Hôm nay,  

Chào mừng Xuân Giáp Thìn

2/9/202400:00:00(View: 2899)

Rồng-by-Ian-Nguyễn
Hình: Rồng do Ian Nguyễn thiết kế sử dụng AI

Con rồng không phải là con vật có thực trong giới sinh vật mà chỉ là thần linh hư cấu, hình ảnh con rồng được tạo dựng bởi sự tổng hợp đặc trưng loài động vật theo óc tưởng tượng của con người, nên hình ảnh con rồng thay đổi ở mỗi bản vẽ và phức tạp:
   
Rồng giống hươu, đầu rồng có lúc giống lạc đà. Mắt rồng giống quỷ. Cổ rồng giống cổ rắn. Bụng rồng giống bụng con tằm. Vẩy rồng giống cá, vuốt rồng giống vuốt chim. Chân rồng giống chân hổ, có người lại cho là chân rồng giống chân rùa. Tai rồng giống tai trâu bò. Con rồng giống tất cả mọi chi tiết của nhiều loại động vật khác nhau, do đó, người ta quý trọng con rồng.
   
Có thuyết nhân chủng học cho rằng từ đời thượng cổ, người nguyên thủy yêu quý và sùng bái động vật và thực vật và dần dần coi những động vật và thực vật yêu mến đó là tổ tiên của mình, vì họ sống với chúng nhiều hơn nay. Mỗi thị tộc có vật tổ riêng của dòng giống mình, khi các thị tộc đánh nhau, thôn tính nhau, đồng hóa nhau thì có vật tổ hòa hợp. Vật tổ rồng là kết quả sự thôn tính và đồng hóa vật tổ “rắn“ với các vật tổ khác. (Theo giáo sư Phan Khoang diễn giải).
   
Theo tài liệu từ sách “Sơn Hải Kinh”, một pho sách cổ của người Trung Hoa viết ra cách nay 2500 năm, thì rồng là vật tổ của người Trung Hoa, ngày xa xưa đó, gọi là dân tộc Khương. Họ sống ở các tỉnh Cam Túc, Thanh Hải, Tứ Xuyên, họ sùng bái rồng vì nó rất đẹp và oai. Lâu ngày, các dân tộc ấy di cư đến vùng Trung Nguyên và chiến tranh với người Hạ. Từ đó rồng cũng trở thành vật tổ của người Hạ, rồi thành vật tổ của người Hung Nô và cả người Bách Việt, trong đó có dòng Lạc Việt, ở phương Nam, cũng coi rồng là vật tổ, là tổ tiên mình. Họ tự nhận là con cháu dòng dõi của rồng.
   
Theo sử liệu của cụ Trần Trọng Kim, thì vua Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam, gặp một nàng tiên, lấy nhau, đẻ ra một người con trai thứ là Lộc Tục. Sau vua Đế Minh truyền ngôi cho con trai trưởng là Đế Nghi làm vua phương Bắc (bên Trung Hoa) và cho Lộc Tục làm vua phương Nam. Lộc Tục làm vua xưng là Kinh Dương Vương, Quốc hiệu là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ khoảng gần 3000 năm trước tây lịch. Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân là Long Nữ, sanh ra Sùng Lãm, sau Sùng Lãm nối ngôi vua, tức là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ, sanh ra 100 người con, Lạc Long Quân và Âu Cơ chia tay vì Âu Cơ là dòng dõi thần tiên, đưa 50 con lên núi. Lạc Long Quân thuộc dòng dõi rồng, nên Lạc Long Quân nhận 50 con, đưa xuống Nam Hải. Sau Lạc Long Quân phong cho con trưởng làm vua nước Văn Lang, là một trong những nước gọi là Bách Việt. Người con trưởng vua Lạc Long Quân làm vua nước Văn Lang, xưng là Hùng Vương. Vua Hùng Vương kể là vua tổ của Việt Nam. Nước Việt Nam ta dựng nước từ đời vua Hùng Vương và theo truyền thuyết thần thoại, dân Nam là con rồng cháu tiên từ đó.
   
Lạc Long Quân và bà Âu Cơ với truyền thuyết dòng dõi con rồng cháu tiên là sử liệu gốc tích của người Việt Nam, thấy đẹp oai phong và cũng thấy có một điều linh ứng là lịch sử dựng nước gắn liền với một lịch sử chia cắt tự ngàn xưa.
   
Biểu hiệu của con rồng mang nhiều tính chất thần linh, thời xa xưa, rồng là biểu tượng thờ cúng của các thị tộc. Rồng cũng không phải là sinh vật có thực ngoài đời, chỉ là hư cấu, thần thoại nên tính cách khá phức tạp. Bạn đã bao giờ trông thấy con rồng chưa? Chưa bao giờ, nếu có thấy chỉ là trên các bản vẽ, hình tượng, hiện tượng và suy đoán. Thí dụ: nếu thấy mây đen cuồn cuộn trong cơn bão táp, hay cảnh ngập lụt, thác lũ đổ xuống, nước ghềnh cuồn cuộn, người ta bảo đó là thần rồng gây ra.
   
Rồng là loài đứng đầu trong «Long, Ly, Qui, Phụng» tất cả bộ tứ quý này. Sách xưa thường nói, “mây theo rồng”, có ý là rồng sinh sống ở dưới nước, nhưng cỡi mây ngũ sắc ngao du trên trời. Vậy nên gọi rồng là thần linh. Rồng còn là biểu hiệu của vua chúa, người ta gọi vua là mình rồng, mặt vua gọi là long nhan, giường vua nằm là long sàng. Tất cả đồ dùng nơi ở, áo quần vua đều trang trí bằng hình vẽ, hoa văn và hình tượng rồng. Rồng là cao sang, quý báu, thấy rồng hiện lên là điềm may mắn, phát tài. Khi gặp hạn hán, người nông dân tổ chức múa rồng để cầu mưa. Thấy rồng hiện ra là điềm may mắn, phước đức sắp tới.
   
Trong sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (Ngô Sĩ Liên) quyển 2, có ghi rằng: Tháng 7 năm canh tuất (1010) vua Lý Thái Tổ từ thành Hoa Lư rời đô ra kinh thành Đại La, thì thấy có rồng vàng hiện lên bên cạnh thuyền ngự, do đó vua gọi kinh đô là Thăng Long Thành. Thành Thăng Long phát khởi từ đó. Ngô Thời Sĩ ghi trong sách sử rằng, đời vua Lý Nhân Tông, rồng vàng hiện ra rất nhiều lần, vua quan đương thời mừng rỡ coi là điềm lành, đất nước thái bình, sung túc.
   
Quan niệm về rồng là điềm lành, là thịnh vượng khởi đầu từ nhà Chu bên Trung Hoa, sau kết hợp với âm dương ngũ hành cho ra quan niệm vua chúa là giống rồng, con cháu rồng là tất cả những gì cao sang hưng thịnh, tài giỏi, phú quý. Chịu ảnh hưởng tư tưởng này, người Việt Nam quý trọng và thích mang tuổi rồng.
   
Mong rằng năm mão khó khăn đã qua đi, năm rồng, lại là năm Giáp Thìn, sẽ mang lại cho thế giới cho tất cả mọi người nhiều an lành, an khang và kiết tường, như ý.
 
Xúc xắc xúc xẻ
Nhà nào còn đèn còn lửa
Mở cửa cho chúng tôi vào
Bước lên giường cao, thấy con rồng ấp,
Bước xuống giường thấp, thấy con rồng chầu,
Bước ra đằng sau thấy nhà ngói lợp,
Trâu ông còn buộc, ngựa ông còn cầy,
Ông sống một trăm linh năm tuổi lẻ,
Vợ ông sinh đẻ,
Những con tốt lành,
Những con như tranh,
Những con như rối,
Xúc xắc xúc xẻ
Nhà nào còn đèn còn lửa
Mở cửa cho chúng tôi vào…
 
– Chúc Thanh
(Paris, Tết Giáp Thìn, 2024)

Ẩn Lan xuất hiện trong thơ ông không nhiều. Chỉ một lần Vương Quan thốt lên gọi “Ẩn Lan ơi! Mái tóc thề.” Chỉ nỗi nhớ rất đơn sơ đó thôi cũng đã làm cho nhạc sĩ họ Phạm ngây ngất. Mái tóc của Ẩn Lan là hình ảnh thực tế duy nhất ông miêu tả về nàng. Mái tóc ấy “buộc chùm hoa ngâu vàng.” Mùi hương mái tóc ấy, qua cảm nhận của chàng nhạc sĩ, nó là “nỗi buồn thơm lâu,” để rồi “gọi em là đóa hoa sầu.”
Tôi vừa mất một người bạn thân, Nguyễn Thị Hồng Tước, đã ra đi trong lặng lẽ không ai hay vào một buổi sáng tại nhà riêng. Sao” với tôi là ánh sao Hồng Tước nhưng cũng là câu hỏi của tôi với Hồng Tước là “ tại Sao Hồng Tước lại ra đi lặng lẽ như vậy?” Tin buồn đã đến với tôi thật bất ngờ và sửng sốt khiến tôi ngỡ ngàng không tin đó là sự thật bởi tôi và Hồng Tước mới nói chuyện vui vẻ với nhau 1,2 tuần trước về âm nhạc do AI làm.
Theo Ellen Wexler, phụ tá biên tập mục nhân văn, viết trên Smithsonian Magazine ngày 10 tháng 4 năm 2026, bức tranh The Parsonage Garden at Nuenen in Spring của Vincent van Gogh, từng bị đánh cắp khỏi một viện bảo tàng Hòa Lan rồi được tìm lại trong một túi Ikea cùng chiếc gối dính máu, nay đã được phục chế và đưa ra trưng bày trở lại.
Nếu có ai hỏi: “Anh tin vào triết học hiện sinh không?”, tôi sẽ trả lời: “Không, nhưng tôi đã nghe Trăng Tàn Trên Hè Phố và tin rằng con người sống trong chiến tranh, cần hát để tồn tại.” Sartre từng nói: “Existence precedes essence” – tồn tại có trước bản chất. Bolero thì nói: “Trăng tàn trên hè phố,” ai buồn hơn ai? Câu hỏi ấy, kỳ lạ thay, vạch ra, đời không có sẵn bản chất, chỉ có sẵn buồn. Trong quán rượu ở Biên Hòa năm 1972, có thể một người lính vừa hát vừa nghĩ: “Nếu tôi chết đêm nay, trăng vẫn sẽ tàn, nhưng ai sẽ nhớ rằng tôi từng tồn tại?” Đó chính là being-for-itself của Sartre — tồn tại hướng về hư vô. Còn giọng bolero là being-for-tears — tồn tại hướng về… nước mắt.
Theo Ali Watkins và Josephine de La Bruyère, viết trên The New York Times ngày 30 tháng 3 năm 2026, ba bức tranh của Renoir, Cézanne và Matisse đã bị lấy cắp trong một vụ đột nhập chớp nhoáng tại Phòng Tranh của Magnani-Rocca Foundation, một viện bảo tàng tư gần thành phố Parma, miền bắc nước Ý. Nhà chức trách Ý cho biết vụ trộm xảy ra trong đêm 22 tháng 3. Nhóm trộm đột nhập qua cửa chính của viện bảo tàng, rồi lấy đi ba tác phẩm chỉ trong vòng ba phút. Cảnh sát Carabinieri, đang điều tra vụ này, cho rằng đây là một phi vụ được tổ chức kỹ lưỡng và có chuẩn bị từ trước.
Có một lần ngồi nhâm nhi ly rượu vang Ý tại một quán nhỏ bên bờ kênh đào thơ mộng của Venice, nhìn những căn nhà cổ soi bóng nước, nhìn tài tử giai nhân dập dìu qua lại, tôi chợt nghĩ đến nhạc sĩ cổ điển người Ý Antonio Vivaldi. Ông sinh ra ở thành phố tình yêu này. Một xứ sở với thiên nhiên đẹp, con người đẹp, âm nhạc đẹp, thì người ta dễ yêu nhau lắm, mùa nào cũng là mùa của tình yêu! Tác phẩm nổi tiếng nhất của Vivaldi chính là bản Concerto Bốn Mùa soạn cho violin và dàn nhạc. Đây là một bức tranh tuyệt đẹp, vẽ phong cảnh sống động của bốn mùa xuân-hạ-thu-đông, được phát họa bằng những nốt nhạc. Tổ khúc có bốn concerto; mỗi concerto có ba chương ngắn với bốn chủ đề Xuân-Hạ-Thu- Đông. Có lần một người bạn hỏi tôi làm sao để cảm nhận được rằng âm nhạc cổ điển có thể tả cảnh mà không sử dụng đến lời ca? Tôi đề nghị bạn nghe tổ khúc Bốn Mùa. Nghe nhạc cổ điển không lời cần nhiều đến trí tưởng tượng
Ngôn ngữ, chữ viết là một trong những phát minh quan trọng vào bậc nhất của nhân loại. Ngôn ngữ phát triển như một kết quả tất yếu của sự tiến hóa văn hóa xã hội. Mỗi ngôn ngữ phản ánh lịch sử, môi trường và nhu cầu giao tiếp của cộng đồng sử dụng nó. Còn chữ viết giúp lưu trữ tri thức, lịch sử, văn hóa. Chữ viết dẫn đến sự ra đời của văn chương, thi ca, một kho báu vô giá của loài người. Thế nhưng, không phải lúc nào ngôn ngữ cũng thành công trong nhiệm vụ truyền tải thông điệp. Có những trường hợp, ngôn ngữ trở nên bất lực.
Trong những ngày phong tỏa vì Covid-19 năm 2020, tại thị trấn Zutphen, miền đông Hòa Lan, bà Charlotte Meyer vô tình mở lại một ngăn kéo cũ trong nhà – và bất ngờ đánh thức một “kho tàng” mỹ thuật đã ngủ quên gần một thế kỷ: 35 bản khắc kim nguyên bản của Rembrandt van Rijn. Tập tranh khắc này vốn do ông nội bà, một nhà sưu tầm nghiệp dư, mua dần dần trong khoảng từ 1900 đến 1920 với giá chỉ vài đồng guilder mỗi tờ, vào thời mà tranh in chưa được xem là thứ nghệ thuật đáng kể, rồi được gói ghém lại như một thứ kỷ vật gia đình và dần rơi vào quên lãng.
Giữa ánh đèn vàng ấm của những quán cà phê “Jazz Kissa” tại Nhật Bản, một lớp người mê đĩa nhựa đang gìn giữ một cách thưởng thức âm nhạc mà thời đại ồn ào hôm nay gần như đã quên: ngồi lại với nhau, và nghe cho trọn. Một chiều thứ Bảy, chúng tôi len qua những con hẻm nhỏ của khu Shimokitazawa ở Tokyo – nơi áo thun cũ treo đầy cửa tiệm, mùi cà ri từ quán ăn bình dân lan ra ngoài phố – để tìm một quán chỉ thấy trên mạng. Khi nhận ra tấm bảng nhỏ treo kín đáo, chúng tôi bước lên cầu thang hẹp, gõ nhẹ cánh cửa không cửa sổ, rồi bước vào một căn phòng ốp gỗ ấm áp, treo rèm hạt và bức tranh vẽ nữ nghệ sĩ harp Alice Coltrane.
Ngựa là một hình ảnh rất gần với chúng ta, ngay cả trong đời thường, bất kể thực tế rằng không còn bao nhiêu quốc gia dùng ngựa để kéo xe nữa. Tuy nhiên, bạn thử ngó lên tường, hay mở ra một vài truyện cổ, hay các trang thơ xưa, gần như lúc nào cũng có thể gặp hình ảnh con ngựa. Dĩ niên, năm tới là năm con ngựa. Nhưng trước giờ, trong sách sử, vẫn có Thánh Gióng bay mãi trong truyện cổ tích Việt Nam với ngựa sắt. Ngựa đã gắn liền với lịch sử Việt Nam như thế. Đó là ngựa sắt, vậy mà bay được ra trận, chở được cậu bé Phù Đổng Thiên Vương nhổ gốc tre khổng lồ, phi ngựa như giông bão, ào ạt càn quét quân Bắc phương ra khỏi bờ cõi nước Nam. Trong ký ức đời thường, đối với dân Sài Gòn, những người ở lứa tuổi 60 trở lên, hình ảnh con ngựa là các xe thổ mộ chạy lóc cóc ở ngoại ô. Lúc đó, chưa có xe buýt nội ô, chỉ có xe đò (bây giờ gọi là xe khách) liên tỉnh. Bước tới gần ngoại ô, như Hòa Hưng, Bảy Hiền, Ông Tạ, Bà Điểm, Hóc Môn... sáng sớm là có xe thổ mộ với vó ngựa chạy lóc cóc.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.