Về, qua đỉnh đèo mây

27/03/202408:04:00(Xem: 2416)

John MartonoTranh John Martono.

 

Thơ Nguyễn-hòa-Trước được đặc trưng bởi sự tập trung vào tính sáng tạo của ngôn ngữ, sự giải cấu trúc của cú pháp và ngữ pháp thông thường, đồng thời khám phá những hạn chế và khả năng cố hữu của chính ngôn ngữ.
    Thơ ông thường sử dụng cú pháp rời rạc. Cấu trúc thơ phân mảnh, thách thức các hình thức biểu đạt tuyến tính và tự sự thông thường. Sự phân mảnh phản ánh sự hoài nghi đối với ý tưởng về một ý nghĩa mạch lạc, đồng thời nhấn mạnh quá trình đọc thơ như một tương tác tích cực với ngôn ngữ. Người đọc thơ cùng lúc sáng tạo với người làm thơ. Thơ có thể gãy đoạn, không dễ cảm nhận tức thời, không đi thẳng từ trái tim người làm thơ sang trái tim người đọc, nhưng đó là sự gãy đoạn có ý thức khơi gợi những khả thể mỹ học khác lạ trong một tương quan mở. Chính nhờ vậy, ngôn ngữ trong thơ ông không bị lệ thuộc vào cái nghĩa, tức là cái tư tưởng tiên nghiệm, để từ đó thơ thoát ra khỏi thân phận công cụ, không bị trì kéo bởi trọng lượng khôn kham của sứ mệnh, và trở thành cứu cánh của văn học, của mỹ học.
    Là một thử nghiệm ngôn ngữ ở cấp độ vần/nhịp điệu, từ pháp, cú pháp và ngữ nghĩa, nhà thơ thường sáng tạo những từ mới, sử dụng cách chơi chữ và vận dụng ngôn ngữ để làm nổi bật những phẩm chất vật chất của nó. Sự đổi mới ngôn ngữ này nhằm mục đích phá vỡ các thói quen đọc và hiểu.
    Bởi thơ Nguyễn-hòa-Trước xem ngôn ngữ như một đối tượng vật chất, có xu hướng khám phá tính chất vật thể của nó cũng như cách thức nó định hình nhận thức và trải nghiệm, nên nhà thơ quan tâm đến kết cấu, cú điệu và hình thức trực quan của các từ trên mặt dệt của bài thơ cũng như bối cảnh văn hóa và xã hội ảnh hưởng đến việc sử dụng chúng.
    Theo lời chính nhà thơ thì “Viết là để 'ngôn ngữ hóa' cảm xúc và tưởng tượng của mình; mà hai thứ này thì cứ thay đổi, biến chuyển tùy lúc. Do đó, chúng bắt buộc 'ngôn từ' phải tự biến hóa liên tục theo.”
    Việt Báo trân trọng giới thiệu.
 (Trịnh Y Thư).

*

1

Rét đến sớm chắc em tôi chưa về kịp

đất hôn trời ngăn sẻ nhảy nhịp quen

cuối dốc rừng chẳng tím áo nào lên

con gió đã choàng ôm kè đê xám

quấn chăn dầy đi trọn giấc đông miên.

 

Vào trong bới hít mớ củi tro thêm ấm độ

than tàn lạnh bó

sương màn rộng vó

muối đang chừng rất mặn

(rám má hường may em tôi chẳng ở quanh đây!)

bờ chắn sóng cáu cau khúc sông gầy

nhánh củi mục đã đẻ rêu ghềnh cũ

thở thơm tho từ ngàn môi quá khứ

lấm tấm vàng rượu đỏ nhựa đơm khuy

vạt phong phanh cài biếng nhả xuân thì

hớ hênh lắm vẫn chưa phải lúc lót đường vời nắng hạ.

 

Trên này núi mỗi ngày mỗi cao

tôi vói mãi mừng được thêm khấc nối

mây sát tóc cũng tiện bề trao hỏi

căn chòi trống mái sắp vờn được tới

râu ngọn si dài lúng búng túm chổi sao;

 

tôi đo tôi đọ trời bằng biển hoa 10 giờ hiu hắt nguội

cùng nhí nhảnh nhóm tiểu nữ bồ công anh

lặt thêm dăm sợi nóng từ kho tưởng tượng để dành

(hơi nóng có màu mắt em lao xao rất tội

loại nắng có lời thầm thì cần cho khi bối rối)

chạy giữa hai lườn tóc thả lơi thèm gặp gội;

 

trụ cây số này tôi đã tô dấu mực bằng vun ngọn rổ mụn sim già

(vỏ láng trơn tôi thích lắm mân mê xoa xuýt)

chắt lấy mật từ chiếc cối đá vôi vần xuống từ mỏm thiên nga

hai quả tim lá sấu hình thoi nét vẽ đầy ước lệ

(sinh nhật em ấn tích lần về thăm vội thế!)

mặt dưới lá trắng phau chói hơn là tơ tuyết

những cột những kèo rui bụi hơn đóm nháy

 

Tôi run hồn dầu rằng đang được nắng bầy hun sấy.

 

 2

 

Đèo cột dây leo thắt nơ sừng sỏ múa đuôi chồn

đất luyện tu bao năm đất đã đánh vồng ngon

thách đố bia thạch dưỡng nuôi mầm sinh nhũ

hoa xòe tam giác tím hoe nhìn lâu cũng tanh tách vài thi tứ

sóc chuyền cành dơi móc xoạc cánh ngang

chênh vênh nhợ nóc mùng mạng nhện vướng víu cội mơ màng;

 

dãy thông bách tuế sù sụ giang tay từng chặng ngược

ngo ngoe ngón cong cớn không lúc nào chập được hình quả cau

đoạn đồi trẻ nhất hai ta thường đánh mốc gọt đầu

(những câu thơ diễm lệ đọc lại ngượng quá đến chẳng dám nhìn nhau lấy nửa phút!)

nắng đổ vấy giỏ kim ngân sùi bọt

(may em không về nên đôi gót thỏ hồng cũng chẳng cần trơn trượt.)

 

Rét không ngủ rủ theo đào thức sớm

ngần ngừ bởi chưa tìm thấy đám yến quen

thôi cứ nở bạn trông xa sẽ về lúc nửa đêm

họa mi nhọ mỏ ngậm nghiêng cành lộc nõn;

 

bộ thổ cẩm mới đan xong từ trước nghìn năm có lẻ

một em mong manh ngắm mãi mắt mụ mê chưa phủ hết hình nhân

trong thâm u nhìn thấy lắm dị thần

em bông gạo chạy giáp guồng nho quế.

 

– Nguyễn-hòa-Trước

đồng văn, 12-2023

 

 

giọt ngắn giọt dài | thấm vai nghe lạnh | đôi mắt nhả ra thứ ánh sáng mịt mờ | nhận chân niềm hạnh phúc vỡ mau
phận người như vỏ bào mạt cưa trong cơn lốc xoáy | quá khứ thập thò van xin | ký ức bé mọn chập chờn lang bạt ̶ ̶ ̶ nào ai nhớ
Như một người đi tìm kỷ vật | Tờ lịch xưa đánh tráo góc mù | Con số nhảy múa trên triền dốc | Đời buồn như một chiếc mộng du
Nếu cần, con tin Chúa sẽ chịu đóng đinh thêm một lần nữa | để con chiên Chúa được bình an có cái ăn cái ấm chắc chắn Chúa đã làm, đang làm và sẽ làm | bởi vì Người là Đức Chúa trời hằng cứu giúp chúng con.
Ngỡ mình ở cuối năm tây | Dòm trật năm cũ thấy ngày đã xa Ngỡ mình là gió bay qua | Không phải. đứng khựng. chỉ là cây khô | Ngỡ mình đâu đó phất phơ | Năm. tháng. chấm. phẩy, một tờ sang trang
Những bài thơ xuất sắc của Giáng Vân nằm ở biên giới giữa điều có thể nói và điều không thể nói ra. Thơ chị có nhiều đề tài, tình yêu, suy tư lịch sử, những xúc động mới về thế giới hiện nay. Đó là một loại thơ sâu kín, cắm rễ trong vùng tối đen của tiềm thức, nhưng hướng về phía ánh sáng. Giáng Vân không ngần ngại nói về sự bế tắc, sự cùng đường của xã hội, cái chết và sự diệt vong của con người. Trong tập thơ gồm 36 bài, những mảng tối được thấy rõ, sự buồn rầu, lo lắng, cảm giác phẫn nộ, nhưng chị nói nhiều hơn đến sự vượt qua. Chị tin vào tâm hồn. Thơ chị có hai nguồn mạch: những câu chuyện riêng tư và những nỗi lo âu của thời đại mình. Chị có những bài thơ đi tới chỗ tận cùng, nơi giao điểm của hai niềm cảm hứng, đó là một kiểu thơ trữ tình thời sự hiếm gặp hôm nay.
Em một đời quanh quẩn giữa bông hoa Báo Xuân, con Chim non, con Ve Sầu, | con Chuồn Chuồn Kim con Giun đất… và ngất ngây rượu Mận | Em không tìm ra em
mùa đông đem lại chút bão giông | hát ca một đời hao hụt | hôm qua và ngày mai | thế giới vỡ tung trước mắt
Sống đến một lúc nào | nhìn xung quanh hết thấy con nít. | Biết ngay | hồn nhiên tự tại chết ướp trong khôn ngoan.
Nhà thơ Vũ Trọng Quang bảo mũi tên ấy bay hoài bay không tới. Làm sao bay kịp thời gian. Hoặc giả như vầy. Nơi tôi ngồi cố định, và. thời gian đi qua đi qua. Khi lời thơ vừa thốt lên là lúc tôi rơi mất thời gian. Không gian nào giữ những lời đi. Ở những bài thơ sau đây bạn có thể thấy được nơi thời gian và không gian gặp nhau trong nhịp lẫy tình cờ. đã ra đi là muôn đời ở lại…Bây giờ là bao giờ??? Bao giờ là bây giờ!!!, chiếc kim đồng hồ lẩn thẩn/ như con kiến già bò trên miệng chén… …Bạn cùng tôi như ai kia thập tự vác mình qua đông gió, cứu chuộc nỗi tàn phai của Màu thân thể ngó chừng cũng cũ cùng sự lãng quên muôn đời, để có thể trong thế giới siêu hình yên tĩnh của ta được an ủi Mưa trầm trầm dương thế/ Ngấm sâu miền âm gian… , dù mưa không dội sạch được những linh hồn run rẩy, và dẫu Đó là cánh cửa bí mật/ từng khép cửa linh hồn…
hết xuân sang hạ | hồi cư chiếc buồn | một mình vẫn | một mình luôn
người bán hàng tiếp tục chu mỏ thuyết minh | con cóc nhảy ra và ngồi đó ̶ ̶ ̶ vừa lắng nghe | vừa gật gật đồng ý: “văn hóa phi vật thể”
Khóc mùi một trận đi, quê núi | Vuốt ngực trôi xuôi những nỗi niềm | Trả hết về xưa cho gió xóa | Để hồn ươm vạt nắng vàng im |