Nhatthuc 011
Nhật thực -- Tranh Nguyễn Đình Thuần.




LÊ HƯNG TIẾN



Ngụ ngôn của dế


Dế con đội gánh từng sợi đêm

Treo ngược thời gian

Rao rảo những bước cao vô vọng

Khản cả vầng trăng


Có nghe thút thít từ trong lòng đất

Tiếng xưa trở dạ lót mềm bóng mây

Dế con lốc vào lũ ăn mày

Vỡ lòng bài đồng ca

Khai nhịp thời không gian


Nơi tồn tại những ý nghĩ phù du

Có thể nẩy ra chân chân cần mẫn

Tay tay lùi lụi trong tĩnh tĩnh động động

Vêu vao mũi mũi mắt mắt

Sự sống hình hài ngón ngón thon thon

Be bé hòng họng


Cuộc chiến bản năng mất mất còn còn

Chùng lên những linh hồn vếu váo phù du

Treo ngược sợi đêm

Dế con lui cui từ trái tim thoát hiểm


Khi bình minh đo đỏ

Dế con chưa nghĩ được điều tối tăm tội vạ



Những ngón tay đau

                     

Chĩa từng ngón tay lên không

Đôi mắt mở lòng

Những họng sương phả vào bình thủy tinh không đáy 

Rơi từng ngón tay đau nhìn từ phía trời vụn vặt hồng hồng


Nhiều cái ngả nghiêng 

Xiên đầy con mắt những hạt thiền thiền quái quái

Lạ từng ngón tay ám mùa động hưởng

Bay lạc đường biên làm lũ dơi đẻ ngày lạ trên nắng cháy


Trên nắng cháy

Lũ dơi không nhớ mùa động hưởng

Khói bay từ những tiếng súng thơm mùa quê kệch

Cả bầu trời ầm ĩ những tiếng nói thinh không


Hơi thở từng ngón tay hờ

Chĩa lên không phẳng lặng mơ hồ

Tiếng nói bất lực 

Ai cũng nghĩ đến chiến tranh từ lòng đất mở


Không đau thương

Không tương tàn

Không không khí nở

Nhân loại bắt đầu thở vô cảm trong bình thủy tinh không đáy


 

Sự viết hoa


Chân chim viết hoa

Sự đời mệt lử những cô hồn con chữ

Đường lên gân tái nhợn


Ý niệm viết hoa

Bản thể đã nhiều lần đánh cắp tư cách

Đêm lẩm nhẩm cái lục lạc leng keng


Bài thơ viết hoa

Đám mây rủ rỉ bầy trâu tơ về làm mưa

Mỗi hạt lúa hoang hoải chờ mùa


Người ta viết hoa

Mỗi khi thổi hồn em bằng giao cảm tích tịch tình tang

Trầm ca mênh mang tìm nguyên chất


Không ai viết hoa

Trần gian chẳng có huyền thoại Adam và Eva

Lịch sử chỉ là nguyên thuỷ


Ai không viết hoa

Những viên Cuội đè nặng giấc hôm

Bình minh rối rít thở hồng hộc hồng hộc.


*


LÊ CHIỀU GIANG



Hát với trăng


Như tre trúc

Đứng cùng mưa nắng. Ta

Lắng nghe hướng gió

Về đâu?

Như tiếng hát

Có khi rớt nhịp

Vẫn chập chờn, réo rắt

Một

âm hao.

Thì đã có bao lần

vấp váp

Đã thảm thương, chới với

Nhiều phen

Cũng

... không sợ!

Yêu.

thêm lần nữa

Có hề chi?

Ngã mãi… Sẽ quen.

Đêm nay ta hát cùng trăng sáng

Gõ một nhịp đời, mong

Lãng quên.


*


QUẢNG TÁNH TRẦN CẦM 


ký ức là những giấc mơ 


1/ 

trong quá trình trị liệu 

mi nói có phương án sửa đổi giấc mơ  ̶ ̶ ̶  

tạo một biến khúc mới 

hưng phấn 

thắp sáng rực rỡ chan hòa 

bởi trăm ngàn mặt trời 

điều khó khăn là trở lại giấc mơ gốc  ̶ ̶ ̶   

một nỗ lực cần sự chính xác 

tương tự như tàu không gian con thoi 

trở về trạm không gian neo đậu trong vũ trụ bao la  ̶ ̶ ̶  

hay đây cũng chỉ là một giấc mơ phù phiếm.  


2/ 

có những giấc mơ vụt mất khi tỉnh giấc 

biệt tích vĩnh viễn 

có những giấc mơ dính chặt trong tâm trí ngày lại ngày qua 

và không ít giấc mơ trải qua nhiều lớp suy diễn sàng lọc 

trở nên bùng nhùng nhạt nhẽo 

lỏng lẻo bấu víu những con chữ lờ đờ rơi tự do 

giữa tạp âm trắng 

trần trụi nổi trôi 

từ tháng ngày không còn gì níu giữ 

cho dù mong manh 

như một hơi thở cạn 

nhẹ tênh. 


3/ 

nơi đây mảng không gian dày đặc sương mù 

chiếc xe thổ mộ đầy ấp người và quang gánh thúng bị 

chậm chạp theo tiếng nhạc ngựa 

lầm lũi trên con đường rợp lá 

phiên chợ bắt đầu rộn rã từ lúc hừng đông 

hàng quán đông nghẹt khách 

thơm phức mùi cà phê hủ tiếu cơm tấm bò kho 

và người đi lại ngược xuôi như những chiếc bóng vô cảm 

dửng dưng bên đứa bé lạc mẹ khóc tức tưởi 

đây  ̶ ̶ ̶  bé lạc mẹ hay mẹ lạc con? 

(ai cắt đứt sợi dây thiêng liêng nối liền núm ruột?)    

ký ức tôi tiềm ẩn trong những giấc mơ phân ly dằn vặt không dứt 

có thể nào ký ức là chiêm bao?  ̶ ̶ ̶  biết đâu.  


*


TRẦN HOÀNG VY



Hạt bụi trần 


Hạt bụi trên da thành những vết hờm dị hợm

Trên tóc hóa gàu và trong mắt hóa nỗi đau,

Ta vốn sinh ra từ những hạt bụi không màu

Nhiễm sắc trần gian mà bụi hồng, bụi đỏ...


Bụi hoàng gia, bụi lầu son gác tía

Bụi gã ăn mày, bụi kẻ chân tu

Và bụi của đám... khu đen, dân dã

Bụi của xa hoa, khốn khó, tít mù!


Những hạt bụi bên đường, xa quê, khóc đỏ

Trên nấm mồ hoang, héo úa cỏ vàng

Trong biệt thự triệu đô có khác?

Hôm soi gương, hạt bụi hóa vàng?


Hạt bụi trăm năm trên mộ Tần Thủy Hoàng

Bên vết nứt những Pha-ra-ông vạn tuổi

Ta rửa nước sông Nin trôi ra biển

Có khác nước sông Hằng thuở hồng hoang?


Hạt bụi người mang từ mặt trăng xuống

Có con cháu gì với trái đất triệu triệu năm?

Những hạt bụi từ trong xương, trong tủy

Lúc bay lên chợt có bóng nguyệt rằm?


Những hạt bụi trần gian cõi ta bà, không sắc

Một hôm trở về mặt đất cũng như nhau

Có cái khác ở trong hạt bụi

Kẻ ác, tham tàn. Hạt bụi... tanh hôi…!?



Nói chuyện với Quyền Liêm Tướng Quân


Thôi ngài quảy gánh theo thầy

Bốn phương cực lạc, phương Tây Phật chờ…


Cuối giêng lên núi bất ngờ

Tướng quân quảy gánh sững sờ non thiêng?

Thưa ngài một tấc lòng riêng

Bấy lâu gờn gợn chung chiêng tâm tình.


Kể từ cõi tục u minh

Trần Huyền Trang quyết thỉnh kinh cứu đời

Ngộ Không khỉ đá tuyệt vời

Lão Trư nửa vật, nửa người, Phật ma…


Chỉ ngài tướng mạo người ta

Tâm hồn chơn chất phù sa giang hà

Chẳng bon chen, ít ba hoa?

Thỉnh kinh quảy gánh. Quỷ ma đánh trừ.


Hình như ngài chỉ… biết ừ?

Đôi khi nội bộ xáo nhừ tương chao

Thầy trò, mưa gió lao xao

Đúng sai, thiện ác. Ngài nào cản ngăn?


Tướng Trời mắc nạn - Sa Tăng

Đường chân tu lúc khó khăn nản lòng

Tây phương cõi Phật quay vòng

Cám ngài một gánh đục trong giãi bày…


Thôi ngài quảy gánh đường mây

Bốn phương cực lạc, phương Tây Phật chờ…


(Núi Bà, cuối Giêng. Dưới chân núi Bà, người ta dựng tượng thầy trò Tam Tạng đang trên đường thỉnh kinh, lên núi…)


*


TRẦN YÊN HÒA


thất thanh Đà Nẵng tháng ba


Tháng ba khô quánh vành môi nóng

Môi khốc trơ như khí đất trời

Đà Nẵng rang hầm đêm cạn kiệt

Trông vời Thường Đức đồi ma trơi


Lính chết quanh đồn chưa rõ mặt

Những  khuôn mặt trẻ quá ngây thơ

Viên đạn trúng thân làm co giật 

Tuổi thơ đành xa lánh cuộc chơi


Thường Đức máy bay sà xuống thấp

Tản thương dân lính khỏi nơi này

Khói bụi mù trời sương mịt đất

Đạn rền cùng tiếng hú quanh đây


Tháng ba Đà Nẵng thất thanh gọi

Tam kỳ, Tiên Phước rút quân nhanh

Lính cùng dân tả tơi hoa lá

Đường ngang bít lối, mù quân hành


Bỏ lại đằng sau những hỗn loạn

Lính và dân... trời đất khốn cùng

Dân - con cá đang nằm trên thớt

Kiếp người trôi nổi thật lao lung


Tháng ba thoi thóp hơi thở gấp

Đà Nẵng ngùi trông ở cuối đường

Ta chợt thấy mình mau gấp gáp

Xa rời Đà Nẵng tránh tai ương


Tháng ba Đà Nẵng co giò chạy

Chen chúc nhau theo sóng xuống thuyền

Lặn hụp cực cùng bên nỗi chết

Ơi đêm Đã Nẵng có buồn không?


Đà Nẵng phố phường đang ụp xuống 

Một trời lửa rực đằng sau lưng

Một trời quê bỗng dưng tàn lụi 

Ơi bến sông Hàn khóc đau thương


Tháng ba năm ấy còn ai nhớ

Ngó lại đằng sau những mịt mùng

Hồn đâu trong tháng ba ngày đó?

Chiến tranh hề! nước mắt riêng chung


*


 THY AN



Tháng ba trong xe điện


khoảng trống thu hẹp có một điểm đen

la cà tâm thức

người bạn trong đêm

ngước mặt nhìn trời cao

tìm ánh sao rơi rớt

từ vũ trụ thiên hà mấy ngàn năm ánh sáng

có con chim nào nhớ bạn

thổn thức trái tim như người con gái qua cầu?


tháng ba nghiêng đầu trong xe điện

nhìn nhân ảnh lửng lơ 

đợi niềm vui về muộn

chiều đã tắt trong lòng phố chợ

tảng đá rêu xanh nằm im

chút cỏ non trên đường sắt chạy tìm 


con sâu nhỏ nở ra từ sáng tạo

một nhánh phân vân đâu đó

lũy thừa mấy con số ký ức

chập chùng sông biển núi rừng

thiên thu hé mở  

mấy dòng thơ thao thức chảy ra 


kiểm điểm lại khuôn mặt bơ phờ

bạn bè xanh xao nghe khàn giọng

im lìm thời gian lướt qua 

những đêm không ngủ mưa sa

réo gọi thịt da

mấy tấm lòng tha thiết mặn mà


trong đem tối có tiếng kêu 

xa xa…


*  


NGUYỄN HOÀN NGUYÊN

Bài hát cũ



lắng nghe bài hát cũ
rủ xuống một phương trời
động tĩnh thôi ngăn cách
lời ca đọng nửa vời

từng hợp âm lướt nhẹ
đệm vào nốt bể dâu
nhớ tay nồng nàn phiếm
dõi nhìn đôi mắt sâu

ngày thế gian cháy bỏng
tuổi trẻ và tin yêu
cà phê đầu đời đắng
giấc mơ xanh thủy triều

phượng hoàng tập vỗ cánh
tro đời bay ngổn ngang
giữa đá buồn phế tích
thầm vọng phiến âm vang

phai tàn vó ngựa soải
sao còn một vết môi
trầm hương hoa di sản
cây lá chẳng mồ côi


Ɖêm


Đom đóm
đỏ
bừng
đêm
nguyệt tận
một
cỏn con
xao động
đất trời
cú nhà thờ
lướt êm
cánh lặng
những linh hồn
còn tiếc nuối
cuộc chơi


Bay bổng
vút lên
vì đã xuống
tận cùng
thả trôi đi
viễn mộng
ngày qua
từ căn thức
nỗi buồn
còn nhỏ giọt
đêm về
chạm đá
trổ bông hoa



Ngày 15 tháng 9 năm 2025, Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ công bố Arthur Sze là thi sứ ‘Poet Laureate’ thứ 25 của Hoa Kỳ. Ông là thi sĩ gốc Á đầu tiên giữ vị trí này, sẽ chính thức ra mắt trong buổi đọc thơ tại Washington vào tháng Mười. Tin này đến - giữa thời buổi chữ nghĩa bị giản lược thành khẩu hiệu, bị cuốn theo dòng truyền thông ồn ã, chớp nhoáng - như một tín hiệu ngược dòng: thơ vẫn còn giữ vững chỗ đứng riêng của nó, như thân xác vẫn còn linh hồn.
Nguyên Yên, một trong những nhà thơ đương đại nổi tiếng ở hải ngoại. Cô chưa in một tập thơ nào, chỉ xuất hiện trên một số trang web như Việt Báo, Văn Việt, Hợp Lưu, Blog Trần thị Nguyệt Mai, Phố Văn… Ngoài những bài viết về thời sự, bình luận ký tên thật Nina Hòa Bình Lê với cái nhìn sắc bén và nhân ái, người đọc còn được biết đến Thơ của cô, với bút danh Nguyên Yên. Một tiếng thơ gây ngạc nhiên bởi ý tưởng, hình ảnh độc đáo, giản dị, mạnh mẽ, trữ tình. Tôi thực sự bị dòng thơ này lôi cuốn.
Bây giờ | mỗi sáng tôi vào Việt Báo | Đọc những câu chuyện về cuộc đời xa xưa của Đức Phật thay cho những Tin Tức Thời Sự về nước Mỹ | Trong những câu chuyện về Đức Phật | Tôi không nghe thấy tiếng súng | Tôi không nghe thấy hận thù | Tôi không nghe thấy bất công | Và không nghe thấy cả những điều ngu dốt kỳ thị.
Người sẽ tiếc vì treo tôi trên chiếc thòng lọng | Tôi ngu gì tự ải | Thoát đi như bóng đêm | Trên bến | Con thuyền
Vì tình yêu như bơ trét giữa ổ bánh. Trét ít thì khô. Trét nhiều thì nhão. Trét đúng phận người, vừa trơn vừa thơm, hương vị mỗi miếng tình. Thịt nguội, chả lụa, em đừng để dành quá lâu, dễ bị hỏng.
Theo đại thi hào R.Tagore "Cũng như nụ cười và nước mắt, thực chất của thơ là phản ánh một cái gì đó hoàn thiện từ bên trong". Theo tác giả cổ đại Ovid (khoảng năm 43 trước Công Nguyên) thì: “Có ít nhiều sự thoải mái trong cơn khóc”. Thi sĩ Colley khẳng định: “Lời nói để khóc và nước mắt để nói” Thi sĩ người Pháp Alfred de Musset có câu thơ: “Cái duy nhất còn lại cho tôi ở trên đời/ Chính là những lúc đã đôi lần nhỏ lệ”. Thi sĩ người Anh Robert Herrick: “Giọt lệ chính là ngôn ngữ cao quý của đôi mắt” .Nhà thơ trẻ Nepal, Santosh Kalwar tâm sự: Tôi đã mỉm cười ngày hôm qua. Tôi đang mỉm cười ngày hôm nay và khi ngày mai đến, tôi sẽ mỉm cười. Vì đơn giản, cuộc sống quá ngắn để ta khóc về mọi thứ – Và ai đó đã cho rằng: Không có gì đẹp hơn một nụ cười đã trải qua những giọt nước mắt.
Rồi tình một lẵng xanh lơ | Mấy bông hoa tỏ mù mờ xưa sau | Khe nào suối đã hồn nhau
anh vẫn đi trên con đường | vắng bóng hoàng hôn đời mình | đôi cánh tay nối dài đại lộ lê thê | sương khói mùa thu không về
Người Việt Nam giã từ vũ khí nhưng không vĩnh biệt chiến tranh. Có hai lý do: cuộc xung đột hai mươi năm chưa bao giờ được các bên tham dự giải quyết xong về mặt lý thuyết. Những tranh cãi không nguội đi, các khác biệt chưa giảm bớt, nguyên nhân là tồn tại những quan điểm khác nhau về ý nghĩa của chiến tranh. Căn nhà của dân tộc như bị ma ám. Thứ hai, cuộc chiến tàn khốc và kéo dài, vinh quang và nhục nhã, quá cay đắng và hào hùng, quá mất mát, hiểu lầm, hối tiếc. Vết thương ấy đã sống quá lâu. Nó không cam lòng chết đi.
tràng hạt đắng rất vô vị | giữa hồ vẫn mượt gương sen | ngựa hí. bung rồi dây mã | tàn trăng. giũ một ánh đèn
Từ trên cây | Chúng ta không còn cần ăn trái cây nữa | Dù chúng thơm ngon | Chúng ta bước lom khom trên mặt đất | Bằng hai chân | Một chân đi trước | Một chân đi sau
Chúng tôi lạc nhau ở một ngã rẽ | mà chưa hề buông tay
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.