

yanked out of the classroom

eyes still holding a girl’s image, we already knew how to shoot

the snakes shed their skin

Dong Thap mud, Central Highlands forest, Quang Nam Quang Tri gravel

repel, defend, kill, attack

turned into goblins

into angels

giants, slept

with the war we didn’t know when the transformation began

 

definition of independence and freedom

asked, we’d shrug, awkward

head held high, swear when leaders disappointed us

not cede islands, not move border posts, not encroach

that’s how we understood

independence and freedom

 

us, now

ash gray haired old men

dry fruit, wretched pit of withered hatred

on a shallow beach

the torn sail rests, teasing sunlight

tiny waves look at us, disturbed

half a century

let go, be to the other world

we smile, sad

soldier songs, love songs we wrote

conscience of the war, still sung this minute

we belonged to the rough sea, sailcloth not disintegrate easily

 

kc Nguyễn

 

Mưa Mưa Mưa Bên kia biển Mưa có lạnh không em Dúi ngón chân son dưới lòng cát ấm Cát sẽ phủ chân em Biển vuốt ve trìu mến Sóng nhấp nhô mưa đời
Tam quan mái lạnh người không tới | Cả ngôi chùa đứng khóc trong mưa.
Trước khi là một bài thơ, "Hòn Đá Làm Ra Lửa" đã là một hành vi kỳ lạ đối với chính khái niệm văn bản. Nó ra đời không trên trang giấy mà trong trí nhớ, giữa hai trại tù Gia Trung và Hàm Tân, suốt gần một thập niên, chỉ được ghi thành chữ lần đầu khi tác giả đã đặt chân tới Thụy Điển, theo tài liệu, nhưng tôi nghĩ, phải trước đó, khi ra khỏi tù hay đến chốn an toàn, phải ghi lại dù không được tề chỉnh như sau này. Phần đông người đọc dừng lại tắc lưỡi, xem đây là một chi tiết cảm động về nghị lực.
Tôi gặp lại anh bên kia ngọn núi / Trong nắng chiều sắp tối / Sao anh không về nhà? / Cha khóc con tàn hết mùa hoa / Mẹ chờ con khuyết cả trăng rằm / Nhà xưa em vẫn đợi / Đó không phải là nhà / Đó là cái còn lại / Của bóng tối. Khuôn mặt tôi không còn nữa / Bên kia cánh cửa: không ai chờ / Làng quê xa vời vợi: tiếng gà gáy sáng / Chó sủa đêm trăng.
Như đứa trẻ nghịch ngợm xé ra trên mặt nước những vòng tròn quấn quít trăm điểm mở
buổi chiều trở về từ cuộc đi bộ | nghe chút hương thơm của hoa jasmin | trắng như bạch ngọc
Cách tốt nhất để giết một con chim | là thế này: dù nó đang cãi cọ hay cất tiếng kêu, | bạn hãy viết rằng chú chim nhỏ đang hót.
Thưa Công nương mắt hương thu u uất Mùa thu không trở lại trong đôi mắt đại dương xanh đầy móng vuốt và, tiếng hát của nàng rắc hoa trên đường về quê cũ xa xăm. Công nương không tin ư
Chuỗi hạt mẹ nằm trên trang | Ý thờ sâu lắng miên man niệm tình
Trận Mậu Thân xãy ra, đơn vị tôi đánh nhau với vc ngay sân nhà.Trận Gò Me Biên Hòa cách hậu cứ tôi chừng 500 mét. Thằng em tôi, thằng em… tôi vừa cưới vợ cho nó nằm lại cùng chiến trường. Vợ nó đón đơn vị quay về ngay tại sân cờ, nhìn quanh không thấy nó, mang cái bầu, xông thẳng đến tôi, không một giọt nước mắt đấm vào ngực tôi bình bịch ‘chồng em đâu, mất rồi hả anh hai’. Vâng đời lính là vậy, vợ lính là vậy.
Để hiểu một nhà thơ, đôi khi phải bắt đầu từ chỗ thân xác họ đã đi qua. Với Nguyễn Hoàng Nam, chỗ ấy là một chiếc ghe đánh cá ra cửa biển Rạch Giá. Trong bài Về nguồn (1990), ông ghi lại khoảnh khắc mửa thốc mật xanh trong hầm ghe, và chính trong cơn say sóng kinh hoàng đó, ký ức quê nhà bật lên: xứ Bưởi Biên Hòa, căn nhà số 66 đường Phan Đình Phùng nơi người mẹ mang ông trong lòng. Rồi đến trại tị nạn Songkhla ở Thái Lan với nắng cháy tóc và sứa lửa phỏng da, sau những bữa ăn cá sình rau vụn. Rồi đến Bolsa, đến tượng Phước Lộc Thọ, đến những bãi biển California.
Môi thầm ngậm nửa lời kinh | Tưởng như thập giá ẩn mình trong sương | Trả lại Chúa những vết thương
tâm trí và khói lang thang | bên này, bên kia trái đất | hồ nước cạn, con đường ngập | cánh rừng tự thiêu | tảng băng bắc cực lững lờ