quê núi

04/12/202419:04:00(Xem: 3531)

tặng người cùng quê

 

 

channuixanh
tranh Đinh Trường Chinh



Trèo lên đỉnh dốc, đời sẽ thấy

Một rừng. một núi. một quê hương

Thảng thốt kêu bầy, chim ông lão

Than già như cây cội tà dương

 

Quê ngồi dưới gốc buồn thiu thít

Cây tre còn trẻ đã phong trần

Lá bay theo gió mười phương thổi

Tản mạn như người buổi chiến tranh

 

Bùi ngùi quê khóc không thành tiếng

Đất đỏ tràn đi khắp nẻo đường

Nắng bụi mờ trời, mưa lầy đất

Con chó còi nhai miếng thảm thương

 

Gió chướng thổi qua cầu

Mười Bốn Cầu già như một bộ xương khô

Trăng soi lạnh cả vùng sông nước

Mạn ngược xuồng ai cố chống vô

 

Hoa cà phê đắng, hương nồng, ngất

Rỉa rúc vào tim thấm lịm hồn

Ruộng rẫy khuya về rêm tiếng suối

Mõ ốc cầm canh rợn cô thôn

 

Thấp thoáng gì trong màu quê cũ

Mà câu đồng thiếp quá ghê người

Bão đời kéo lê qua bão mắt

Ngằn ngặt lệ sâu cơn khóc ai

 

Quê khóc giùm anh hùng mạc vận

Mùa mưa gục ngã ngoài chiến trường

Mảnh hồn tan tác bay về núi

Sống lẩn vào trong nỗi tiếc thương

 

Quê xót giùm thân người con gái

Tháng Ba chết duối ở bên đàng

Chiều rơi một trái hoàng hôn

Tím tím mộ em vùi nông - Phước An

 

Quê tiếc giùm trăm con tình lỡ

Bàn tay cách trở mối tơ hồng

Này năm ba tấm u hờn mỏng

Vất vưởng trôi về đâu trống không

 

Hường rơi một nhánh trong câu hát

Nở trên môi nhỏ đỏ trái tim

Lấp lánh trôi dài theo nhịp phách

Rồi lạc về đâu mù bóng chim

 

Trầm Hương một đóa xanh hồn nhớ

Tóc thả huyền thơm sang nhà ai

Rồi cũng úa em trong hoài niệm

Trầm bay, hương đành chịu phôi phai

 

Mòn tay cố níu ân tình cũ

Mù bay con Yến tới xa xăm

Thủy xa, Phượng cũng thay màu áo

Hiu hắt lòng tôi bóng nguyệt nằm

 

Đi qua đường cũ, thăm nhà cũ

Rêu phong lỡ lói liếm hoen tường

Hoang phế nổi lên mùi ẩm mốc

Lòng ngăn giọt lệ nuốt vào trong

 

Đi qua đường cũ, thăm trường cũ

Cây đa trời đánh chết, không còn

Lối nào dẫn xuống khu Thiết Giáp

Ai dắt giùm lên núi Châu Sơn

 

Đi vô rừng rú, thăm mùa cũ

Đào hư một gốc kỷ niệm xanh

Tập thơ mối đùn cao nấm đất

Đau hoài trang giấy khóc thất thanh

 

Trèo lên cây sấu, cây cơm nguội

Hái xuống ăn cùng trái gió sương

Nhìn lung trên nẻo đời bay bụi

Kẻ còn, người mất, đứa tha hương

 

Khóc mùi một trận đi, quê núi

Vuốt ngực trôi xuôi những nỗi niềm

Trả hết về xưa cho gió xóa

Để hồn ươm vạt nắng vàng im

 

Trèo lên đỉnh dốc Đời sẽ thấy

Một rừng Một núi Một quê hương...

 

Phan Ni Tấn*

*

Phan Ni Tấn sanh năm 1946 tại Banmêthuột. Phụ thân là người Cần Giuộc, trôi dạt ra tới Huế, lập gia đình với cháu ngoại của viên Ngự Y triều Vua Khải Định, sau đó đưa gia đình lên Ban Mê Thuột sinh sống từ năm 1942. Bên ngoại thuộc dòng hoàng phái, bà Cố tổ Ân Phi Hồ Thị Chỉ là vợ chánh thức của vua Khải Định.

Phan Ni Tấn học trung học ở Banmêthuột (1960), Đại học Khoa Học Saigon (1969), và là sinh viên Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức (1970). Sau biến cố 1975, ông đi tù cộng sản tại Ban Mê Thuột cho đến năm 1978 thì vượt ngục trốn về Sài Gòn sống đời trôi sông lạc chợ rồi vượt biển đến Thái Lan vào năm 1979, cuối cùng định cư tại Toronto, Canada từ năm 1980. Sau gần 40 năm đi làm cho hãng xưởng, hiện nay ông đã nghỉ hưu nhưng vẫn không ngừng sáng tác.

Phan Ni Tấn sáng tác nhạc và thơ từ trước 1975: thơ có đăng trên tạp chí Văn và Phổ Thông, nhạc phổ biến trong giới học sinh sinh viên miền Nam. Ở hải ngoại, ông tiếp tục sáng tác ca khúc và hợp tác với nhiều tạp chí văn chương tiếng Việt. Ông đã xuất bản nhiều tập nhạc, CD nhạc, thơ, truyện ngắn và tùy bút.

Đây không phải một tuyển tập theo nghĩa gom góp cơ học, mà là một sự chắt lọc công phu từ mười lăm tập thơ đã xuất bản cùng hàng trăm bài thơ lẻ rải rác trên các tạp chí và trang mạng văn học hải ngoại, do người biên tập Michelle Đặng thực hiện. Đáng chú ý, ấn bản đặc biệt này hoàn toàn không có sự tham gia trực tiếp của tác giả trong quá trình tuyển chọn, khiến nó mang dáng dấp của một cái nhìn từ bên ngoài, một tổng kết khách quan về hành trình sáng tác của chính người đã viết ra chúng.
Khi buồn | chữ hóa đá | Khi nhớ | chữ mọc rêu | Khi yêu | chữ nhắc... Tôi làm thơ tức tôi thú tội.
Đá banh từ ngày tuổi nhỏ / chơi với mấy bạn sân ga / mỗi lần xe lửa còi hụ / là tan trận để về nhà / cùng bạn dợt banh góc phố / tiếng la, tiếng hú, tiếng cười / vang dậy tháng năm rất nhớ / kỷ niệm theo khắp chân trời / rồi tới một thời lặng lẽ / ôm banh về góc phô xưa / còn mấy bức tường là bạn / dội banh qua lại ban trưa
tôi ăn mặn tôi ngủ chay | một nửa tôi cũng là tu sĩ | một nửa kia tôi không biết là gì
đi qua và trở về | những cảnh đời hư ảo vô thường | thấm thía lời đạo sư và hiền giả
Lòng anh chờ em im ỉm khóa | Mặc nước trôi mặc sương rơi mặc cành lê trắng muộn | Ai biết người ở lại buồn hơn hay người ra đi buồn hơn? Ai có thể ngủ ngon khi lòng rưng nhớ
Tôi đục bỏ nóc nhà vì cô đơn cần lan rộng | nửa đêm | nó là bóng tối, và | một bầu trời.
Xấu đẹp các thứ ai cũng có | Chỉ là một việc làm đơn giản | Mở hết ra những cánh cửa
Mưa Mưa Mưa Mưa Mưa Mưa Bên kia biển Sonate Moonlight Piano, đôi tay gầy tham lam phủ không gian cô quạnh Dòng sông trăng chảy xuống đời giọt lệ từ bi
Iran là nơi của bom và thơ. Iran là nơi của phép màu tới trễ. Iran là nơi của một dân tộc bị giám sát thường trực. Nhà thơ Shams Langeroodi, 76 tuổi, vẫn ở thủ đô Tehran trong những tháng gần đây. Nhiều người quan sát thi ca Iran vẫn theo dõi các chuyển biến từ thủ đô Iran, hy vọng nhà thơ sẽ vẫn còn sống sót sau các cuộc đán áp biểu tình và sau những trận bom của Hoa Kỳ và Israel dội xuống. Nhà thơ Shams Langeroodi đã trải qua rất nhiều chuyển biến đau đớn của dân tộc Iran, và ngòi bút thi ca của ông là một trong những trang thơ đẹp nhất của đất nước đau khổ này.
Nhà thơ nữ Vladislava Simonova, 27 tuổi, nổi tiếng với thể thơ Haiku và được vinh danh tại Nhật Bản nhưng gần như vô danh ngay trên chính quê hương Ukraine của cô. Bản tin AFP ghi lời nhà thơ Simonova rằng trong nhiều năm, cô đã nghiên cứu các bậc thầy Nhật Bản — Basho, Buson, Issa — và sáng tác hơn 600 bài thơ Haiku. Một chiếc thang máy hay "trở chứng" dẫn lối đến căn hộ chung cư ở miền trung Ukraine của một nữ thi sĩ 27 tuổi — người được vinh danh tại Nhật Bản nhưng lại gần như vô danh ngay trên chính quê hương mình. Với mái tóc màu hồng, chiếc áo len màu tím hoa cà cùng đôi tất đồng màu, Vladislava Simonova kể lại câu chuyện về sự nghiệp đang thăng hoa của mình tại một đất nước cách quê nhà cô 7.800 km (4.850 dặm) — nơi mà cô chưa từng một lần đặt chân tới.
Trong trái tim em | Anh không bao giờ chết | Anh chỉ nằm xuống | gối đầu trên mảnh đất quê nhà
Ru chiếc võng nằm yên | Trời thở dài trưa nắng | Anh cúi nhặt bóng mình