thơ Lê An Thế

13/03/202614:32:00(Xem: 1556)
27
Minh họa Duy Thanh

 

1.

ra đường

ngẩng lên

hái xuống

một ngày hạnh phúc.

 

2.

Tôi là công dân của một bài thơ.

 

3.

Một chữ

là đủ

chỗ về.

 

4.

Tiếng khóc lúc chào đời

là bản án

 

treo vào cổ vào da

pha vào xương vào thịt

 

tôi và nước mắt

cũng chung thân

 

giữa những ngõ ngách của thành phố

của quá khứ của tình yêu của chữ

 

tôi lênh đênh tôi lênh đênh

trên con thuyền Noah

 

đến nay

vẫn chưa thấy bến.

 

5.

Khi nhớ em

tôi

phơi một nắng

sân buồn sân lan vô tận

 

thành phố này nhiều nắng nhiều mưa

vỉa hè của mưa của nắng

tôi mượn tạm đi qua

ngược chiều thiên hạ

thành phố nhiều mặt lạ

 

mỗi ngày tôi xa

mỗi ngày tôi một nắng.

 

6.

Tôi

và thành phố này

cả hai

vẫn sống

như có thực.

 

7.

Quay lại

tìm mình

vẫn không hiểu

sao tôi lại phí phạm ra đời.

 

8.

Năm trước mưa vẫn là mưa

năm nay mưa vẫn là mưa

tôi học điều vình cửu

khi nhặt những hạt mưa rơi

để rửa tội cho mình.

 

9.

Khi yêu

tôi hay đói chữ

yêu và chữ

thành gánh nặng cho thơ.

 

10.

Trang giấy

rộng dần

 

đủ chỗ tôi

và chữ

 

hoặc rong chơi

hoặc vẽ lại cuộc đời.

 

11.

Đặt được chữ trong lòng bàn tay

bạn đã là thi sĩ.

 

12.

Những ngón tay rất dịu

chạm tôi

tôi không ngờ thịt da tôi không có đáy.

 

13.

Bất cứ chỗ nào của thịt da

đều có vết nứt

 

bất cứ nỗi buồn nào tới

tôi cũng thụ thai

 

đó là những khoảng trống

không nuốt trôi

không nhả hết

 

điều còn lại từ 2011 đến nay

tôi hay vác ra đường buối tối

và đóng bóng mình vào cột điện

khi thành phố này đang là một bàn nhậu khổng lồ.

 

3-2026

Ta bụi bặm bầm xác dập thân / Nên thương câu thiên địa phong trần / Em hồng nhan còn ta bạt mạng / Ham mần thơ chí tử nên…đần
Ngoài kia chim cất tiếng / Ngoài kia lá rừng bay / Không gian ôm vũ trụ / Thơ ôm thơ trong tay
Tôi quen biết nhị vị thi sĩ Cao Mỵ Nhân (Hoa Kỳ) và Trịnh Cơ (Pháp Quốc) cũng đã được mấy năm, khởi đầu từ trên những diễn đàn Đường Thi xướng họa. Tôi rất quý mến và ngưỡng mộ họ, và tôi cũng biết, cả hai đều từng là quân nhân Việt Nam Cộng Hoà, là anh kiệt và anh thư phục vụ nước nhà từ trước 1975 cho đến ngày tan đàn xẻ nghé.
Nhà thơ Huy Tưởng đã bắt đầu tập thơ mới "Đêm vang hình tiếng chuông" của mình bằng một bài thơ lục bát phá cách rất hàm súc.
Người đàn ông / đứng trên balcon hút thuốc / anh ta thả những cái vòng tròn khói
Cứ chia hai phe tàn hại, nguyền rủa nhau, chém thương tích vào hồn dân tộc. Yêu nước nào sao không yêu nước mình?
Còn chút lương tâm nào không, sao nhởn nhơ, hưởng thụ, bỏ thí dân tộc? Học nhiều làm gì, chỉ phát huy ganh tị, muốn hơn người, sắc diện âm u, chải lóc, mang gương, thắt cà vạt, gọi là nhân phẩm?
Tháng lạnh, / Em chưa về cuối đông / Hỏi thăm lối sỏi, bụi gai hồng / Sỏi ngây ngô gội sương đêm trắng / Mai, thấy trồi xanh ngọn cỏ bồng
Con đường ven biển, mưa sa / Bỗng dưng thổn thức nhạt nhòa lệ rơi!? / Mưa hay lệ, / Hỡi tôi ơi! / Vầng trăng ngày ấy đầy vơi nỗi niềm / Đã xa? Hay vẫn hiện tiền? Đã quên?
Chuyện ngày xưa tự bến bờ / Phải rằng ngẫu nhĩ tình cờ gặp nhau / Mở ra một bến giang đầu / Khởi dòng tộc Việt quả bầu trăm con
Em mất một trăm ngày / Hương còn đầm khăn áo / Chị tung áo khắp nhà / Nỗi buồn không tiếng động
Không có khoảng cách không có khẩu trang lồng ngực không thở tim vẫn bang hoàng Tóc xanh tóc trắng nghiêng đầu vào nhau tuổi trẻ tuổi hạc cùng chia sợi sầu
Tôi vàng không trắng được đâu / cha con cháu chắt cũng màu đó thôi / trắng làm sao được hỡi ơi / vàng đen cũng đức Chúa Trời thai sinh