Lửa, Thấy Từ Stochkholm

20/06/202500:00:00(Xem: 2803)

Hình để Cường dùng cho web only với bài thơ


Thomas von Vegesack* quẹt diêm
Lửa bếp, Lửa đèn. Lửa lò sưởi
Ngọn nến bữa ăn chiều lung linh
Quặn lòng quê xa, bạn tù tội

Phương Đông: Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ
Quê ta, bao nhiêu ngũ hành sơn
Bếp ai tro lạnh chiều nay nữa
Lửa gì đâu. Lửa tủi, lửa hờn

Nâng ly rượu thơm, bọt dàn dụa
Tưởng thấy dòng thác xưa vật mình
Ghềnh đá trơ vơ sùi bọt nhớ
Thơ chết oan đầy của tử sinh

Nắm xương ai gửi rừng Xuyên Mộc**
Ngọn đèn nào leo lét gió mưa
Cơm kêu. Kẻng gõ. Miệng khô khốc
Con đóm đêm nao vẫn vật vờ

Bạn ta nữa. Chân núi Mây Tào***
Mười ba năm rừng sâu sức cạn
Chiều khổ sai, khoai sắn ra sao
Lửa nào giữ cho lòng đủ ấm

Tha lỗi nhé. Miếng ngon nuốt nghẹn
Vui riêng cứng lưỡi, thốt không đành
Cháy mãi cùng ta vậy, nghe nến
Ngọn lửa anh em ngày tái sinh.

Stockholm. 9.1988

*Thomas von Vegesack, nhà văn Thụy Điển, nguyên chủ tịch văn bút thế giới,
chủ tịch điều hành Ủy ban quốc tế các nhà văn vị cầm tù.

**Nhà văn Nguyễn Mạnh Côn chết tại trại khổ sai Xuyên Mộc.
***Nhà văn Thảo Trường bị giam tại trại khổ sai Z30D, Hàm Tân.

Em Lễ Chùa Này | gác chuông chim đậu | tan trường lối Ngọ | tình rụng nơi đâu
đời sống này vượt khỏi tay | thành phố này vượt khỏi chân | và những quyển sách nữa | vượt tầm nhìn | em biết không
Tháng 5, cũng có thể đọc là tháng năm, một cách đọc để kéo chuỗi thời gian cùng tham dự để mở ra ký ức. Một thời của chúng ta, một thời của Phan Tấn Hải. Với ba bài thơ ngắn cho ta thấy một chặng dài trăn trở của tâm thức đi tìm chân hạnh phúc. Từ ước muốn ngây thơ ở bài đầu tiên, đến đợi chờ cùng một lời nguyện ở bài hai, và rồi, “Tôi năn nỉ ký ức tôi”, bi kịch của ý thức con người trước cuộc phá sản nhân tính.
Gió Kè Sông Sàigon Xích sắt nó lăn trên bờ sông Sài Gòn lồng lộng gió Xích sắt nó nghiến vào chỗ hai ta ngồi với nhau đêm qua Lục bình quấn quýt trôi trong đêm như đôi ta sợ lạc dòng Sao mình lại chọn chỗ này để ngồi hay còn chuyện gì khác
Chiếc bóng của người chết cho quê hương | Không bao giờ khuất lấp | Tháng Tư vững như tảng đá vọng phu
Trích thi tập “Tháng Tư, Lính Không Cần Hớt Tóc”, thơ Nguyễn Phúc Sông Hương. Ông sinh năm 1941. Năm 1966, với bút hiệu Thái Luân, từng xuất bản tập “Vùng Tủi Nhục”, thơ phản chiến, có bài “Bi Hài Kịch”, Phạm Duy phổ nhạc trong “Tâm Phẫn Ca”. Sau thảm cảnh người dân Huế bị CS chôn sống trong dip Tết Mậu Thân, nhiều tỉnh thành làng xóm miền Nam bị tàn phá vì chiến tranh do CS gây ra, Bút hiệu Thái Luân đã đi vào bóng tối. Từ đó, Nguyễn Phúc Sông Hương thực sự ra chiến trường.
ngỡ những bức thư giữa trang sách trên kệ | lả tả rơi như muôn cánh bướm nhạt nhòa
Có những lúc không còn gì bám víu | Thì ngậm ngùi trăn trở hết đường tay
tháng Tư uống mấy cho vừa | mời nhau ly rượu chiều mưa xứ người
đừng để tôi quên tháng tư năm ấy | và những tháng tư nó kéo theo sau
sau cùng | trăng đâu có làm ai lóa mắt chỉ âm thầm mà sáng | làm người Mỹ gốc Việt | cũng vậy
Như trẻ con đêm hôm sợ ông ba bị | Tôi co ro nấp góc tối mình | Nhớ mẹ ngồi đầu giường vấn tóc đẹp | Khuôn mặt rạng ngời Quan Thế Âm
Có người là con của bà Mẹ | Có người là Mẹ của đứa con | Có người chồng hãy còn rất trẻ