Trang Thơ Thứ Bẩy

13/01/202407:19:00(Xem: 2723)
nghieu-de
Tranh Nghiêu Đề.



LÊ CHIỀU GIANG

 

Khói của nhang tàn

 

Gió Sài Gòn làm chết tươi

đất Bắc

Ta đứng giữa lòng Hà Nội phấn son

Ánh đèn đêm và                   

Phố sá chao nghiêng

Lòng thoi thóp. Nhớ

trăm bài thơ cũ.

Đôi mắt Sơn Tây cứ nằm trong sách vở

Và phố xưa ghi dấu dáng kiều thơm…

 

Nắng gió không phai

Chữ, nghĩa…nằm im

Phùng Quán xanh xao

Những yêu cùng ghét

Nhọc nhằn quanh đây. Mưa, phố

Trần Dần.

Hoàng Cầm đảo điên viết

Về Kinh Bắc

Ơi những oán hờn

 Đã của trăm năm

 

Ta đốt thơ. Gọi:

Oan hồn tù ngục

Chút khói nhang. Bay

tới cõi

Muôn trùng…

 

*

 

TRẦN HOÀNG VY

 

Lại tuyết

 

Chân như cội gốc sa mù

Đời hơi nước tận căn tu hải hà

Trắng rờn rợn trắng màu da

Phả trong đêm tịch mịch là phù hư?

 

Trời vừa băng giá thiên như

Long lanh lạnh cõi cầm thư giọt huyền

Em từ ảo ảnh uyên nguyên

Trắng da, dài tóc mộng thuyền quyên hoa

 

Tuyết bay phủ chốn sa hà

Ủ trong tám cõi mầm là sinh sôi

Ước xưa nắng rụng mồ hôi

Ngày nghe tuyết chảy đơn côi về chiều!

 

Bốn bề rợn trắng chân chiêu

Ta đi vấp cái mỹ miều lạnh băng...

 

 

Một hôm lòng có sóng

 

Ấy là lúc mắt chạm hoa

Say hương bảng lãng vỡ òa sóng dâng

 

Là khi ta áp… thật gần

Môi thơm run rẩy một lần chạm môi!

 

Là khi hai đứa bên đồi

Nghe tim rạo rực chợt hồi hộp…run…

 

Ngày xa, sóng nhớ …điệp trùng

Cứ thao thiết vỗ vô cùng dư âm…

 

*

 

HOÀNG XUÂN SƠN

 

Hay [là] hoặc[là]

 

Thơ hay

sao lại chết người

       Người hay

       sao lại chết tôi

       bụi bờ

Tôi.  hay cá mú phạc phờ

Sông cạn queo nước bãì bờ khô lâu

       Đời hay

       gió máy lào xào

       Cây tre buồn ngủ

       ngọn sào đi riêng

Tình hay

ở tư thế ghiền

       Người người xúm lại

       cùng khiêng nhau về

 

 

Nhìn anh về

 

(Hậu cảnh trắng toát. Tiếng nằn nì vọng dội đều đều).

 

Thì cứ cầm hộ cho một chốc

không có tính toán không có công

phu hàm dưỡng chi hết cả chỉ

là lật qua lật lại mặt trái mặt

phải những quân bài bày bố sẵn

 

Những đụn rơm làng đùn lên mũ mãng

lóc cóc nhìn anh về thổ mộ xưa

hạ mã quỳ pháo

mùa gặt kín đáo giữa khung trời

lúa vàng tươm mồ hôi bắp vế non

lưng thắt ba đồng ruột tượng

xướng danh đồng đất nẻ phì nhiêu

mẹ phì nhiêu đẻ bầy con cáo

cầy phì lũ

bệnh trời nhiệt thán ngồi chơi lâu

mấy tay anh chị âm mưu quần thảo

anh phẳng phiu y quỡn bề bề

cà-la-goách nắm đầu lôi đi

thì về ngồi chiếu xanh

chiếu bí. tướng

 

(Tiếng nằn nì vọng dội hồi hai).

 

Mở ra đi em

sấp ngửa này có mình mình biết

con trốt hốt đi kho tàng

mà thế gian ì xèo vẫn sống

mở ra đi

mở hi hí mi rèm e lệ

mở he hé răng khểnh cười duyên

mở chói chan hạnh phúc ngùi ngùi

mở toang hoác

thân nhà

bụng biển

sấp ngửa này

phên trào

dậu hứng

 

Ôm lâu.  bia.  cuồng nộ

tệ hại bùng nhùng cái giải

rút

bao bì láng trơn

ồ gái đi đàng nào

nhìn anh về tháng năm bụi phỉ

(bụi ngoài đời bám riết hồn du)

chống chõi cuồng lưu đất cồn

đẩy đưa nhằm cơn bão

bữa không thức gì đá mạnh văng vào nông sâu

những chiếc lon thời thượng

 

Núm hồng bật đèn

xanh

thâm chốn mẹ

 

*

 

LÊ HƯNG TIẾN

 

Cô bé và những người lạ

Quả tim được lôi ra từ trong túi thời gian
Mỗi tên mỗi tuổi thức miệt vườn xưa sau muộn
Cô bé vẫn hao gầy vầng trăng khuyết
Và thới từng thớ thịt lên miệng đất thờn bơn
Khoả nước trung trinh.

Cô bé đẹp khi mùa về rầu lá
Có anh nào lạ dẫm ướt vạt sương

Cô bé buồn khi chiều nghiêng đổ
Có anh nào lạ vỗ mành tiếng chuông

Cô bé giận khi bắt đầu đến
Có anh nào lạ nhớ quên mùa sau

Cô bé khóc khi lòng phố vắng
Có anh nào lạ giăng sợi hồng ngang vai

Cô bé nhớ khi đêm nao đồng bóng
Có anh nào lạ lóng ngóng phía hồn hoang

Quả tim được lôi ra từ trong túi thời gian
Mỗi tên mỗi tuổi chòng vòng nhơ nhớ
Hạnh phúc vẽ bằng máu và vầng trăng khuyết
Cô bé ướt sũng miền con gái
Có anh nào lạ lấy nước mắt đổ vào túi thời gian.


Thiền

Thiền trong sâu mắt
Cái phận người dìm dẫm đong đo
Chia ai chạng vạng rẻo vui buồn
Hoàng hôn có khói

Thiền trong cánh gió
Đôi tay chạm hờ suy tưởng
Niềm hân hoan lạc lõng đôi bờ
Lối vào mù khơi

Thiền trong chân phố
Nỗi nhớ lan can từng ngõ cụt
Ai ngồi tâm tưởng vắt màu thời gian
Bàng bạc rỗng

Thiền trong ngôn ngữ
Trái tim ai giấu chiếc môi ngoan hạt ngọc
Cánh sen hồng ngậm chuỗi chuỗi sát-na từ sâu mắt
Cái phận người phả vào không khí

Thiền trong cội thức
Đêm đem cơ trần cởi sạch mùa riêng cũ
Con đom đóm tạc vào thảm cỏ phù hư
Ban mai lại độc hành


Thời vụ

Bỏ vào khoảng trống
Mấy vụ mùa thơ mảy may hạt
Ít ỏi phù sa

Trên cánh đồng triển hạn
Ai đó cầy xới lên sâu thẳm
Làm con chuồn chuồn đói những vầng thơ.

Khi đường bay lấm tấm vào sợi mưa
Ký ức bốc hơi về đỉnh núi
Ai đó cũ cái hồn nhiên và cái riêng tư

Những cái gọi trong thao thác
Làm hư hao từng mớ cơ thể
Trái tim dong ruổi làm đủ ưu phiền.

Bỏ vào khoảng trống
Tháng ngày qua lỏng chỏng đôi vai cày
Vụ mùa thơ gầy guộc giống

Ném mồ hôi từ sóng mắt
Chiều vật vã cho hồn chữ cày cáy
Vụ mùa thơ chồi lên tư lự

Bỏ vào khoảng trống
Bỏ vào khoảng không.

một ngày trôi giạt theo sóng vào bờ / một ngày quấn quýt từng bước chân trần / tuổi trẻ bềnh bồng không định hướng / một ngày câm nín xao động ôm trái tim mình / bay cao ngang ngửa trên ngọn cây mộc lan / trập trùng những nụ búp xanh tươi mơn mởn
Tập thơ thứ 11: “Đời Sống Làng Quê” ấn hành năm 2009. Được xem như một khúc quanh trong sự nghiệp thi ca của Louise Gluck. Khác hẳn với tập “Hoa Diên Vĩ Hoang Dại”, 1992, với nội dung siêu hình và siêu nhiên, đã tạo cho bà nhiều danh vọng. 1. “A Village Life” mang đến cho độc giả những cảm xúc thâm trầm về tâm sinh lý của cá nhân và xã hội. Một loại xã hội thực tế, dùng lám ẩn dụ, tuy hiện diện nhưng gần như bị lãng quên bởi đời sống phố thị rộn ràng nhốn nháo. Những mẫu chuyện ngắn thật ngắn, nhỏ thật nhỏ, đôi khi phức tạp, ly kỳ. Đa số bình thường với những nhận xét tinh tế:
Đàn ông biết được phụ nữ bao nhiêu? Tôi dùng chữ “biết”, không phải ý chữ “hiểu”. Tôi không dùng chữ “đàn bà” vì e rằng thiếu kính trọng. Tôi lấy vợ đã gần nửa thế kỷ. Đã bắt tay, chào hỏi vài ngàn phụ nữ và nhìn ngắm họ qua trăm ngàn vóc dáng khi du hành nhiều nơi trên thế giới, nếu tính luôn trên truyền hình, qua video, con số có thể lên hàng triệu. Nói như vậy, bạn đọc có thể lầm tưởng tôi là người có bản lãnh biết về phụ nữ, thực tế, như Louis de Bernières đã nói: “Đường lối phụ nữ chinh phục trái tim đàn ông là khiến cho anh ta tưởng bở đang làm cô thích thú.” (“That's how a woman wins a man heart, by making him think that he amuses her.)
điều nguyên vẹn nhất / vẫn nằm im trong tim / ngày mùa thu nhớ dòng sông / nấm đất buồn tênh bên lở bên bồi / quăng viên sỏi trắng cạnh chiếc cầu run rẩy / bàn tay nào níu giữ / bạn bè và tình nhân / ngẩn ngơ năm ba lời tiếc nuối / con chim non hót mấy tiếng cội nguồn
Thế giới giờ này người né người! / Ngồi trên xe bus gắn máy lạnh, hoặc xe bò cọc cạch lăn bánh, / người ngồi xa người, khoảng cách an toàn, một thước rưỡi. / Anh xa tôi! Tôi xa em! Ta xa nhau! Đúng 2 thước. / Giờ này đôi ta hôn nhau nụ hôn gió qua khẩu trang! / Ai đó lỡ miệng ách-xì một, hoặc hai tiếng, hoặc một tràng; / Hết rồi những ánh mắt ái ngại, / những lời nói cảm thông, “God bless,” hoặc “Trời, Phật, Chúa chữa!”
Mời các bạn đọc một ngụ ngôn tân thời của thi sĩ Nobel Louise Gluck. Bóng tối che đậy tội ác. Che giấu những con mèo từ rừng hoang xuống trà trộn vào thành phố. Ban ngày, chúng hiền lành. Về đêm, mèo lộng hành, bè đảng, lòng dạ hung tợn, ngay cả người cũng sợ. Chúng săn đuổi, tiêu diệt những sinh vật không có sức kháng cự. Thảm thương cho thân phận làm chuột. Ngày không dám nhìn mặt trời. Đêm la hét đau đớn dưới răng mèo sắc bén. Chết, Chuột chết la liệt đầy phố đêm. Ai biết? Biết rồi, ai nói? Trước khi trời sáng, xã hội quét dọn, đường phố sạch sẽ, không dấu vết sát thủ, nạn nhân. Mặt trời lên. Mèo hiều hậu, dễ thương, Chuột trốn nắng. Người vô tư. Nhưng rồi đêm sẽ đến, sẽ tiếp diễn máu me và định mệnh.
Mời nghe Alexandra Huỳnh đọc bài thơ Di Sản (Inheritance) "live" trên đài truyền hình LX News. Nữ sinh gốc Việt Alexandra Huynh, tên Việt là Thụy An, 18 tuổi, trong buổi chung kết đêm Thứ Năm 20/5/2021 vừa qua đã thắng giải: "2021 National Youth Poet Laureate -- Nhà Thơ Khôi Nguyên Giới Trẻ Quốc Gia 2021". Huynh trả lời phỏng vấn AP đêm Thứ Năm qua điện thoại từ nhà, rằng thơ đối với cô là phương tiện để tự bày tỏ và để giúp công lý xã hội. Cô nói “Tiếng Việt tự nó đã là một tiếng nói giàu chất thơ. Trong sinh hoạt văn hóa của người Việt người ta đã nói thành thơ trong cuộc sống hằng ngày.” Cô cho hay là đã tập viết những lời thơ phổ nhạc từ khi mới 7 tuổi; đặc biệt là sau những lần đọc thơ trước công chúng thì lại càng cảm thấy sức mạnh của chữ nghĩa có tác động tích cực lên tâm lý và tinh thần đại chúng. Alexandra Huynh căn bản sáng tác thơ bằng tiếng Anh nhưng luôn nuôi hy vọng là sẽ có tác phẩm thơ ra đời và sẽ được chuyển ngữ sang “tiếng Mẹ đẻ”, ngôn ngữ Việt Nam.
nếu tôi không thể là người hùng / tôi mang tên người di dân gương mẫu / ôi những chiếc thuyền / & những người trên những chiếc thuyền ấy / can đảm biết bao & khác xa / đám tỵ nạn đương thời chúng ta nợ họ / Tôi ngậm chặt lưỡi / nghe âm thanh / thân thuộc gần như nhà mình / khi tên Dương Thu Hương mất đi dòng sông / trong miệng lão thầy / và chẳng ai buồn hỏi vì sao / mặt tôi giàn giụa. & nhớ đến chiếc bàn buồn bã, / trong góc xó lớp học / tôi viết lời nguyện cầu / cho lũ trẻ sắp vào chật lớp này: / hãy để đám trẻ được xưng tên chúng như mẹ chúng đã từng gọi thế. / hãy để điệp khúc được xướng lại hay cố gắng & cố gắng như thế. / hãy để những câu chuyện không pha chất trọ trẹ / & giữ lại thanh âm không phiên dịch. / hãy để lũ trẻ điền vào khoảng trống bằng ký ức.
những bông hoa Diên Vỹ / nở tím chiều tháng Năm / Anh nở tím hồn em / bắt đầu vào tháng mấy
trên đồi gió khoác áo thư sinh tóc bạc / như lữ hành đi qua đồng bằng / thỏa mãn khát khao / sông dài núi rộng / thèm dòng sữa chảy ra từ lồng ngực / que diêm cháy một lần rồi tắt / vẽ vời chi / trăm cảnh lao đao
Trước đây, Thường Thấu Thấm thuộc về giả thuyết thưởng ngoạn và sáng tác. Tuy nhiên, dịch thuật cũng mang cấu trúc cơ bản của ngôn ngữ và ngữ pháp, được xác định minh bạch về bản chất, cá tính và chức năng, có tính toàn cầu trong hệ thống ngôn ngữ, có tính chung để thông đạt, nên giả thuyết này có thể áp dụng vào dịch thuật, song song với giả thuyết thưởng ngoạn và sáng tác.
Sủa ra xóm sủa xuống làng / Người dân nghe sủa hoang mang tột cùng / Nhưng loài sủa vẫn dửng dưng / Sủa tâng công để cửu trùng sủa khen
Tôi lắng nghe tiếng khóc đâu / đó nấc lên ngày tháng tư lắng / nghe từng âm âm ức ức mà / phỏng đoán tiếng khóc / ấy là khóc mừng vui sum / họp hay tủi hờn chia ly.