Hôm nay,  

Nguyệt Cầm (Lời Kỹ Nữ)

12/06/202212:08:00(Xem: 6187)

Nguyet Cam

 

Tôi phải cám ơn anh bạn nhạc sĩ Lê Vũ đã cho tôi cơ hội tái tạo Nguyệt Cầm trong khung của nghệ thuật Meta.  Có lẽ bạn sẽ hỏi tôi nghệ thuật Meta là cái gì. Và có lẽ tôi sẽ trả lời rằng, đấy là trường phái, hay hiện tượng tự ám chỉ, tự ý thức, tự lập lại. Nghệ thuật Meta khai thác sự suy ngẫm về quá trình cũng như triết lý sáng tạo nghệ thuật, hơn là chính tác phẩm.  Nghệ thuật trở thành đề tài chính cho nghệ thuật.

Có lẽ bạn sẽ hỏi thêm, có gì Meta với ca khúc Nguyệt Cầm?

Để tôi nói trại đi một chút.  Nguyệt Cầm là một bài thơ khá ngắn của Xuân Diệu, viết trong thể thất ngôn, gồm 16 câu.  Bài này Xuân Diệu chịu ảnh hưởng của thơ Pháp thời bấy giờ, nhất là nhà thơ Baudelaire.  Bài thơ Nguyệt Cầm tạo ấn tượng bằng nhiều từ ngữ về âm nhạc, ánh sáng, và xúc giác, một mối tương giao giữa những giác quan và tín hiệu siêu hình.  Xúc cảm của người thi sĩ đã mở rộng cánh cửa cho âm nhạc đến với người thưởng thức bài thơ.

Một bài thơ khác của Xuân Diệu là Lời Kỹ Nữ, nói lên tâm sự của một cô gái làng chơi, đã đem lòng cảm mến một người khách giang hồ trong đêm khuya nàng cảm thấy quá cô đơn.  Bài thơ này cũng xuất hiện trong tập thơ “Gởi Hương Cho Gió” xuất bản năm 1945.

Và Xuân Diệu là một người đồng tính.

Nhạc sĩ Cung Tiến, một người chịu nhiều ảnh hưởng của nhạc cổ điển tây phương, đã tái tạo Nguyệt Cầm thành một ca khúc thật lộng lẫy, thích hợp cho một giàn hòa tấu, với đầy đủ cảm xúc và cao trào của trường phái lãng mạn âu châu.  Ca khúc nay Cung Tiến viết vào năm 1956.  Một bài nhạc về một bài thơ nói về âm nhạc.



Từ lâu, tôi có ý định “re-imagine” Nguyệt Cầm như là ca khúc của người kỹ nữ hát cho một khách làng chơi.  Bên dưới tiếng đàn, câu hát, là lời tâm sự mà nàng muốn nhưng không thể nào thố lộ, vì lý do thầm kín nào đó.

Bài nhạc này bạn đã phối theo dạng nhạc lounge, một loại nhạc hiện đại xuất xứ từ một số hộp đêm nổi tiếng như Buddha Bar và Hotel Coste.  Ở đấy cũng có nhiều những nỗi “sầu như biển lớn”, những “chớ để riêng em phải gặp lòng em”, những nỗi niềm rất… Xuân Diệu.  Nhạc lounge trọng về không khí của nhạc.

Bài Nguyệt Cầm được chuyển qua 4/4 để thấy rộng rãi hơn, và nền nhạc electronic trải rộng như sương khói trên mặt sông hồ.  Trong không gian đó, tiếng hát của người kỹ nữ để giải sầu, để mua vui cho người khách.  Thật lạc lõng, lẻ loi.  Và lời của nàng, bên giòng sông hờ hững trôi kia, đối với tôi, là tâm sự của Xuân Diệu như muốn gào lên cho người khách kia cảm nhận được nỗi cô đơn ông đang dấu sâu trong lòng. 


Bài nhạc này là lời tiễn biệt nhạc sĩ Cung Tiến vừa ra đi.

Lời kỹ nữ đã vỡ vì nước mắt

Cuộc yêu đương gay gắt vị làng chơi

Người viễn du lòng bận nhớ xa khơi

Gỡ tay vướng để theo lời gió nước

Xao xác tiếng gà.  Trăng ngà lạnh buốt

Mắt run mờ, kỹ nữ thấy sông trôi

Du khách đi,

   du khách đã đi rồi…

(Xin nhấn vào nút dưới đây để nghe nhạc bài Nguyệt Cầm/Lời Kỹ Nữ, do Nguyễn Thảo trình bày).

 

Ẩn Lan xuất hiện trong thơ ông không nhiều. Chỉ một lần Vương Quan thốt lên gọi “Ẩn Lan ơi! Mái tóc thề.” Chỉ nỗi nhớ rất đơn sơ đó thôi cũng đã làm cho nhạc sĩ họ Phạm ngây ngất. Mái tóc của Ẩn Lan là hình ảnh thực tế duy nhất ông miêu tả về nàng. Mái tóc ấy “buộc chùm hoa ngâu vàng.” Mùi hương mái tóc ấy, qua cảm nhận của chàng nhạc sĩ, nó là “nỗi buồn thơm lâu,” để rồi “gọi em là đóa hoa sầu.”
Tôi vừa mất một người bạn thân, Nguyễn Thị Hồng Tước, đã ra đi trong lặng lẽ không ai hay vào một buổi sáng tại nhà riêng. Sao” với tôi là ánh sao Hồng Tước nhưng cũng là câu hỏi của tôi với Hồng Tước là “ tại Sao Hồng Tước lại ra đi lặng lẽ như vậy?” Tin buồn đã đến với tôi thật bất ngờ và sửng sốt khiến tôi ngỡ ngàng không tin đó là sự thật bởi tôi và Hồng Tước mới nói chuyện vui vẻ với nhau 1,2 tuần trước về âm nhạc do AI làm.
Theo Ellen Wexler, phụ tá biên tập mục nhân văn, viết trên Smithsonian Magazine ngày 10 tháng 4 năm 2026, bức tranh The Parsonage Garden at Nuenen in Spring của Vincent van Gogh, từng bị đánh cắp khỏi một viện bảo tàng Hòa Lan rồi được tìm lại trong một túi Ikea cùng chiếc gối dính máu, nay đã được phục chế và đưa ra trưng bày trở lại.
Nếu có ai hỏi: “Anh tin vào triết học hiện sinh không?”, tôi sẽ trả lời: “Không, nhưng tôi đã nghe Trăng Tàn Trên Hè Phố và tin rằng con người sống trong chiến tranh, cần hát để tồn tại.” Sartre từng nói: “Existence precedes essence” – tồn tại có trước bản chất. Bolero thì nói: “Trăng tàn trên hè phố,” ai buồn hơn ai? Câu hỏi ấy, kỳ lạ thay, vạch ra, đời không có sẵn bản chất, chỉ có sẵn buồn. Trong quán rượu ở Biên Hòa năm 1972, có thể một người lính vừa hát vừa nghĩ: “Nếu tôi chết đêm nay, trăng vẫn sẽ tàn, nhưng ai sẽ nhớ rằng tôi từng tồn tại?” Đó chính là being-for-itself của Sartre — tồn tại hướng về hư vô. Còn giọng bolero là being-for-tears — tồn tại hướng về… nước mắt.
Theo Ali Watkins và Josephine de La Bruyère, viết trên The New York Times ngày 30 tháng 3 năm 2026, ba bức tranh của Renoir, Cézanne và Matisse đã bị lấy cắp trong một vụ đột nhập chớp nhoáng tại Phòng Tranh của Magnani-Rocca Foundation, một viện bảo tàng tư gần thành phố Parma, miền bắc nước Ý. Nhà chức trách Ý cho biết vụ trộm xảy ra trong đêm 22 tháng 3. Nhóm trộm đột nhập qua cửa chính của viện bảo tàng, rồi lấy đi ba tác phẩm chỉ trong vòng ba phút. Cảnh sát Carabinieri, đang điều tra vụ này, cho rằng đây là một phi vụ được tổ chức kỹ lưỡng và có chuẩn bị từ trước.
Có một lần ngồi nhâm nhi ly rượu vang Ý tại một quán nhỏ bên bờ kênh đào thơ mộng của Venice, nhìn những căn nhà cổ soi bóng nước, nhìn tài tử giai nhân dập dìu qua lại, tôi chợt nghĩ đến nhạc sĩ cổ điển người Ý Antonio Vivaldi. Ông sinh ra ở thành phố tình yêu này. Một xứ sở với thiên nhiên đẹp, con người đẹp, âm nhạc đẹp, thì người ta dễ yêu nhau lắm, mùa nào cũng là mùa của tình yêu! Tác phẩm nổi tiếng nhất của Vivaldi chính là bản Concerto Bốn Mùa soạn cho violin và dàn nhạc. Đây là một bức tranh tuyệt đẹp, vẽ phong cảnh sống động của bốn mùa xuân-hạ-thu-đông, được phát họa bằng những nốt nhạc. Tổ khúc có bốn concerto; mỗi concerto có ba chương ngắn với bốn chủ đề Xuân-Hạ-Thu- Đông. Có lần một người bạn hỏi tôi làm sao để cảm nhận được rằng âm nhạc cổ điển có thể tả cảnh mà không sử dụng đến lời ca? Tôi đề nghị bạn nghe tổ khúc Bốn Mùa. Nghe nhạc cổ điển không lời cần nhiều đến trí tưởng tượng
Ngôn ngữ, chữ viết là một trong những phát minh quan trọng vào bậc nhất của nhân loại. Ngôn ngữ phát triển như một kết quả tất yếu của sự tiến hóa văn hóa xã hội. Mỗi ngôn ngữ phản ánh lịch sử, môi trường và nhu cầu giao tiếp của cộng đồng sử dụng nó. Còn chữ viết giúp lưu trữ tri thức, lịch sử, văn hóa. Chữ viết dẫn đến sự ra đời của văn chương, thi ca, một kho báu vô giá của loài người. Thế nhưng, không phải lúc nào ngôn ngữ cũng thành công trong nhiệm vụ truyền tải thông điệp. Có những trường hợp, ngôn ngữ trở nên bất lực.
Trong những ngày phong tỏa vì Covid-19 năm 2020, tại thị trấn Zutphen, miền đông Hòa Lan, bà Charlotte Meyer vô tình mở lại một ngăn kéo cũ trong nhà – và bất ngờ đánh thức một “kho tàng” mỹ thuật đã ngủ quên gần một thế kỷ: 35 bản khắc kim nguyên bản của Rembrandt van Rijn. Tập tranh khắc này vốn do ông nội bà, một nhà sưu tầm nghiệp dư, mua dần dần trong khoảng từ 1900 đến 1920 với giá chỉ vài đồng guilder mỗi tờ, vào thời mà tranh in chưa được xem là thứ nghệ thuật đáng kể, rồi được gói ghém lại như một thứ kỷ vật gia đình và dần rơi vào quên lãng.
Giữa ánh đèn vàng ấm của những quán cà phê “Jazz Kissa” tại Nhật Bản, một lớp người mê đĩa nhựa đang gìn giữ một cách thưởng thức âm nhạc mà thời đại ồn ào hôm nay gần như đã quên: ngồi lại với nhau, và nghe cho trọn. Một chiều thứ Bảy, chúng tôi len qua những con hẻm nhỏ của khu Shimokitazawa ở Tokyo – nơi áo thun cũ treo đầy cửa tiệm, mùi cà ri từ quán ăn bình dân lan ra ngoài phố – để tìm một quán chỉ thấy trên mạng. Khi nhận ra tấm bảng nhỏ treo kín đáo, chúng tôi bước lên cầu thang hẹp, gõ nhẹ cánh cửa không cửa sổ, rồi bước vào một căn phòng ốp gỗ ấm áp, treo rèm hạt và bức tranh vẽ nữ nghệ sĩ harp Alice Coltrane.
Ngựa là một hình ảnh rất gần với chúng ta, ngay cả trong đời thường, bất kể thực tế rằng không còn bao nhiêu quốc gia dùng ngựa để kéo xe nữa. Tuy nhiên, bạn thử ngó lên tường, hay mở ra một vài truyện cổ, hay các trang thơ xưa, gần như lúc nào cũng có thể gặp hình ảnh con ngựa. Dĩ niên, năm tới là năm con ngựa. Nhưng trước giờ, trong sách sử, vẫn có Thánh Gióng bay mãi trong truyện cổ tích Việt Nam với ngựa sắt. Ngựa đã gắn liền với lịch sử Việt Nam như thế. Đó là ngựa sắt, vậy mà bay được ra trận, chở được cậu bé Phù Đổng Thiên Vương nhổ gốc tre khổng lồ, phi ngựa như giông bão, ào ạt càn quét quân Bắc phương ra khỏi bờ cõi nước Nam. Trong ký ức đời thường, đối với dân Sài Gòn, những người ở lứa tuổi 60 trở lên, hình ảnh con ngựa là các xe thổ mộ chạy lóc cóc ở ngoại ô. Lúc đó, chưa có xe buýt nội ô, chỉ có xe đò (bây giờ gọi là xe khách) liên tỉnh. Bước tới gần ngoại ô, như Hòa Hưng, Bảy Hiền, Ông Tạ, Bà Điểm, Hóc Môn... sáng sớm là có xe thổ mộ với vó ngựa chạy lóc cóc.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.