Về, qua đỉnh đèo mây

27/03/202408:04:00(Xem: 2375)

John MartonoTranh John Martono.

 

Thơ Nguyễn-hòa-Trước được đặc trưng bởi sự tập trung vào tính sáng tạo của ngôn ngữ, sự giải cấu trúc của cú pháp và ngữ pháp thông thường, đồng thời khám phá những hạn chế và khả năng cố hữu của chính ngôn ngữ.
    Thơ ông thường sử dụng cú pháp rời rạc. Cấu trúc thơ phân mảnh, thách thức các hình thức biểu đạt tuyến tính và tự sự thông thường. Sự phân mảnh phản ánh sự hoài nghi đối với ý tưởng về một ý nghĩa mạch lạc, đồng thời nhấn mạnh quá trình đọc thơ như một tương tác tích cực với ngôn ngữ. Người đọc thơ cùng lúc sáng tạo với người làm thơ. Thơ có thể gãy đoạn, không dễ cảm nhận tức thời, không đi thẳng từ trái tim người làm thơ sang trái tim người đọc, nhưng đó là sự gãy đoạn có ý thức khơi gợi những khả thể mỹ học khác lạ trong một tương quan mở. Chính nhờ vậy, ngôn ngữ trong thơ ông không bị lệ thuộc vào cái nghĩa, tức là cái tư tưởng tiên nghiệm, để từ đó thơ thoát ra khỏi thân phận công cụ, không bị trì kéo bởi trọng lượng khôn kham của sứ mệnh, và trở thành cứu cánh của văn học, của mỹ học.
    Là một thử nghiệm ngôn ngữ ở cấp độ vần/nhịp điệu, từ pháp, cú pháp và ngữ nghĩa, nhà thơ thường sáng tạo những từ mới, sử dụng cách chơi chữ và vận dụng ngôn ngữ để làm nổi bật những phẩm chất vật chất của nó. Sự đổi mới ngôn ngữ này nhằm mục đích phá vỡ các thói quen đọc và hiểu.
    Bởi thơ Nguyễn-hòa-Trước xem ngôn ngữ như một đối tượng vật chất, có xu hướng khám phá tính chất vật thể của nó cũng như cách thức nó định hình nhận thức và trải nghiệm, nên nhà thơ quan tâm đến kết cấu, cú điệu và hình thức trực quan của các từ trên mặt dệt của bài thơ cũng như bối cảnh văn hóa và xã hội ảnh hưởng đến việc sử dụng chúng.
    Theo lời chính nhà thơ thì “Viết là để 'ngôn ngữ hóa' cảm xúc và tưởng tượng của mình; mà hai thứ này thì cứ thay đổi, biến chuyển tùy lúc. Do đó, chúng bắt buộc 'ngôn từ' phải tự biến hóa liên tục theo.”
    Việt Báo trân trọng giới thiệu.
 (Trịnh Y Thư).

*

1

Rét đến sớm chắc em tôi chưa về kịp

đất hôn trời ngăn sẻ nhảy nhịp quen

cuối dốc rừng chẳng tím áo nào lên

con gió đã choàng ôm kè đê xám

quấn chăn dầy đi trọn giấc đông miên.

 

Vào trong bới hít mớ củi tro thêm ấm độ

than tàn lạnh bó

sương màn rộng vó

muối đang chừng rất mặn

(rám má hường may em tôi chẳng ở quanh đây!)

bờ chắn sóng cáu cau khúc sông gầy

nhánh củi mục đã đẻ rêu ghềnh cũ

thở thơm tho từ ngàn môi quá khứ

lấm tấm vàng rượu đỏ nhựa đơm khuy

vạt phong phanh cài biếng nhả xuân thì

hớ hênh lắm vẫn chưa phải lúc lót đường vời nắng hạ.

 

Trên này núi mỗi ngày mỗi cao

tôi vói mãi mừng được thêm khấc nối

mây sát tóc cũng tiện bề trao hỏi

căn chòi trống mái sắp vờn được tới

râu ngọn si dài lúng búng túm chổi sao;

 

tôi đo tôi đọ trời bằng biển hoa 10 giờ hiu hắt nguội

cùng nhí nhảnh nhóm tiểu nữ bồ công anh

lặt thêm dăm sợi nóng từ kho tưởng tượng để dành

(hơi nóng có màu mắt em lao xao rất tội

loại nắng có lời thầm thì cần cho khi bối rối)

chạy giữa hai lườn tóc thả lơi thèm gặp gội;

 

trụ cây số này tôi đã tô dấu mực bằng vun ngọn rổ mụn sim già

(vỏ láng trơn tôi thích lắm mân mê xoa xuýt)

chắt lấy mật từ chiếc cối đá vôi vần xuống từ mỏm thiên nga

hai quả tim lá sấu hình thoi nét vẽ đầy ước lệ

(sinh nhật em ấn tích lần về thăm vội thế!)

mặt dưới lá trắng phau chói hơn là tơ tuyết

những cột những kèo rui bụi hơn đóm nháy

 

Tôi run hồn dầu rằng đang được nắng bầy hun sấy.

 

 2

 

Đèo cột dây leo thắt nơ sừng sỏ múa đuôi chồn

đất luyện tu bao năm đất đã đánh vồng ngon

thách đố bia thạch dưỡng nuôi mầm sinh nhũ

hoa xòe tam giác tím hoe nhìn lâu cũng tanh tách vài thi tứ

sóc chuyền cành dơi móc xoạc cánh ngang

chênh vênh nhợ nóc mùng mạng nhện vướng víu cội mơ màng;

 

dãy thông bách tuế sù sụ giang tay từng chặng ngược

ngo ngoe ngón cong cớn không lúc nào chập được hình quả cau

đoạn đồi trẻ nhất hai ta thường đánh mốc gọt đầu

(những câu thơ diễm lệ đọc lại ngượng quá đến chẳng dám nhìn nhau lấy nửa phút!)

nắng đổ vấy giỏ kim ngân sùi bọt

(may em không về nên đôi gót thỏ hồng cũng chẳng cần trơn trượt.)

 

Rét không ngủ rủ theo đào thức sớm

ngần ngừ bởi chưa tìm thấy đám yến quen

thôi cứ nở bạn trông xa sẽ về lúc nửa đêm

họa mi nhọ mỏ ngậm nghiêng cành lộc nõn;

 

bộ thổ cẩm mới đan xong từ trước nghìn năm có lẻ

một em mong manh ngắm mãi mắt mụ mê chưa phủ hết hình nhân

trong thâm u nhìn thấy lắm dị thần

em bông gạo chạy giáp guồng nho quế.

 

– Nguyễn-hòa-Trước

đồng văn, 12-2023

 

 

Mưa Mưa Mưa Bên kia biển Mưa có lạnh không em Dúi ngón chân son dưới lòng cát ấm Cát sẽ phủ chân em Biển vuốt ve trìu mến Sóng nhấp nhô mưa đời
Tam quan mái lạnh người không tới | Cả ngôi chùa đứng khóc trong mưa.
Trước khi là một bài thơ, "Hòn Đá Làm Ra Lửa" đã là một hành vi kỳ lạ đối với chính khái niệm văn bản. Nó ra đời không trên trang giấy mà trong trí nhớ, giữa hai trại tù Gia Trung và Hàm Tân, suốt gần một thập niên, chỉ được ghi thành chữ lần đầu khi tác giả đã đặt chân tới Thụy Điển, theo tài liệu, nhưng tôi nghĩ, phải trước đó, khi ra khỏi tù hay đến chốn an toàn, phải ghi lại dù không được tề chỉnh như sau này. Phần đông người đọc dừng lại tắc lưỡi, xem đây là một chi tiết cảm động về nghị lực.
Tôi gặp lại anh bên kia ngọn núi / Trong nắng chiều sắp tối / Sao anh không về nhà? / Cha khóc con tàn hết mùa hoa / Mẹ chờ con khuyết cả trăng rằm / Nhà xưa em vẫn đợi / Đó không phải là nhà / Đó là cái còn lại / Của bóng tối. Khuôn mặt tôi không còn nữa / Bên kia cánh cửa: không ai chờ / Làng quê xa vời vợi: tiếng gà gáy sáng / Chó sủa đêm trăng.
Như đứa trẻ nghịch ngợm xé ra trên mặt nước những vòng tròn quấn quít trăm điểm mở
buổi chiều trở về từ cuộc đi bộ | nghe chút hương thơm của hoa jasmin | trắng như bạch ngọc
Cách tốt nhất để giết một con chim | là thế này: dù nó đang cãi cọ hay cất tiếng kêu, | bạn hãy viết rằng chú chim nhỏ đang hót.
Thưa Công nương mắt hương thu u uất Mùa thu không trở lại trong đôi mắt đại dương xanh đầy móng vuốt và, tiếng hát của nàng rắc hoa trên đường về quê cũ xa xăm. Công nương không tin ư
Chuỗi hạt mẹ nằm trên trang | Ý thờ sâu lắng miên man niệm tình
Trận Mậu Thân xãy ra, đơn vị tôi đánh nhau với vc ngay sân nhà.Trận Gò Me Biên Hòa cách hậu cứ tôi chừng 500 mét. Thằng em tôi, thằng em… tôi vừa cưới vợ cho nó nằm lại cùng chiến trường. Vợ nó đón đơn vị quay về ngay tại sân cờ, nhìn quanh không thấy nó, mang cái bầu, xông thẳng đến tôi, không một giọt nước mắt đấm vào ngực tôi bình bịch ‘chồng em đâu, mất rồi hả anh hai’. Vâng đời lính là vậy, vợ lính là vậy.
Để hiểu một nhà thơ, đôi khi phải bắt đầu từ chỗ thân xác họ đã đi qua. Với Nguyễn Hoàng Nam, chỗ ấy là một chiếc ghe đánh cá ra cửa biển Rạch Giá. Trong bài Về nguồn (1990), ông ghi lại khoảnh khắc mửa thốc mật xanh trong hầm ghe, và chính trong cơn say sóng kinh hoàng đó, ký ức quê nhà bật lên: xứ Bưởi Biên Hòa, căn nhà số 66 đường Phan Đình Phùng nơi người mẹ mang ông trong lòng. Rồi đến trại tị nạn Songkhla ở Thái Lan với nắng cháy tóc và sứa lửa phỏng da, sau những bữa ăn cá sình rau vụn. Rồi đến Bolsa, đến tượng Phước Lộc Thọ, đến những bãi biển California.
Môi thầm ngậm nửa lời kinh | Tưởng như thập giá ẩn mình trong sương | Trả lại Chúa những vết thương
tâm trí và khói lang thang | bên này, bên kia trái đất | hồ nước cạn, con đường ngập | cánh rừng tự thiêu | tảng băng bắc cực lững lờ