Bạn bước đi nhưng một người khác bước theo chân bạn
Chưng cất sự tức giận của mình qua những mảnh ký ức và toán học
Được bao bọc bởi chiếc áo choàng gần như làm câm lặng âm thanh đóng cục của các thủ đô
Thành phố sôi sục dày đặc tiếng kêu và ánh sáng kiêu hãnh
Tràn ngập mí mắt
Những giọt nước mắt chảy thành dòng của dân số khốn khổ
Qua đồng bằng cằn cỗi hướng về da thịt mịn màng của dung nham
Của những ngọn núi tối tăm những cám dỗ khải huyền
Lạc vào cảnh quan của ký ức và bông hồng đen tối
Tôi lang thang trên những con phố hẹp xung quanh bạn
Trong khi bạn cũng lang thang trên những con phố rộng
Quanh một thứ gì đó khác.
Tristan Tzara Nguyễn Man Nhiêndịch
Nguồn: Nguyễn Man Nhiên dịch từ bản Anh ngữ bài thơ "Volt" (1924-25) của nhà thơ Tristan Tzara.
***
Tristan Tzara (1896-1963) là một nhà thơ, nhà viết tiểu luận và nghệ sĩ trình diễn tiên phong người Romania và Pháp. Tristan Tzara được coi là người sáng lập ra Dada, một phong trào phản nghệ thuật (anti-art) được hình thành tại Zurich trong Thế chiến thứ nhất. Mặc dù cũng sáng tạo tác phẩm nghệ thuật, nhưng đóng góp chính của ông là xuất bản các bản tuyên ngôn phác thảo các mục tiêu của Dada và phát hành chúng đến nhiều đối tượng nhất có thể, đồng thời sắp xếp các buổi biểu diễn dung tục và gây sốc tại một quán cà phê địa phương, với ngôn ngữ được giải cấu trúc (deconstructed) và các hành động thái quá nhằm mục đích gây sốc cho khán giả và làm đảo lộn mọi kỳ vọng có sẵn. Tristan Tzara đã làm việc chăm chỉ để truyền bá Dada, xây dựng dự án Dadaglobe nhằm mục đích lập danh mục tác phẩm của Dada trên toàn thế giới và giới thiệu thương hiệu cảnh tượng hỗn loạn của riêng ông đến với giới tiên phong Paris vào giữa những năm 1920. Đến năm 1930, ông bắt đầu thoát khỏi khía cạnh phá hoại của Dada và bắt đầu khám phá Chủ nghĩa Siêu thực (Surrealism), một phong trào do người bạn André Breton của ông truyền bá, với sự kết hợp giữa sự đối lập và sự ngẫu nhiên. Trong suốt sự nghiệp của mình, Tristan Tzara đã nỗ lực để vượt qua những gì ông cho là tệ nạn của xã hội tư sản và thay vào đó, đưa ra một phương thuốc giải độc dựa trên sự thiếu hụt tiền lệ lịch sử rõ rệt. Ảnh hưởng của Tzara trong hệ tư tưởng và phương pháp phản nghệ thuật có thể được nhìn thấy trong các phong trào tiên phong sau này, kết hợp các thể loại nghệ thuật (hình ảnh, văn học và âm nhạc) như nghệ thuật sắp đặt, sự kiện và nghệ thuật trình diễn. Việc sử dụng nghệ thuật cắt dán trong Dada, cụ thể là các kỹ thuật "cắt ghép" của Tzara, đã có ảnh hưởng sâu sắc đến thiết kế đồ họa, quảng cáo, thơ ca và nghệ thuật sắp đặt. Kỹ thuật này là chìa khóa đối với các nhà thơ Beat như Allen Ginsberg và William Burroughs và trở thành một kỹ thuật phổ biến đối với các nhạc sĩ như David Bowie.
Những nhà thơ theo chủ nghĩa Siêu thực rất thích lối "viết tự động" (automatic writing). Đó là khi viết bất cứ điều gì xuất hiện trong đầu mà không dừng lại hay sắp xếp suy nghĩ của mình. Chỉ cần thuận theo dòng chảy và để mọi thứ tuôn trào ra trang giấy. Những nghệ sĩ Siêu thực thích phong cách viết này vì họ cảm thấy rằng nó dẫn đến một hình thức biểu đạt tự phát hơn, chân thực hơn.
Có thể thấy cách viết tự động trong bài thơ "Volt" của nhà thơ Tristan Tzara. Trước hết, không có dấu câu, điều này cho thấy người nói đang nói hoặc viết mà không dừng lại. Các câu chỉ chảy vào nhau. Không rõ ai đang theo sau ai. Ai đang nói? Ai đang theo sau? Ai đang bị theo sau? Bài thơ không thực sự giải thích. Hiệu ứng này cũng là kết quả của việc viết tự động. Xét cho cùng, không phải mọi thứ ta viết đều rõ ràng và dễ hiểu. Nhưng ta vẫn có cảm giác được điều gì đó đang được truyền tải, ngay cả như vậy.
Nhân vật trong bài thơ "Volt" đang theo dõi ai đó. "Tôi lang thang trên những con phố hẹp xung quanh bạn/ Trong khi bạn cũng lang thang trên những con phố rộng / Quanh một thứ gì đó khác." Nói cách khác, mọi người đều theo sau nhau: trong tình yêu, hoặc tham vọng, hoặc cảm hứng. Có điều gì đó đen tối và nguy hiểm về cảnh quan mà bài thơ mô tả. Những chiếc ô tô lao xuống "khoảng không đường", "Nước mắt chảy thành dòng", có một "đồng bằng cằn cỗi" và "những cám dỗ tận thế". Đây không phải là nơi hạnh phúc nhất, phải chăng!
..........
English version:
The inclined towers the oblique skies The cars descending into the void of roads The creatures along the country lanes Branches covered with hospitable virtues With leaf-shaped birds at their crowns You walk but another walks in your footsteps Distilling her spite through fragments of memory and math Enveloped by a robe almost mute the clotted sound of capitals
The seething city dense both with proud cries and lights Overflows the saucepan of its eyelids Tears flow away in streams of wretched population Over the sterile plain towards the smooth flesh the lava Of shadowy mountains the apocalyptic temptations Lost in the landscape of a memory and a darkened rose I roam the narrow streets around you While you too roam different wider streets Round something other.
Trước khi là một bài thơ, "Hòn Đá Làm Ra Lửa" đã là một hành vi kỳ lạ đối với chính khái niệm văn bản. Nó ra đời không trên trang giấy mà trong trí nhớ, giữa hai trại tù Gia Trung và Hàm Tân, suốt gần một thập niên, chỉ được ghi thành chữ lần đầu khi tác giả đã đặt chân tới Thụy Điển, theo tài liệu, nhưng tôi nghĩ, phải trước đó, khi ra khỏi tù hay đến chốn an toàn, phải ghi lại dù không được tề chỉnh như sau này. Phần đông người đọc dừng lại tắc lưỡi, xem đây là một chi tiết cảm động về nghị lực.
Tôi gặp lại anh bên kia ngọn núi / Trong nắng chiều sắp tối / Sao anh không về nhà? / Cha khóc con tàn hết mùa hoa / Mẹ chờ con khuyết cả trăng rằm / Nhà xưa em vẫn đợi / Đó không phải là nhà / Đó là cái còn lại / Của bóng tối. Khuôn mặt tôi không còn nữa / Bên kia cánh cửa: không ai chờ / Làng quê xa vời vợi: tiếng gà gáy sáng / Chó sủa đêm trăng.
Thưa Công nương mắt hương thu u uất
Mùa thu không trở lại trong đôi mắt đại dương xanh đầy móng vuốt
và, tiếng hát của nàng rắc hoa trên đường về quê cũ xa xăm.
Công nương không tin ư
Trận Mậu Thân xãy ra, đơn vị tôi đánh nhau với vc ngay sân nhà.Trận Gò Me Biên Hòa cách hậu cứ tôi chừng 500 mét. Thằng em tôi, thằng em… tôi vừa cưới vợ cho nó nằm lại cùng chiến trường. Vợ nó đón đơn vị quay về ngay tại sân cờ, nhìn quanh không thấy nó, mang cái bầu, xông thẳng đến tôi, không một giọt nước mắt đấm vào ngực tôi bình bịch ‘chồng em đâu, mất rồi hả anh hai’. Vâng đời lính là vậy, vợ lính là vậy.
Để hiểu một nhà thơ, đôi khi phải bắt đầu từ chỗ thân xác họ đã đi qua. Với Nguyễn Hoàng Nam, chỗ ấy là một chiếc ghe đánh cá ra cửa biển Rạch Giá. Trong bài Về nguồn (1990), ông ghi lại khoảnh khắc mửa thốc mật xanh trong hầm ghe, và chính trong cơn say sóng kinh hoàng đó, ký ức quê nhà bật lên: xứ Bưởi Biên Hòa, căn nhà số 66 đường Phan Đình Phùng nơi người mẹ mang ông trong lòng. Rồi đến trại tị nạn Songkhla ở Thái Lan với nắng cháy tóc và sứa lửa phỏng da, sau những bữa ăn cá sình rau vụn. Rồi đến Bolsa, đến tượng Phước Lộc Thọ, đến những bãi biển California.
Chúng tôi sử dụng cookie để cung cấp cho bạn trải nghiệm tốt nhất trên trang web của chúng tôi. Nếu tiếp tục, chúng tôi cho rằng bạn đã chấp thuận cookie cho mục đích này.