Ù Mọi & Hoan Tứ

16/02/202518:56:00(Xem: 2955)

1000000188

ù mọi

 

Tôi ù mọi em vào trang sách

Hai ta ngơ ngáo giữa đường chuyền

Trăm con chữ đọng vào chân ý

Mình nắm được rồi chương thảo nguyên

  

Sao em nhỏ rí làm sao chẳng

Thấy được phương sinh giữa hằng hà

Em cười như thể tóc nghịch gió

Sợi vướng môi mềm sợi bay xa

  

Ta cứ loay hoay trong bí lục

Tới lúc kệ kinh thuộc hết rồi

Từ mọi nhỏ ù lên nhân dáng

Chạy trốn tìm một câu thơ rơi

  

Ừ nhỉ trời mưa ướt đạo bùa

Đạp thấu mạng rồi tuổi sum sê

Mai sau ướm hỏi tình đang nắng

Ù mọi vào nhau một buổi về

 

)(

h o à n g x u â n s ơ n

thứ sáu mười ba

tháng 9, 24

 

 

hoan tứ

 

Anh chẳng có gì ngoài tai mắt

Thứ đã điếc rồi thứ sắp đui

Nên không còn nghe đời dằn vặt

Thấy một bài thơ chín rệu mùi

 

Là em. trên tầng môi đỏ chót

Son nồng nàn như bông mộc miên

Anh mường tượng mùi hoa gạo thoảng

Nhẹ bay ngang choàng ấm nỗi niềm

 

Anh chẳng còn gì ngoài tưởng tượng

Ngắm đời quay bông vụ sái mùa

Em đâu đó dòng đời xuôi ngược

Từ nắng vàng rụng xuống trời mưa

 

Là khúc tình hai ta hợp tấu

Rất ngẫu nhiên thời tiết đùng đoàng

Anh không nghe em vờ không thấy

Vai lạnh sờn hết một trần hoan

 

hxs@sanjose

15 FEB 25

Mưa Mưa Mưa Bên kia biển Mưa có lạnh không em Dúi ngón chân son dưới lòng cát ấm Cát sẽ phủ chân em Biển vuốt ve trìu mến Sóng nhấp nhô mưa đời
Tam quan mái lạnh người không tới | Cả ngôi chùa đứng khóc trong mưa.
Trước khi là một bài thơ, "Hòn Đá Làm Ra Lửa" đã là một hành vi kỳ lạ đối với chính khái niệm văn bản. Nó ra đời không trên trang giấy mà trong trí nhớ, giữa hai trại tù Gia Trung và Hàm Tân, suốt gần một thập niên, chỉ được ghi thành chữ lần đầu khi tác giả đã đặt chân tới Thụy Điển, theo tài liệu, nhưng tôi nghĩ, phải trước đó, khi ra khỏi tù hay đến chốn an toàn, phải ghi lại dù không được tề chỉnh như sau này. Phần đông người đọc dừng lại tắc lưỡi, xem đây là một chi tiết cảm động về nghị lực.
Tôi gặp lại anh bên kia ngọn núi / Trong nắng chiều sắp tối / Sao anh không về nhà? / Cha khóc con tàn hết mùa hoa / Mẹ chờ con khuyết cả trăng rằm / Nhà xưa em vẫn đợi / Đó không phải là nhà / Đó là cái còn lại / Của bóng tối. Khuôn mặt tôi không còn nữa / Bên kia cánh cửa: không ai chờ / Làng quê xa vời vợi: tiếng gà gáy sáng / Chó sủa đêm trăng.
Như đứa trẻ nghịch ngợm xé ra trên mặt nước những vòng tròn quấn quít trăm điểm mở
buổi chiều trở về từ cuộc đi bộ | nghe chút hương thơm của hoa jasmin | trắng như bạch ngọc
Cách tốt nhất để giết một con chim | là thế này: dù nó đang cãi cọ hay cất tiếng kêu, | bạn hãy viết rằng chú chim nhỏ đang hót.
Thưa Công nương mắt hương thu u uất Mùa thu không trở lại trong đôi mắt đại dương xanh đầy móng vuốt và, tiếng hát của nàng rắc hoa trên đường về quê cũ xa xăm. Công nương không tin ư
Chuỗi hạt mẹ nằm trên trang | Ý thờ sâu lắng miên man niệm tình
Trận Mậu Thân xãy ra, đơn vị tôi đánh nhau với vc ngay sân nhà.Trận Gò Me Biên Hòa cách hậu cứ tôi chừng 500 mét. Thằng em tôi, thằng em… tôi vừa cưới vợ cho nó nằm lại cùng chiến trường. Vợ nó đón đơn vị quay về ngay tại sân cờ, nhìn quanh không thấy nó, mang cái bầu, xông thẳng đến tôi, không một giọt nước mắt đấm vào ngực tôi bình bịch ‘chồng em đâu, mất rồi hả anh hai’. Vâng đời lính là vậy, vợ lính là vậy.
Để hiểu một nhà thơ, đôi khi phải bắt đầu từ chỗ thân xác họ đã đi qua. Với Nguyễn Hoàng Nam, chỗ ấy là một chiếc ghe đánh cá ra cửa biển Rạch Giá. Trong bài Về nguồn (1990), ông ghi lại khoảnh khắc mửa thốc mật xanh trong hầm ghe, và chính trong cơn say sóng kinh hoàng đó, ký ức quê nhà bật lên: xứ Bưởi Biên Hòa, căn nhà số 66 đường Phan Đình Phùng nơi người mẹ mang ông trong lòng. Rồi đến trại tị nạn Songkhla ở Thái Lan với nắng cháy tóc và sứa lửa phỏng da, sau những bữa ăn cá sình rau vụn. Rồi đến Bolsa, đến tượng Phước Lộc Thọ, đến những bãi biển California.
Môi thầm ngậm nửa lời kinh | Tưởng như thập giá ẩn mình trong sương | Trả lại Chúa những vết thương
tâm trí và khói lang thang | bên này, bên kia trái đất | hồ nước cạn, con đường ngập | cánh rừng tự thiêu | tảng băng bắc cực lững lờ