Ngôi nhà cuối phố

29/11/202321:06:00(Xem: 2247)

hang che tau 1

Ngôi nhà cuối phố       


Anh còn nhớ một ngôi nhà cuối phố?
Ngõ chè tàu xanh biếc lối đi quen
Cây bằng lăng nở tím khoảng sân vườn
Thương mỗi sớm có một người đứng đợi

Cây phượng vỹ thắp lửa mùa thi tới
Áo học trò chăm chỉ chuyện bút nghiên
Dẫu đôi khi thảng thốt chút niềm riêng
Nhắc nhở nhau, gắng… chu toàn sách vở

Thời gian trôi nay kẻ đi người ở
Gót kiêu sa còn đâu thuở đợi chờ
Màu hoa bưởi ngát thơm giờ thấp thoáng
Làn tóc mây ngày ấy quấn vai người

Ngày tháng cũ trở về buồn rười rượi
Người ơi đừng làm vỡ nỗi buồn xưa
Nắng vàng tươi hay trời đổ cơn mưa
Kỷ niệm cũ đầy ắp vừa sống dậy

Kể sao hết những buồn vui ngày ấy
Nhớ nhung về chất chứa tháng năm xanh
Đã bao năm đôi bóng ấy ngọt lành
Giờ xa cách ngậm ngùi thương dĩ vãng

Ai ra đi, lại về trong bãng lãng
Giấc mơ buồn trong cõi nhớ mênh mang
Ở nơi xa có lẽ cũng bàng hoàng
Nhớ về nhau giữa bộn bề cuộc sống

Xin giữ lại cả một thời hoa mộng
Nắng hạ vàng và phượng đỏ hồng tươi
Phong thơ tím, thuở ngày xanh bối rối
Ngõ chè tàu, hờn dỗi thoáng xa xôi.

*


Thương rất nhiều!


Em đâu biết tình ta rồi dang dở
Nên vô tư đón nhận những ngọt ngào
Những yêu thương ngày tháng cũ anh trao
Em cất giữ sâu thẳm miền ký ức

Nhớ ngày đó phượng toàn bông đỏ rực
Hai bên đường như chào đón tình nhân
Anh bên em một giao kết tình thân
Như đôi nhạn sáng chiều về chung ngõ

Lời yêu cũ có tan vào mây gió
Thấm vào mưa dội tận tới buồng tim

Lòng nao nao thổn thức nhịp tim mình
Tình một thuở tuôn trào bao nỗi nhớ

Tìm lại chút tơ vương dù hư ảo
Chơi vơi buồn trong cõi nhớ chênh chao
Hạ về đây trong con nắng hanh hao
Vòm phượng vỹ vẫn biếc xanh màu lá

Gót lữ thứ phong trần khôn xiết tả
Thương rất nhiều, bên cạnh lại không em
Để bên nhau khi ấm lạnh khó lường
Đời dâu bể phương nào xa chới với.

-- Hoàng Thị Bích Hà

lời kinh thấm sâu vào Đất Trời rộng lớn / sớm mai nguyện cầu / kiếp nhân sinh mù mịt / mất còn trong gang tấc / những con lạch nước đen mùi bùn réo rắt kỷ niệm / những đêm trăng hoang sơ / im lặng như thơ
con giun nằm yên lòng đất co mình dưới bàn chân hung bạo / tiếng than của đồng loại thấm sâu / nghe trăn trở oặn mình / tấm thân như cỏ dại / trườn đi vào những quanh co ái ngại / con người tinh khôn nhất / nên đã đóng vai tất cả các loài thú / vượt qua bao nhiêu năm tháng
tháng mười trời mưa / tình anh là mây / đậu lại bờ này / hôn từng ngọn cỏ / gửi lời thơ bay / từng hạt sương mai / ướt tóc em dài / thấm vai hờ hững / cho hồn anh say
Độc giả nào đọc thơ Ngu Yên trong 36 năm qua (từ 1985), có lẽ cũng nhận ra, thơ của ông luôn luôn thay đổi vì luôn luôn tìm tòi, đào sâu bí ẩn của thi ca. Ông đã từng xác nhận, hành trình làm thơ là thứ yếu, mục đích lớn hơn, là truy lùng và dự đoán thơ thế giới và thơ Việt trong tương la. Ông là người thám hiểm phiêu lưu.
Thị Ngạn am một “ Góc Tùng” tự tại / Hai nẻo đường gánh vác nặng trên vai / Thân gầy gò ý chí chẳng đơn sai / Phách kim cang trong hình hài lau sậy
Vào thời điểm này, phải chăng thơ đã là món ăn tinh thần lỗi thời, mất hương vị quyến rũ, thua mùi phở hấp dẫn khi đói bụng? Đúng như vậy, có đói mới thèm ăn. Làm sao biết tâm tư của bạn đang đói? Hỏi thử nó có mệt mỏi, có căng thẳng, có phiền muộn chuyện đời, có ghét bỏ người khác? Nếu có, đúng rồi, nó đang đói. Thơ là món ăn tinh thần cổ truyền từ tiền sử. Nếu tiểu thuyết là bữa tiệc, truyện là bữa ăn tối, thì thơ Việt chính là phở. Một món ăn độc đáo cho bất kỳ người Việt nào tại gia hoặc tha hương.
cố gắng không rơi tõm xuống hố chữ nghĩa đen ngòm / đặc trưng của những ngày giãn cách xã hội theo chỉ thị / bầm dập nhừ tử sau cú trượt trên thang cuốn thời gian / hẹn một ngày có dịp chén thù chén tạc đưa cay ngả mặn /
khi đồng bằng cất tiếng ru của dòng sông / đất trời sẽ trở mình / thức dậy theo tiếng kêu tình nhân sông núi / tuổi xế chiều và bóng tối / đồng lõa một chút yêu nhau vội vã / như chén tương phùng uống cạn bình minh
giả sử niềm tin vẫn sáng soi / xác tín như bàn thờ trang nghiêm trong nhà / khói hương xì xụp vái / cầu người đã bỏ ta đi / đừng bỏ ta đi
Ngô đồng một lá rơi / Nhìn mắt em thoáng thấy / Mùa Thu, vàng đến rồi
Có khi tôi nối hai điểm bằng đường thẳng / Có khi bằng đường cong / Có khi bằng con đường dích-dắc / Có khi lại là những dấu chấm / Tưởng rất gần / Mà nối hoài / Hụt hơi / Không đến
Sáng và tối, mẹ và cha, âm và dương... đó là cánh cửa nhị nguyên đối đãi mở ra cái muôn màu muôn vẻ của đời sống này. Sáng và tối tuần hoàn lẫn nhau cho chúng ta cảm nhận về thời gian, cho nhãn quan chúng ta cảm nhận về bóng và hình. Bóng và hình này qua giác quan thi sĩ Khánh Minh và được nữ sĩ ghi lại cho nhân thế qua thi tập Ký Ức Của Bóng. Sau đó Khánh Minh “giải thoát” cho Bóng khỏi cái tạm bợ của một cảm xúc bất chợt, thả Bóng và cảnh giới miên viễn của bầu trời Thi Ca qua tập Bóng Bay Gió Ơi. Lần này trở lại với tập thơ Đêm, Bóng “về quê” thăm lại nguồn cội của chính mình. Chính trong Đêm Bóng ẩn mình an trú trong tịch tịnh. Cánh cửa nhị nguyên sáng tối khép lại, tịch tịnh của màn Đêm hiển lộ như là một biểu tượng cho cảnh giới không có thời gian mà Khánh Minh tạm gọi là “Nơi Dừng Lại Của Thời Gian Vĩnh Cửu”
Người đàn bà thức dậy / bỏ đi lúc mờ sương / vết trũng trên mặt giường / Còn ngập đầy bóng trăng.