Lục Bát Mùa Thu

03/10/202408:42:00(Xem: 1850)

 

Khanh Trường Phục Sinh
KHÁNH TRƯỜNG - PHỤC SINH II (RESURRECTION II) # 3

 

 

Thu phai

 

Ngỡ

Ta phiêu dạt giữa đời

Cánh chim bạt gió

Cuối trời

Chân mây

Long lanh

Đọng giọt lệ này

Còn

Đôi mắt ướt

Vơi đầy

Quạnh hiu

 

Ngỡ chừng

Quên nhớ đã nhiều

Chỗ ngồi xưa

Phủ liêu xiêu

Lá vàng

Tháng năm

Bụi giũ bàng hoàng

Trong thênh thang lặng

Là mênh mang buồn

 

Gầy trơ

Từng ngón tay suông

Có gì đâu

Chỉ giọt mưa tuôn 

Ngậm ngùi

Gõ vào ký ức

Bời rời

Khua lên nỗi nhớ

Cho bồi hồi

Đau

 

Ngỡ

Trong tiếng gió

Xạc xào

Nghiêng chùng bóng thẫm

Một màu tà huy

Thời gian

Lắng lại những gì

Mà trên lối nhỏ

Xanh rì

Rêu phong.

 

 

 

Thu

Của kiếp người 

 

Đục trong

Một bến nước này

Nghiêng nghiêng

Giông

Bão

Đôi vai trĩu oằn.

 

Cũng đành

Một kiếp hổng nhan

Một mình

Với những đa đoan

… Một mình

Thấp cao

Từng bước chông chênh

Ai dìu em

Qua gập ghềnh

Trần gian

Ai ru em

Khúc muộn màng

Vỗ về em

Khúc lỡ làng

Xót xa.

 

Đôi khi

Ôm mặt khóc òa

Đứng trong mưa lạnh

La đà

Gió lay

Thèm nghe

Hơi ấm vòng tay,

Lời thì thầm…

Chỉ

Là đà gió bay.

 

Gỡ

Từng tờ lịch,

Cho ngày

Qua đi

Hết những đắng cay

Cõi đời

Qua đi

Bao nỗi ngậm ngùi

Để dòng nước mắt

Cùng người

Tiễn nhau

  

 

 

Thu tím

 

Về nghe

Bất chợt mùa thu

Có màu lá đổi

Rực ngang góc trời

Mây trắng

Trong mắt trông vời

Nhớ người áo trắng

Ơi,

Người xa xưa.

 

Vu vơ

Từng ngọn gió đùa

Vờn trong lặng lẽ

Tóc lùa

Trên vai

Chẳng còn xanh

Sợi vắn

Dài

Thời gian

Như bóng câu

Bay,

Cho dù…

 

Ừ thì

Vẫn là mùa thu

Sao nghe lạ lẫm

Mịt mù dấu xưa

Nhớ thương

Nhớ mấy cho vừa

Một màu thạch thảo

Nhẹ đưa

Trong chiều

Tím hoang vắng

Tím cô liêu

Rưng rưng

Từng đoá hoa

Man mác buồn

Lặng cùng

Muồn muộn chiều hôm

Nghe rất khẽ

Thoáng hương thơm

Bên thềm

Vườn hiu hắt

Bóng tối chườm

Có con đom đóm

Lạc loài bay ngang.

 

Với tay

Khêu ngọn lửa tàn

Sưởi cho ấm

Một chút buồn

Lênh loang


 
 

Biển Cát 

( SC )

Mưa Mưa Mưa Bên kia biển Mưa có lạnh không em Dúi ngón chân son dưới lòng cát ấm Cát sẽ phủ chân em Biển vuốt ve trìu mến Sóng nhấp nhô mưa đời
Tam quan mái lạnh người không tới | Cả ngôi chùa đứng khóc trong mưa.
Trước khi là một bài thơ, "Hòn Đá Làm Ra Lửa" đã là một hành vi kỳ lạ đối với chính khái niệm văn bản. Nó ra đời không trên trang giấy mà trong trí nhớ, giữa hai trại tù Gia Trung và Hàm Tân, suốt gần một thập niên, chỉ được ghi thành chữ lần đầu khi tác giả đã đặt chân tới Thụy Điển, theo tài liệu, nhưng tôi nghĩ, phải trước đó, khi ra khỏi tù hay đến chốn an toàn, phải ghi lại dù không được tề chỉnh như sau này. Phần đông người đọc dừng lại tắc lưỡi, xem đây là một chi tiết cảm động về nghị lực.
Tôi gặp lại anh bên kia ngọn núi / Trong nắng chiều sắp tối / Sao anh không về nhà? / Cha khóc con tàn hết mùa hoa / Mẹ chờ con khuyết cả trăng rằm / Nhà xưa em vẫn đợi / Đó không phải là nhà / Đó là cái còn lại / Của bóng tối. Khuôn mặt tôi không còn nữa / Bên kia cánh cửa: không ai chờ / Làng quê xa vời vợi: tiếng gà gáy sáng / Chó sủa đêm trăng.
Như đứa trẻ nghịch ngợm xé ra trên mặt nước những vòng tròn quấn quít trăm điểm mở
buổi chiều trở về từ cuộc đi bộ | nghe chút hương thơm của hoa jasmin | trắng như bạch ngọc
Cách tốt nhất để giết một con chim | là thế này: dù nó đang cãi cọ hay cất tiếng kêu, | bạn hãy viết rằng chú chim nhỏ đang hót.
Thưa Công nương mắt hương thu u uất Mùa thu không trở lại trong đôi mắt đại dương xanh đầy móng vuốt và, tiếng hát của nàng rắc hoa trên đường về quê cũ xa xăm. Công nương không tin ư
Chuỗi hạt mẹ nằm trên trang | Ý thờ sâu lắng miên man niệm tình
Trận Mậu Thân xãy ra, đơn vị tôi đánh nhau với vc ngay sân nhà.Trận Gò Me Biên Hòa cách hậu cứ tôi chừng 500 mét. Thằng em tôi, thằng em… tôi vừa cưới vợ cho nó nằm lại cùng chiến trường. Vợ nó đón đơn vị quay về ngay tại sân cờ, nhìn quanh không thấy nó, mang cái bầu, xông thẳng đến tôi, không một giọt nước mắt đấm vào ngực tôi bình bịch ‘chồng em đâu, mất rồi hả anh hai’. Vâng đời lính là vậy, vợ lính là vậy.
Để hiểu một nhà thơ, đôi khi phải bắt đầu từ chỗ thân xác họ đã đi qua. Với Nguyễn Hoàng Nam, chỗ ấy là một chiếc ghe đánh cá ra cửa biển Rạch Giá. Trong bài Về nguồn (1990), ông ghi lại khoảnh khắc mửa thốc mật xanh trong hầm ghe, và chính trong cơn say sóng kinh hoàng đó, ký ức quê nhà bật lên: xứ Bưởi Biên Hòa, căn nhà số 66 đường Phan Đình Phùng nơi người mẹ mang ông trong lòng. Rồi đến trại tị nạn Songkhla ở Thái Lan với nắng cháy tóc và sứa lửa phỏng da, sau những bữa ăn cá sình rau vụn. Rồi đến Bolsa, đến tượng Phước Lộc Thọ, đến những bãi biển California.
Môi thầm ngậm nửa lời kinh | Tưởng như thập giá ẩn mình trong sương | Trả lại Chúa những vết thương
tâm trí và khói lang thang | bên này, bên kia trái đất | hồ nước cạn, con đường ngập | cánh rừng tự thiêu | tảng băng bắc cực lững lờ
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.