Tháng Mười

31/10/202613:57:00(Xem: 219)
Sương bên ngoài Khung Cửa Ann Phong (002)
Minh họa: Tranh Ann Phong.

 

Tháng Mười là tháng của thơ ca.

On the last day of the world

I would want to plant a tree

 

What for

Not for the fruit

 

Trong ngày cuối cùng của thế giới

Tôi muốn trồng một cái cây

 

Để làm gì

Không phải vì trái để ăn

W.S. Merwin.


Thế thì để làm gì?

Tay đỏ thêm hương đã tàn, khuyên ngọc leng keng đã tắt, mà bạn còn nấn ná quay lui.

Thơ mở một cánh cửa. Nếu bạn đóng nó lại, bạn sẽ đóng cửa một thế giới mà ngày mai có thể mang tới cho bạn món quà bất ngờ. Sống ắt là nguy hiểm. Con người không thể sống mà không chấp nhận nguy nan. Con người không thể yêu nhau mà không phạm lỗi. Bạn không thể trở lại nếu bạn không có quyền rời bỏ. Một dân tộc không thể thực lòng yêu một lý tưởng nếu không có quyền từ chối lý tưởng ấy. Nếu không, đó là tình yêu nô lệ. Hãy nhớ rằng không khí đi vào lồng ngực bên phải nhiều hơn bên trái, nơi có trái tim. Bạn phải dành chỗ cho trái tim, và hãy nhớ, đời sống là để sống. Em là để cho anh nghĩ tới mỗi ngày. Hãy ngồi xuống bên cạnh một người, hỏi xem điều tệ hại nào đã xảy ra với anh ta, trong bữa tiệc buổi tối, khi anh ra về sớm hơn mọi người. Tập nhìn thấy sự yếu đuối của người ấy. Hãy đứng lại: biết đâu đó là cuộc gặp gỡ cuối cùng của bạn với anh ta.

Tháng Mười, 1986, tại Reykjavík, thủ đô Băng Đảo, Tổng thống Reagan và Tổng Bí thư Gorbachev có cuộc gặp lịch sử, đặt nền móng cho giải trừ hạt nhân. Ba mươi năm trước đó, cuộc nổi dậy mùa thu Hungary, 1956, lãng mạn và bi thảm, thất bại. Những người có phẩm chất cao quý và yêu tự do, họ bao giờ cũng thuộc số ít, trước hết sẽ thua trận. Bọn nịnh bợ quyền lực thừa cơ nổi lên khắp nơi, thời nào cũng vậy, bây giờ cũng vậy.

Khi còn bé, tôi được nghe đọc trên đài phát thanh Mẹ Việt Nam cuốn hồi ký dịch từ tác phẩm của một sinh viên người Hungary. Nếu tôi nhớ không lầm, đó là cuốn “Nhật ký sinh viên” của Laszlo Beke, một sinh viên mỹ thuật tham gia cuộc nổi dậy Budapest chống lại lực lượng xe tăng của Liên Xô, sau đó trốn được sang phương Tây cùng với vợ.

Từ Praha về Budapest

 

Nắng chiều thu tha thiết hàng dương

 

Huy Cận, Hà Nội, 1958.

 

Hãy cho anh khóc bằng mắt em

 

Những cuộc tình duyên Budapest

 

Anh một trái tim em một trái tim

 

Chúng kéo đầy đường chiến xa đại bác.

 

Thanh Tâm Tuyền, Sài gòn, tháng 12. 1956

Tháng Mười, lễ Tạ ơn Canada. Ở Hoa Kỳ một tháng rưỡi sau, vì mùa gặt ở Canada đến sớm hơn. Buổi tối, cả nhà ngồi bên lò sưởi, quanh bữa tiệc gà tây quay chín thơm lừng, trong mùi rượu vang. Tôi nói thầm trong lòng mình hai chữ Tạ ơn. Tạ ơn một đất nước đã cưu mang người Việt trên đường lưu vong. Con đường lưu vong ấy bây giờ vẫn tiếp tục, trong những hình thức khác. Mùa thu, có một vết cắt sâu trên ngón tay út của em. Trái hay phải? Anh không nhớ chuyện gì xảy ra, một tai nạn, có lẽ, hay nỗi buồn bất chợt. Nhiều năm sau, anh chỉ còn nhớ vết thương ấy. Lưu vong không phải là rời bỏ. Lưu vong là hình thức tồn tại nguyên vẹn nhất của những kẻ bị chấn thương. Lưu vong là sự cưu mang, gìn vàng giữ ngọc.  Những mùa lễ lạt trong đời ta như những bài thơ truyền cảm hứng. Đây là lúc lá đổi màu, chim bay về Nam, nông dân thu gặt, trái đỏ trên cành, ánh sáng chiếu nghiêng qua sương qua cái lạnh đầu tiên, tử đinh hương tàn, tình nhân chia tay, tuổi già đến. Tháng Mười, tôi đọc Robert Frost, Xuân Diệu, Louise Glück, Cung Trầm Tưởng. Và Mary Oliver:

When death comes
like the hungry bear in autumn
when death comes and takes all the bright coins from his purse

Khi cái chết đến bất thần
Như con gấu đói lượn gần mùa thu
Khi cái chết đến bất ngờ
Lộn trong túi áo đồng xu cuối cùng

Nó lấy đồng xu cuối cùng ra để làm gì?

Để mua bạn. Đời sống của bạn. Người yêu của bạn. Ở quê tôi, tháng Mười mưa nhiều, nước sông dâng cao, trời thấp xuống, cánh đồng im vắng sau mùa gặt. Sếu và diệc bay về từng đàn. Cá diếc, cá bóng, cá chép nhảy lên theo con nước. Mọi vật cùng lúc chín đi và tàn lụi. Cũng như con người. Ngày 10 tháng 10 năm 1954, lực lượng Việt Minh tiếp quản Hà Nội. Bảy mươi năm sau, hồ Gươm cũng thay đổi. Quân đội Pháp rút khỏi thành phố, theo những thỏa thuận của Hiệp định Genève. Đây là chìa khóa lịch sử: những người kháng chiến trở về trong chiến thắng, và những người rời bỏ, góp phần tạo nên miền Nam tự do. Sự phân tranh của dân tộc bắt đầu. Các thỏa thuận quy định thời hạn 300 ngày cho việc di chuyển lực lượng ở Hải Phòng, trong khi thời hạn dành cho Hà Nội là 80 ngày. Lịch sử chuyển động: hàng trăm ngàn người rời bỏ Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, lên tàu về Nam, đến vùng đất lạ, trong khi nhiều người khác từ miền Nam tập kết ra Bắc. Cuộc chia ly của anh và em bắt đầu. Trên đài phát thanh Sài Gòn, chương trình Nhạc chủ đề, phần Tình ca Việt nam của Nguyễn Đình Toàn, 1973, tôi nghe:

Hà Nội ơi những ngày vui đã ra đi

Hoàng Dương viết năm 1953. Tất nhiên nó không thể được hát ở miền Bắc thời đó. Nhưng nó được nuôi dưỡng ở miền Nam suốt hai mươi năm, cũng như toàn bộ âm nhạc tiền chiến. Bạn tôi, học trò của nhạc sĩ, chơi cello rất hay bài này. Trước đó, tôi đọc Đêm giã từ Hà Nội của Mai Thảo:

Phượng nhìn xuống vực thẳm. Hà Nội ở dưới ấy.

Từ chỗ anh đứng, Phượng nhìn sang bờ đường bên kia. Những tảng bóng tối đã đặc lại thành khối hình. Từng chiếc một, những hàng mái Hà Nội nhòa dần. Phượng nhìn lên những hàng mái cũ kỹ đau yếu ấy, giữa một phút giây nhòe nhạt, anh cảm thấy chúng chứa đựng rất nhiều tâm sự, rất nhiều nỗi niềm. Những tâm sự câm lặng. Những nỗi niềm nghẹn uất. Của Hà Nội. Của anh nữa.

Tôi đọc đi đọc lại đoạn mở đầu, cho đến khi thuộc lòng. Tôi thuộc nó đến bây giờ, cũng như năm lên chín tuổi, tôi đã từng thuộc bài tập đọc của Thanh Tịnh, bài Tôi đi học:

Hàng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường. Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cánh hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.

Từ lúc đọc Thanh Tịnh đến lúc đọc Mai Thảo, khoảng cách là tám năm. Thật kỳ lạ, trong một đất nước nhỏ bé, trong một thành phố mà hai người từng quen biết nhau, chia tay không kịp tiễn biệt, mỗi người đi một đường, cùng nghe nhạc trong một thành phố, mà chẳng bao giờ gặp lại nhau nữa. Mọi chia tay đều vĩnh biệt.

Khi anh gặp lại em, em không còn là em nữa.

Đó là ý nghĩ của tôi trong chuyến trở về Sài Gòn đầu tiên. Đôi khi có người tin rằng kẻ hãm hiếp mình cũng có những tính cách đáng yêu mà người xưa không có. Một dân tộc cũng thế. Đôi khi con người cúi mặt xuống để sống. Nhưng bạn tin rằng đời sống có mục đích. Ngày 12 tháng 10, 1492, Columbus tìm ra châu Mỹ. Tháng Mười, tôi mất Du Tử Lê. Ngày 14 tháng 10 năm 2025, Doãn Quốc Sỹ mất ở California, sau 102 năm làm người, làm nhân chứng cho một thời đại nhiễu nhương.

Tháng Mười không có tri kỷ.

Đi xa một tuần, khi tôi trở về, lá phong ngoài đường bay vào sân, thùng thư ngập thư từ. Tôi dùng chiếc kéo nhỏ mở những phong bì đựng sách báo, nhớ hình ảnh ba tôi ngày trước, ông dùng một con dao mỏng để rọc khi mua sách mới, giấy thơm, bạn úp mặt vào. Buổi chiều, nhiệt độ xuống thấp, băng đóng trên cửa, trên những lối đi trơn trượt. Một người hàng xóm ngã ngoài đường, gãy xương cổ tay phải.

Trăng lên, sáng bạc, sắc thay đổi. Hôm nào bạn buồn, trăng cũng buồn, hôm nào bạn vui, trăng cũng vui. Màu của trăng là màu của tâm trạng. Gánh nặng thế gian trên vai bạn, hôm nào được cất đi, bạn thấy lòng nhẹ nhõm. Hôm ấy, rơi thêm một chiếc lá nữa. Trên căn gác cũ, với chiếc cầu thang bằng sắt ọp ẹp nằm ngoài trời, những ngày chúng tôi mới đến Canada, tôi xách những gói hàng đi chợ về cho những người bạn gái cũng mới đến như chúng tôi. Một cô gái hai mươi mốt tuổi, áo đầm hoa, ngồi bệt trên sàn nhà, cúi mở băng cassette nhạc Ngô Thụy Miên. Thời đó, âm nhạc ấy thật lạ. Cô gái quay mặt lại trong đời sống của tôi, một lần duy nhất.

Mùa chim di trú. Đó là sự tạm biệt với tiếng ồn, là lắng nghe chiếc bóng đời mình. Mưa bóng mây. Tôi thích những đám mưa bóng mây ở quê nhà. Trời đang nóng hạn, hệt như ở California mùa này, có khi đến 39 độ, thế mà thoắt cái, mưa đổ ào, như hối hận. Thế rồi có những ngày gió lạnh, ngoài Bắc gọi là gió bấc, buồn như tiếng đàn tỳ bà của người ly biệt trên bến Tầm Dương. Đôi khi bạn có cảm giác khó chịu, như buồn bực hay lo lắng, đừng nghĩ đó là cảm xúc xấu. Chúng chính là dấu hiệu báo cho bạn biết một tình huống cần được tìm hiểu và đáp ứng. Cuối tháng chín, có những ngày tôi mệt mỏi. Nửa đêm thức dậy không ngủ lại được. Quên lời hẹn. Khi tôi nhận ra thì chưa phải đã quá muộn, nhưng cũng không còn sớm. Công việc là bổn phận của mỗi người, là niềm đam mê của người may mắn. Nhưng nếu không biết cách dừng lại, công việc dìm bạn xuống dòng nước xoáy của nó, cuốn trôi mất. Bạn đi chậm lại, từng bước nhỏ. Dành trọn một ngày nghỉ, tắt điện thoại. Bạn một mình. Nằm xuống sàn nhà, không chăn, không gối. Chạy bộ xuyên rừng. Bạn muốn làm gì cũng được. Từ bỏ chủ nghĩa toàn hảo, tập chấp nhận sự không toàn hảo. Không cố gắng làm vui lòng người khác. Chấp nhận rằng có người bạn đã làm họ thất vọng. Mặc kệ. Buông bỏ cảm giác thất bại. Bây giờ, bạn trở về sau cơn bão, nằm im sau cửa. Buồn. Vui. Im lặng. Giờ đây bạn chỉ có một mình. Lương tri bạn sẽ đánh thức bạn dậy khi đến giờ.

Biết là giai nhân quân tử thì khó gặp. Bạn vẫn không ngừng ngạc nhiên về tâm địa nhỏ mọn của con người. Nhưng này, trăng Trung thu đã qua, mùa chơi đèn lồng đã hết mà bạn cứ tìm cách trở lại với ấu thơ làm gì. Người xưa rủ nhau lên núi, ăn Tết Trùng Cửu. Thời niên thiếu của tôi, trăng vẫn thanh, gió vẫn mát mà con người không biết, không tìm, không nhận ra. Quý nhân tới trước mặt mà bạn quay đi. Tấm lòng vàng son đi qua cửa mà mình không nhìn thấy. Xung quanh ta, đầy kẻ vô ơn. Mùa này ở miền Bắc có trái hồng, nghe bảo hồng giấy là ngon nhất. Ở Trung, cuối mùa bưởi và cam, nhưng bưởi và cam ngon nhất cũng vào mùa này. Ở miền Nam có ổi, mãng cầu, bưởi da xanh, dừa và chuối. Bây giờ mùa sầu riêng và măng cụt đã qua, nhưng tôi vẫn còn thấy chúng được bán trong chợ đâu đó. Quê tôi không trồng được hồng, nhưng trồng được chuối ba tiêu, mùa này chuối thơm, đu đủ ngọt như đường. Tháng Mười có bưởi thanh trà từ Nguyệt Biều trong Huế, thanh trà từ Nhan Biều, Quảng Trị. Có cam Hải Phú, chuối Hướng Hóa. Mùa mưa đã tới, nước ao hồ dâng lên. Mùa của cá rô, cá tràu, cá bóng, cá đối. Làng tôi ở ven sông, gần nhiều hồ nước.

Một người đánh cá ven sông bắt được một con cá hanh lớn, mang lên bán cho mẹ tôi, vì mẹ vẫn thường dặn họ làm như vậy. Khi mổ bụng cá làm thịt, mẹ tôi tìm thấy trong ruột nó một chiếc nhẫn bạc. Thời ấy, người ta đeo nhẫn vàng. Những người giúp việc bu quanh, bảo rằng đó là chiếc nhẫn cưới. Mẹ tôi cầm lên, ngắm nghía thật lâu, rồi bảo đây là chiếc nhẫn hỏi. Một người hôn thê hoặc hôn phu nào đã ném chiếc nhẫn ấy xuống sông, xuống biển, vì sao, tôi không thể biết. Những cuộc hôn nhân nào đã tan vỡ, những tình yêu nào đã được tìm thấy lại, làm sao bạn biết. Chim trên trời bay xuống đất, ngậm hạt thóc rồi bay đi, vù một cái để lại dấu vết của chúng trong ký ức. Mùa tựu trường, học sinh bận rộn, nhưng ở thôn quê, khi lũ dâng lên, chúng tôi được nghỉ học. Đó là lúc chim chèo bẻo nhảy theo chân trâu bò trên thửa ruộng vừa gặt xong, tìm hạt cỏ, hạt kê, giun đất, mối, châu chấu. Tôi cũng lò dò chạy theo chúng. Năm mười một tuổi, sau khi thi đỗ thủ khoa vào trung học Nguyễn Hoàng, tôi được ba tôi thưởng một chuyến đi với mẹ tôi thăm các dì tôi ở Huế và Đà Nẵng. Hồi ấy xe đò đã có loại bán vé, chỗ ngồi tươm tất. Đường xe lửa vẫn còn, nhưng không chạy được. Qua đèo Hải Vân, tôi thấy yêu đất nước mình biết bao, tôi nghĩ, tôi sẽ viết về nó. Thế mà, cho đến giờ, tôi chưa viết gì về chim chóc và cây lá ở Hải Vân. Rừng nhiệt đới giàu có, những cây dầu, cây đậu, cây long não cao ngất, những bụi tre, bụi mây dày đặc miên man. Chim chào mào, chim bông lau, chim chích chòe, vừa hót vừa bay vụt qua cửa xe, biến mất vào vòm cây ướt. Những bầy chim lớn mùa thu bay ven biển, cò, sếu, vạc, diệc xám, diệc trắng, thấp thoáng trong sương mù qua hành lang di cư của chúng, mở ra hình ảnh người ly hương sắp tới, báo trước số phận sau này của dân tộc.

Trong một cái quán gần bến đò làng tôi, người ta bán thịt vịt săn được, hấp với rượu. Tôi ngồi nhìn khách nói chuyện, ăn uống, đánh bài, nhìn ra mặt sông mờ sương khói. Chuyến đò ngang chưa qua. Tôi lắng nghe tiếng chuông chùa Long An, nghĩ về cuộc chiến tranh đang đến gần, tiếc bao nhiêu năm tháng thanh bình mà dân tộc dại dột phá nát vì ảo tưởng. Nghĩ thế, nửa đêm tôi thức dậy, muốn ngồi lên trong chăn mà nghĩ sự đời. Mười mấy tuổi mà nghĩ như thế, có già sớm quá đi chăng?

Xuân Diệu:

Đây mùa thu tới! Mùa thu tới!
Với áo mơ phai dệt lá vàng

Và tiểu thuyết Áo Mơ Phai của Nguyễn Đình Toàn.

Huy Cận:

Một hôm trận gió tình yêu lại
Đứng ngẩn trông vời áo tiểu thư.

Trận gió tình yêu là bốn chữ tuyệt bút. Vì nó thổi tung một tà áo. Và truyện dài Áo Tiểu Thư của Duyên Anh ra đời. Liên văn bản được chú ý từ thuở ấy.

Một bông thược dược màu tím. Được ngậm trên môi một người lính, đi dọc theo sau dãy hàng rào. Người lính ấy sẽ bị bắn hạ. Nhưng giờ đây, vào lúc này, khi tôi đứng nhìn anh từ thềm nhà cao, năm tôi mười ba tuổi, bông thược dược ấy thật đẹp, được ngậm trên môi một người lính. Khuôn mặt người lính thật đẹp. Cả hai chiếu sáng vào nhau, thược dược mùa thu và tuổi trẻ chúng ta. Tháng Mười ở Bắc Mỹ, các loài hoa đều tàn, chỉ còn thược dược và tử vi. Tử vi, crape myrtle, thuộc họ Lythraceae, được trồng phổ biến ở nhiều nơi, làm hàng rào. Lái xe dọc các xa lộ cao tốc, người ta thường gặp loài cây này, vì nó chịu hạn và ra hoa suốt từ mùa hè đến hết mùa thu. Trong Cửu đỉnh, trước Thế Miếu ở Huế, Cao đỉnh là chiếc lớn nhất, ứng với vua Gia Long. Trên Cao đỉnh có khắc hình hoa tử vi. Tôi thấy hoa tử vi ở đó rất giống loài hoa tôi gặp ở Bắc Mỹ. Trời tháng Mười rất lạ ở đây, thoắt nắng, thoắt mưa. Khi tôi viết những dòng này, một cơn bão lớn, hurricane, đang đổ bộ vùng vịnh. Thật khó mô tả cho những người chưa từng sống trong bão lớn: trời vần vũ, mưa đổ rào rào, cột điện và cây cối nghiêng ngả, thế giới tan vỡ. Thế mà chỉ một lúc sau, bầu trời lại quang đãng, ánh sáng chiếu xuống đất, đôi khi có gió mát, sự im lặng dị thường. Rồi bão đột nhiên quay trở lại, mạnh hơn, tàn khốc hơn. Sự lừa dối của bão cũng tựa như sự lừa dối của một nền hòa bình.

Ngày 8 tháng 10 năm 2026, giải Nobel Văn chương được trao cho Anne Carson. Canada có hai nhà văn đương đại nổi tiếng là Margaret Atwood và Anne Carson. Người thứ nhất là một nhà văn lớn, có tầm ảnh hưởng sâu rộng đối với xã hội, người thứ hai khó hiểu hơn, ít được biết đến hơn, nhưng là một người tiên phong trong sáng tạo nghệ thuật. Tôi đã gặp bà một hoặc hai lần trong các buổi đọc thơ ở Vancouver. Cuốn sách gần đây nhất của bà, Wrong Norma, để lại ấn tượng sâu cho tôi. Ở bìa sau có in mấy câu của tác giả viết tay:

Do not walk backwords
That is how the dead go

Bắt đầu mùa Halloween, một người đàn ông hàng xóm đã chết từ lâu, mười lăm năm trước, để lại người đàn bà với hai đứa con nhỏ, bây giờ trở về, cầm lồng đèn đứng trước cửa. Những người đi qua đều dừng lại, cúi đầu chào. Ông ta cười phá lên, tiếng cười lạnh lẽo như kim loại, không ra vui, không ra buồn.

Paris có gì lạ không em

Mai anh về giữa bến sông Seine

Anh về giữa một giòng sông trắng

Là áo sương mù hay áo em

Nguyên Sa. Thuở ấy, tôi chẳng biết Paris là gì, nhưng thơ làm cho một nơi chốn hiện ra. Bỗng nhiên có một tình yêu kỳ lạ với nó, mà chúng ta chưa hề biết, nhưng thật ra nó vẫn có ở đó. Chỉ là tôi chưa biết mà thôi. Cũng vậy, Hà Nội, Montreal, Đông Kinh. Thơ, về bản chất, có tính đề kháng. Thơ không nhất thiết trực tiếp nói về các chủ đề xã hội, ít khi đưa ra những lời khuyên. Tuy nhiên, những nhà thơ có đời sống gắn bó với dân tộc mình, những người yêu tự do, chống bạo lực và mọi hình thức đàn áp, chống lại sự thỏa hiệp và những ngụy biện, bao giờ cũng, một cách có ý thức hoặc vô thức, không tránh né điều ấy. Họ bộc lộ khuynh hướng, sự ủng hộ hay phản đối ngay trên khuôn mặt của mình. Những kẻ giáo điều không làm được điều ấy. Ngay cả trong lễ hội, nơi những đứa trẻ mang mặt nạ ra đường, sự hóa trang ấy vẫn có tính nghệ thuật. Đôi khi nghệ thuật mang mặt nạ, nhưng mặt nạ không đồng nghĩa với lừa dối. Lễ Halloween, tôi bày trước cửa ngọn đèn lồng hình trái bí đỏ, bên trong thắp một ngọn đèn. Những năm các con tôi còn nhỏ, đó là dịp vui vô cùng hào hứng đối với chúng. Tôi có một vài địa chỉ yêu thích, năm nào đến Halloween cũng dẫn các con tới đó. Không khí trong vườn âm u mà tuyệt đẹp, chủ nhà hiếu khách, biết cách bày ra những trò chơi thú vị. Năm nay, một ngôi nhà đóng cửa. Không biết chủ nhà đã dời đi đâu, hay cảnh nhà sa sút. Tôi không biết. Lòng ngậm ngùi, tôi đứng lại một lúc dưới gốc cây anh đào đầy rêu. Rồi ánh sáng bỗng nhiên bật lên, cảnh tượng huy hoàng bày ra trước mắt. Con người sống trong thế giới thực nhưng vẫn thích sự huyền ảo. Huyền ảo là thêu dệt một thế giới vô hình thành những hình tượng hữu hình, là đi tìm một hiện thực khác với hiện thực của chúng ta. Lòng hoài niệm về một đứa bé trở thành đôi giày cũ. Nỗi nhớ người phụ nữ trở thành mái tóc ngang lưng. Vết thương xưa thành ngọn đèn trong trái bí đỏ. Con người tìm nhau.

Em ở đây nè.

Năm 2026, tháng Mười, nước Pháp biểu tình và bạo loạn. Toà thị chính Limoges 143 tuổi bị đốt cháy. Bạo loạn sau đó bị kiểm soát, nhưng các yêu sách xã hội thì vẫn còn đó. Nhớ tháng Mười nhiều năm trước, khi chúng tôi từ Paris xuống miền Nam. Sương có một người dì ở Nice. Chúng tôi ở qua đó mấy đêm, nghe dì kể chuyện những ngày lưu lạc. Kiều lưu lạc mười lăm năm, còn dì, chồng bị bọn cộng sản Polpot giết, lưu vong một đời. Xuống Côte d’Azur, bên là biển, bên là núi. Màu sắc nơi đây ánh lên trong tranh của Matisse và Chagall. Chúng tôi đi thăm mộ Chagall. Rồi xuống Aix-en-Provence. Bạn tới đó, nhìn đường phố, nhìn cánh đồng, nhìn ánh sáng và nhớ đến Paul Cézanne.

Một người lái xe trẻ tuổi mải nhìn một cô gái trẻ trên đường, lao cả xe lên vệ đường đâm vào gốc cây. Bạn ghé vào khu phố để tìm mua mấy thứ, lạc đường. Vừa rẽ trái vào một con đường lạ, bạn gặp một chiếc xe chạy tới. Người lái xe chạy thật chậm, hạ cửa kính xuống, la lớn: đường một chiều, hey, nhà ngươi! Bạn vội vàng lùi xe lại. Chúng ta quên nhiều thứ, bất cẩn trong đời. Chúng ta vấp ngã. Đâm vào cột đèn. Đổ xăng tràn ra ngoài. Những người lái xe nhắc nhau: cái nắp xăng, đường trái chiều, đi sai đường, ánh sáng, đèn. Ở đây, chúng ta bắt đầu bước vào mùa của những linh hồn lang bạt, không nhà cửa, cần những ngọn đèn lồng với ánh sáng ấm áp soi đường.

Người đàn ông trong phòng số 103 sắp chết. Tôi làm việc trong một bệnh viện dành cho người già và những bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối. Mới đầu, con cháu đến thăm mỗi ngày, về sau, thăm viếng thưa dần, càng lúc càng lạnh lẽo. Nửa đêm, y tá trực gọi. Tôi lái xe vào, làm thủ tục khai tử. Tôi đến giường bệnh, nghe tim phổi, bắt mạch, chiếu đèn tìm phản xạ đồng tử, theo thủ tục, trước khi tuyên bố một người đã chết. To pronounce. Tôi hỏi người y tá số điện thoại của thân nhân. Một ông già tám mươi sáu tuổi, có vợ sống một mình trong thành phố. Đó là đêm gió dữ, vần vũ, tuyết mịn như tơ. Tôi chia buồn với người ở đầu dây bên kia và hỏi bà có muốn đến thăm chồng lần cuối. Bà già yếu, không biết lái xe, không thể đi được. Người vợ  xin lỗi, nhưng xin phép không đến thăm chồng lần cuối. Tôi nói tôi hiểu điều ấy, và an ủi rằng, trong điều kiện thời tiết xấu, việc đi lại khó khăn, quyết định ấy là hợp lý. Gác điện thoại. Tôi đứng im một lúc, nhìn vào khoảng không, tâm hồn chấn động. Người y tá đứng trước mặt cũng im lặng. Ba chúng tôi trong căn phòng nhỏ: người y tá, tôi và một người vừa qua đời, linh hồn chưa kịp rời bỏ thể xác, trong một đêm tuyết xuống. Tôi biết mình muốn làm một điều gì đó, nhưng không biết đó là điều gì. Tôi đưa tay vuốt mắt người bệnh một lần nữa, lần thứ hai. Tôi thấy mắt ông đã nhắm rồi, nhưng không nhắm chặt.

Tôi sợ những kẻ cực đoan và những kẻ nịnh hót. Bạn hỡi, chúng ta đã đến cái tuổi mà người xưa gọi là ai nói điều gì cũng thấy thuận tai. Thế mà đang trò chuyện vui vẻ, một người trong bàn vô tình nhắc đến chuyện đất nước, có người về nước, có người không bao giờ, thì mọi chuyện lại nóng lên, đến nỗi có kẻ đập bàn bỏ ra ngoài. Tôi lặng lẽ đi theo, đứng sau anh một lúc, không nói gì. Anh hút xong điếu thuốc thì quay lại, nhẹ giọng xin lỗi. Tôi mỉm cười. Nhìn ra phía sau anh, trên bụi rậm, một con bướm vàng bay đến từ lúc nào, chập chờn đậu xuống, vụt bay lên, đẹp như một kẻ từ bỏ rồi trở lại, hay như kẻ đã uống xong chén rượu của đời mình.

Hãy xin lỗi.

Ngay cả khi bạn không có lỗi.

Tháng Mười, mất Bùi Giáng.

Em ở lại với đời ta em nhé

Em đừng đi, cho ta nắm tay em

Tháng Mười, chúng tôi đến Hy Lạp, qua Địa Trung Hải, đến Thổ Nhĩ Kỳ. Tôi thấy mình đứng giữa những chiều sâu văn hóa. Trước Acropolis, tôi nhìn thấy Homer, Socrates, Sophocles, Euripides, nhìn thấy những tượng đài của văn chương, triết học, những khế ước xã hội, quyền công dân. Kiến trúc và vẻ đẹp thân xác. Biển Địa Trung Hải sáng vàng chói, chiếu lên đá cẩm thạch trắng của Acropolis. Biển đưa con người vào chỗ diệt vong và cứu vớt họ khỏi những trận đắm thuyền. Trên một hòn đảo Hy Lạp giữa Địa Trung Hải, tôi tình cờ đứng trước một tiệm ăn có tên Zorbas. Cái tên ấy khiến tôi nhớ đến Alexis Zorba, nhân vật của Nikos Kazantzakis. Alexis Zorba là nhân vật tiểu thuyết, nhưng được xây dựng dựa trên một người có thật, tên là Georgios Zorbas (1867–1941), một người thợ mỏ và là bạn của Kazantzakis. Zorba là người đàn ông dạy cho một người trẻ rằng đời sống không chỉ được hiểu bằng lý thuyết. Zorba yêu công việc, rượu, đàn bà, âm nhạc, điệu nhảy. Ông cũng biết đau khổ, thất bại. Nhưng sau tất cả, ông vẫn đứng lên, nhảy múa. Zorba đã đi xa hơn trang sách, trở thành một phần của trí tưởng tượng Hy Lạp. Cuốn sách dạy cho tôi, một đứa trẻ mười bảy tuổi, rằng bất kỳ chủ thuyết nào kìm hãm tự do cá nhân đều là thứ không có ích cho loài người. Chiều hôm ấy, trong một ngõ hẻm trên hòn đảo có hai màu xanh và trắng ấy, tôi ngửi thấy một mùi thơm. Tôi dừng lại. Tôi nhận ra mùi cơm mới nấu, thoảng qua trong gió. Nấu cơm là một nghệ thuật tuyệt đẹp của người Việt. Tôi không phải người biết nấu ăn, nhưng cơm ngon thì biết. Các hạt cơm phải chín đều, mịn mà không dính vào nhau. Khi vét hết cơm dưới nồi, phải còn một lớp cháy mỏng. Lớp cháy ấy không được quá mềm cũng không được quá cứng, phải lấy ra khỏi nồi một cách dễ dàng. Nấu xong, cái xoong hay cái nồi phải còn nguyên vẹn, chứ không cháy đen như có hôm vợ đi vắng tôi một mình nấu ăn ở nhà. Ăn cơm gạo mới thổi đúng cách như thế, bạn không những thưởng thức một bữa ăn, mà còn thưởng thức mùi vị quê hương, tình đồng bào, người đã cho mình một bữa ăn ngon trong thuở trời đất trở nên lạnh hơn, buồn hơn, sáng hơn.

Nguyễn Đức Tùng

 

 

 

 

 

 

 

Mối tình đầu đã giết dì tôi / như người ta giết bông hoa / cắm lên bàn thờ / héo hon tháng ngày còn lại. / Dì tôi yêu thích và buồn theo tiếng hát / “Đồi Thông Hai Mộ” / Như thể mối tình trong ca khúc này / là tâm sự của dì tôi.
nguyên thủy là kêu gọi trở về / nơi cánh đồng của những trong lành tươi mát / chưa nảy sinh những dị biệt / chân đi trên phù sa / ướt những tấm lòng xanh ngát bao la
một ngày trôi giạt theo sóng vào bờ / một ngày quấn quýt từng bước chân trần / tuổi trẻ bềnh bồng không định hướng / một ngày câm nín xao động ôm trái tim mình / bay cao ngang ngửa trên ngọn cây mộc lan / trập trùng những nụ búp xanh tươi mơn mởn
Tập thơ thứ 11: “Đời Sống Làng Quê” ấn hành năm 2009. Được xem như một khúc quanh trong sự nghiệp thi ca của Louise Gluck. Khác hẳn với tập “Hoa Diên Vĩ Hoang Dại”, 1992, với nội dung siêu hình và siêu nhiên, đã tạo cho bà nhiều danh vọng. 1. “A Village Life” mang đến cho độc giả những cảm xúc thâm trầm về tâm sinh lý của cá nhân và xã hội. Một loại xã hội thực tế, dùng lám ẩn dụ, tuy hiện diện nhưng gần như bị lãng quên bởi đời sống phố thị rộn ràng nhốn nháo. Những mẫu chuyện ngắn thật ngắn, nhỏ thật nhỏ, đôi khi phức tạp, ly kỳ. Đa số bình thường với những nhận xét tinh tế:
Đàn ông biết được phụ nữ bao nhiêu? Tôi dùng chữ “biết”, không phải ý chữ “hiểu”. Tôi không dùng chữ “đàn bà” vì e rằng thiếu kính trọng. Tôi lấy vợ đã gần nửa thế kỷ. Đã bắt tay, chào hỏi vài ngàn phụ nữ và nhìn ngắm họ qua trăm ngàn vóc dáng khi du hành nhiều nơi trên thế giới, nếu tính luôn trên truyền hình, qua video, con số có thể lên hàng triệu. Nói như vậy, bạn đọc có thể lầm tưởng tôi là người có bản lãnh biết về phụ nữ, thực tế, như Louis de Bernières đã nói: “Đường lối phụ nữ chinh phục trái tim đàn ông là khiến cho anh ta tưởng bở đang làm cô thích thú.” (“That's how a woman wins a man heart, by making him think that he amuses her.)
điều nguyên vẹn nhất / vẫn nằm im trong tim / ngày mùa thu nhớ dòng sông / nấm đất buồn tênh bên lở bên bồi / quăng viên sỏi trắng cạnh chiếc cầu run rẩy / bàn tay nào níu giữ / bạn bè và tình nhân / ngẩn ngơ năm ba lời tiếc nuối / con chim non hót mấy tiếng cội nguồn
Thế giới giờ này người né người! / Ngồi trên xe bus gắn máy lạnh, hoặc xe bò cọc cạch lăn bánh, / người ngồi xa người, khoảng cách an toàn, một thước rưỡi. / Anh xa tôi! Tôi xa em! Ta xa nhau! Đúng 2 thước. / Giờ này đôi ta hôn nhau nụ hôn gió qua khẩu trang! / Ai đó lỡ miệng ách-xì một, hoặc hai tiếng, hoặc một tràng; / Hết rồi những ánh mắt ái ngại, / những lời nói cảm thông, “God bless,” hoặc “Trời, Phật, Chúa chữa!”
Mời các bạn đọc một ngụ ngôn tân thời của thi sĩ Nobel Louise Gluck. Bóng tối che đậy tội ác. Che giấu những con mèo từ rừng hoang xuống trà trộn vào thành phố. Ban ngày, chúng hiền lành. Về đêm, mèo lộng hành, bè đảng, lòng dạ hung tợn, ngay cả người cũng sợ. Chúng săn đuổi, tiêu diệt những sinh vật không có sức kháng cự. Thảm thương cho thân phận làm chuột. Ngày không dám nhìn mặt trời. Đêm la hét đau đớn dưới răng mèo sắc bén. Chết, Chuột chết la liệt đầy phố đêm. Ai biết? Biết rồi, ai nói? Trước khi trời sáng, xã hội quét dọn, đường phố sạch sẽ, không dấu vết sát thủ, nạn nhân. Mặt trời lên. Mèo hiều hậu, dễ thương, Chuột trốn nắng. Người vô tư. Nhưng rồi đêm sẽ đến, sẽ tiếp diễn máu me và định mệnh.
Mời nghe Alexandra Huỳnh đọc bài thơ Di Sản (Inheritance) "live" trên đài truyền hình LX News. Nữ sinh gốc Việt Alexandra Huynh, tên Việt là Thụy An, 18 tuổi, trong buổi chung kết đêm Thứ Năm 20/5/2021 vừa qua đã thắng giải: "2021 National Youth Poet Laureate -- Nhà Thơ Khôi Nguyên Giới Trẻ Quốc Gia 2021". Huynh trả lời phỏng vấn AP đêm Thứ Năm qua điện thoại từ nhà, rằng thơ đối với cô là phương tiện để tự bày tỏ và để giúp công lý xã hội. Cô nói “Tiếng Việt tự nó đã là một tiếng nói giàu chất thơ. Trong sinh hoạt văn hóa của người Việt người ta đã nói thành thơ trong cuộc sống hằng ngày.” Cô cho hay là đã tập viết những lời thơ phổ nhạc từ khi mới 7 tuổi; đặc biệt là sau những lần đọc thơ trước công chúng thì lại càng cảm thấy sức mạnh của chữ nghĩa có tác động tích cực lên tâm lý và tinh thần đại chúng. Alexandra Huynh căn bản sáng tác thơ bằng tiếng Anh nhưng luôn nuôi hy vọng là sẽ có tác phẩm thơ ra đời và sẽ được chuyển ngữ sang “tiếng Mẹ đẻ”, ngôn ngữ Việt Nam.
nếu tôi không thể là người hùng / tôi mang tên người di dân gương mẫu / ôi những chiếc thuyền / & những người trên những chiếc thuyền ấy / can đảm biết bao & khác xa / đám tỵ nạn đương thời chúng ta nợ họ / Tôi ngậm chặt lưỡi / nghe âm thanh / thân thuộc gần như nhà mình / khi tên Dương Thu Hương mất đi dòng sông / trong miệng lão thầy / và chẳng ai buồn hỏi vì sao / mặt tôi giàn giụa. & nhớ đến chiếc bàn buồn bã, / trong góc xó lớp học / tôi viết lời nguyện cầu / cho lũ trẻ sắp vào chật lớp này: / hãy để đám trẻ được xưng tên chúng như mẹ chúng đã từng gọi thế. / hãy để điệp khúc được xướng lại hay cố gắng & cố gắng như thế. / hãy để những câu chuyện không pha chất trọ trẹ / & giữ lại thanh âm không phiên dịch. / hãy để lũ trẻ điền vào khoảng trống bằng ký ức.
những bông hoa Diên Vỹ / nở tím chiều tháng Năm / Anh nở tím hồn em / bắt đầu vào tháng mấy
trên đồi gió khoác áo thư sinh tóc bạc / như lữ hành đi qua đồng bằng / thỏa mãn khát khao / sông dài núi rộng / thèm dòng sữa chảy ra từ lồng ngực / que diêm cháy một lần rồi tắt / vẽ vời chi / trăm cảnh lao đao
Trước đây, Thường Thấu Thấm thuộc về giả thuyết thưởng ngoạn và sáng tác. Tuy nhiên, dịch thuật cũng mang cấu trúc cơ bản của ngôn ngữ và ngữ pháp, được xác định minh bạch về bản chất, cá tính và chức năng, có tính toàn cầu trong hệ thống ngôn ngữ, có tính chung để thông đạt, nên giả thuyết này có thể áp dụng vào dịch thuật, song song với giả thuyết thưởng ngoạn và sáng tác.