Lửa, Thấy Từ Stochkholm

20/06/202500:00:00(Xem: 2805)

Hình để Cường dùng cho web only với bài thơ


Thomas von Vegesack* quẹt diêm
Lửa bếp, Lửa đèn. Lửa lò sưởi
Ngọn nến bữa ăn chiều lung linh
Quặn lòng quê xa, bạn tù tội

Phương Đông: Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ
Quê ta, bao nhiêu ngũ hành sơn
Bếp ai tro lạnh chiều nay nữa
Lửa gì đâu. Lửa tủi, lửa hờn

Nâng ly rượu thơm, bọt dàn dụa
Tưởng thấy dòng thác xưa vật mình
Ghềnh đá trơ vơ sùi bọt nhớ
Thơ chết oan đầy của tử sinh

Nắm xương ai gửi rừng Xuyên Mộc**
Ngọn đèn nào leo lét gió mưa
Cơm kêu. Kẻng gõ. Miệng khô khốc
Con đóm đêm nao vẫn vật vờ

Bạn ta nữa. Chân núi Mây Tào***
Mười ba năm rừng sâu sức cạn
Chiều khổ sai, khoai sắn ra sao
Lửa nào giữ cho lòng đủ ấm

Tha lỗi nhé. Miếng ngon nuốt nghẹn
Vui riêng cứng lưỡi, thốt không đành
Cháy mãi cùng ta vậy, nghe nến
Ngọn lửa anh em ngày tái sinh.

Stockholm. 9.1988

*Thomas von Vegesack, nhà văn Thụy Điển, nguyên chủ tịch văn bút thế giới,
chủ tịch điều hành Ủy ban quốc tế các nhà văn vị cầm tù.

**Nhà văn Nguyễn Mạnh Côn chết tại trại khổ sai Xuyên Mộc.
***Nhà văn Thảo Trường bị giam tại trại khổ sai Z30D, Hàm Tân.

Mưa Mưa Mưa Bên kia biển Mưa có lạnh không em Dúi ngón chân son dưới lòng cát ấm Cát sẽ phủ chân em Biển vuốt ve trìu mến Sóng nhấp nhô mưa đời
Tam quan mái lạnh người không tới | Cả ngôi chùa đứng khóc trong mưa.
Trước khi là một bài thơ, "Hòn Đá Làm Ra Lửa" đã là một hành vi kỳ lạ đối với chính khái niệm văn bản. Nó ra đời không trên trang giấy mà trong trí nhớ, giữa hai trại tù Gia Trung và Hàm Tân, suốt gần một thập niên, chỉ được ghi thành chữ lần đầu khi tác giả đã đặt chân tới Thụy Điển, theo tài liệu, nhưng tôi nghĩ, phải trước đó, khi ra khỏi tù hay đến chốn an toàn, phải ghi lại dù không được tề chỉnh như sau này. Phần đông người đọc dừng lại tắc lưỡi, xem đây là một chi tiết cảm động về nghị lực.
Tôi gặp lại anh bên kia ngọn núi / Trong nắng chiều sắp tối / Sao anh không về nhà? / Cha khóc con tàn hết mùa hoa / Mẹ chờ con khuyết cả trăng rằm / Nhà xưa em vẫn đợi / Đó không phải là nhà / Đó là cái còn lại / Của bóng tối. Khuôn mặt tôi không còn nữa / Bên kia cánh cửa: không ai chờ / Làng quê xa vời vợi: tiếng gà gáy sáng / Chó sủa đêm trăng.
Như đứa trẻ nghịch ngợm xé ra trên mặt nước những vòng tròn quấn quít trăm điểm mở
buổi chiều trở về từ cuộc đi bộ | nghe chút hương thơm của hoa jasmin | trắng như bạch ngọc
Cách tốt nhất để giết một con chim | là thế này: dù nó đang cãi cọ hay cất tiếng kêu, | bạn hãy viết rằng chú chim nhỏ đang hót.
Thưa Công nương mắt hương thu u uất Mùa thu không trở lại trong đôi mắt đại dương xanh đầy móng vuốt và, tiếng hát của nàng rắc hoa trên đường về quê cũ xa xăm. Công nương không tin ư
Chuỗi hạt mẹ nằm trên trang | Ý thờ sâu lắng miên man niệm tình
Trận Mậu Thân xãy ra, đơn vị tôi đánh nhau với vc ngay sân nhà.Trận Gò Me Biên Hòa cách hậu cứ tôi chừng 500 mét. Thằng em tôi, thằng em… tôi vừa cưới vợ cho nó nằm lại cùng chiến trường. Vợ nó đón đơn vị quay về ngay tại sân cờ, nhìn quanh không thấy nó, mang cái bầu, xông thẳng đến tôi, không một giọt nước mắt đấm vào ngực tôi bình bịch ‘chồng em đâu, mất rồi hả anh hai’. Vâng đời lính là vậy, vợ lính là vậy.
Để hiểu một nhà thơ, đôi khi phải bắt đầu từ chỗ thân xác họ đã đi qua. Với Nguyễn Hoàng Nam, chỗ ấy là một chiếc ghe đánh cá ra cửa biển Rạch Giá. Trong bài Về nguồn (1990), ông ghi lại khoảnh khắc mửa thốc mật xanh trong hầm ghe, và chính trong cơn say sóng kinh hoàng đó, ký ức quê nhà bật lên: xứ Bưởi Biên Hòa, căn nhà số 66 đường Phan Đình Phùng nơi người mẹ mang ông trong lòng. Rồi đến trại tị nạn Songkhla ở Thái Lan với nắng cháy tóc và sứa lửa phỏng da, sau những bữa ăn cá sình rau vụn. Rồi đến Bolsa, đến tượng Phước Lộc Thọ, đến những bãi biển California.
Môi thầm ngậm nửa lời kinh | Tưởng như thập giá ẩn mình trong sương | Trả lại Chúa những vết thương
tâm trí và khói lang thang | bên này, bên kia trái đất | hồ nước cạn, con đường ngập | cánh rừng tự thiêu | tảng băng bắc cực lững lờ