Trang Thơ Thứ Bẩy

10/06/202307:41:00(Xem: 3650)

hoa mai

TRẦN YÊN HÒA

 

Tháng Giêng hoa nở

 

Đã nhiều lần ta ngâm mãi câu thơ
Câu lục bát ngựa ô về chốn cũ
Còn ta, long đong phương trời tứ xứ
Em có còn hong tóc ở lầu trăng?

Lầu trăng em nhìn theo hướng cố nhân
Ngày tóc xõa em năm đệ lục
Bây giờ, bốn mươi năm anh còn thức
Hương học trò từ dạo đó bay sang

Tháng giêng hiền ngoan hoa nở trùng trùng
Có còn chút gì cho bốn mươi năm đằng đẵng
Chắc hoa xưa cũng lạc loài thăm thẳm
Bên phương trời này, hay bên nớ, bên ni?

Ta lạc mất em ở tuổi xuân thì
Lạc cả nụ môi hôn của ngày thơ dại
Mà hai ta nay đâu còn trẻ nữa
Mà lục tìm quá khứ tháng năm qua

Nay xuân về lòng lại thiết tha
Nhớ màu hoa xưa nhuộm vàng khu phố cũ
Đúng là màu hoa sưa ở thôn An Thổ
Ta đã tìm được một tháng giêng ngon


*

Màu cố quận

Cố quận về trong bước chân quen
Ngó xuống phố màu rêu cổ độ
Ta chấp chới cõi lòng sơ ngộ
Bao nhiêu năm hình ảnh vô thường

Có thời nào lòng trót vấn vương
Dòng sông xưa mịt mù mây xám
Người qua ta, tim ta sầu ảm đạm
Trót gánh trên vai, gánh nặng san hà

Nhưng suốt đời ta mãi là ta
Một hình bóng tưởng chừng bất diệt
Ôi em, em như là truyền thuyết
Cố quận buồn sương phủ núi đồi xa

Ta trở về khi hết can qua
Thấy màu mắt em trong ngần vô kể
Và áo tím em hiền như thể
Tiếng trống reo giữa buổi tan trường

Ta về qua quận lỵ ngùi thương
Tưởng em đứng ba mươi năm và khóc

 

– Trần Yên Hòa

 

***

 

THY AN

 

Sợi tóc mùa hè

(Tặng hai anh Hoàng Xuân Sơn và Phạm Quang Trung)

 

mùa hè sợi tóc rơi xuống tay văn nhân

và ngọn gió thổi qua đời

vần vũ lá xanh tạp địa

tôi muốn gom sự im lìm của biển

và nghĩ về hạt muối của đại dương

con ốc nhỏ băng mình đi hoài không tới đích

lời hứa xin đợi mưa về

người xưa lặng buồn hiên nhỏ ngóng trông

 

nụ hoa chắt chiu những giọt mưa từ trời

ân sủng của những ban phát không giới hạn

vẫy tay chào người bạn mới quen

như con chim ngơ ngác trên tháp chuông

chuyện mơ hồ đỉnh ngọn

chúng ta cần nhau sự bù đắp

sau khi gặm nhấm hoài niệm trong im lặng

trì níu bao hệ lụy trần gian 

 

trở về chốn xưa trong ký ức

nhắc lại hơi thở thời tình sử

có ai thắp lên ngọn đèn

cười với mặt trăng

mấy khi tâm hồn phẳng lặng như hôm nay

tỉ tê ngày mùa hạ cháy da nóng bỏng

 

bao nhiêu văn nhân thi sĩ cười trên giấy

run tay viết lên cảm xúc…

 

– thy an

Mưa Mưa Mưa Bên kia biển Mưa có lạnh không em Dúi ngón chân son dưới lòng cát ấm Cát sẽ phủ chân em Biển vuốt ve trìu mến Sóng nhấp nhô mưa đời
Tam quan mái lạnh người không tới | Cả ngôi chùa đứng khóc trong mưa.
Trước khi là một bài thơ, "Hòn Đá Làm Ra Lửa" đã là một hành vi kỳ lạ đối với chính khái niệm văn bản. Nó ra đời không trên trang giấy mà trong trí nhớ, giữa hai trại tù Gia Trung và Hàm Tân, suốt gần một thập niên, chỉ được ghi thành chữ lần đầu khi tác giả đã đặt chân tới Thụy Điển, theo tài liệu, nhưng tôi nghĩ, phải trước đó, khi ra khỏi tù hay đến chốn an toàn, phải ghi lại dù không được tề chỉnh như sau này. Phần đông người đọc dừng lại tắc lưỡi, xem đây là một chi tiết cảm động về nghị lực.
Tôi gặp lại anh bên kia ngọn núi / Trong nắng chiều sắp tối / Sao anh không về nhà? / Cha khóc con tàn hết mùa hoa / Mẹ chờ con khuyết cả trăng rằm / Nhà xưa em vẫn đợi / Đó không phải là nhà / Đó là cái còn lại / Của bóng tối. Khuôn mặt tôi không còn nữa / Bên kia cánh cửa: không ai chờ / Làng quê xa vời vợi: tiếng gà gáy sáng / Chó sủa đêm trăng.
Như đứa trẻ nghịch ngợm xé ra trên mặt nước những vòng tròn quấn quít trăm điểm mở
buổi chiều trở về từ cuộc đi bộ | nghe chút hương thơm của hoa jasmin | trắng như bạch ngọc
Cách tốt nhất để giết một con chim | là thế này: dù nó đang cãi cọ hay cất tiếng kêu, | bạn hãy viết rằng chú chim nhỏ đang hót.
Thưa Công nương mắt hương thu u uất Mùa thu không trở lại trong đôi mắt đại dương xanh đầy móng vuốt và, tiếng hát của nàng rắc hoa trên đường về quê cũ xa xăm. Công nương không tin ư
Chuỗi hạt mẹ nằm trên trang | Ý thờ sâu lắng miên man niệm tình
Trận Mậu Thân xãy ra, đơn vị tôi đánh nhau với vc ngay sân nhà.Trận Gò Me Biên Hòa cách hậu cứ tôi chừng 500 mét. Thằng em tôi, thằng em… tôi vừa cưới vợ cho nó nằm lại cùng chiến trường. Vợ nó đón đơn vị quay về ngay tại sân cờ, nhìn quanh không thấy nó, mang cái bầu, xông thẳng đến tôi, không một giọt nước mắt đấm vào ngực tôi bình bịch ‘chồng em đâu, mất rồi hả anh hai’. Vâng đời lính là vậy, vợ lính là vậy.
Để hiểu một nhà thơ, đôi khi phải bắt đầu từ chỗ thân xác họ đã đi qua. Với Nguyễn Hoàng Nam, chỗ ấy là một chiếc ghe đánh cá ra cửa biển Rạch Giá. Trong bài Về nguồn (1990), ông ghi lại khoảnh khắc mửa thốc mật xanh trong hầm ghe, và chính trong cơn say sóng kinh hoàng đó, ký ức quê nhà bật lên: xứ Bưởi Biên Hòa, căn nhà số 66 đường Phan Đình Phùng nơi người mẹ mang ông trong lòng. Rồi đến trại tị nạn Songkhla ở Thái Lan với nắng cháy tóc và sứa lửa phỏng da, sau những bữa ăn cá sình rau vụn. Rồi đến Bolsa, đến tượng Phước Lộc Thọ, đến những bãi biển California.
Môi thầm ngậm nửa lời kinh | Tưởng như thập giá ẩn mình trong sương | Trả lại Chúa những vết thương
tâm trí và khói lang thang | bên này, bên kia trái đất | hồ nước cạn, con đường ngập | cánh rừng tự thiêu | tảng băng bắc cực lững lờ
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.