Hôm nay,  

Vô Ngôn Và Dấu Lặng

13/03/202600:00:00(Xem: 2259)
BỨC TRANH 8
 
Ngôn ngữ, chữ viết là một trong những phát minh quan trọng vào bậc nhất của nhân loại. Ngôn ngữ phát triển như một kết quả tất yếu của sự tiến hóa văn hóa xã hội. Mỗi ngôn ngữ phản ánh lịch sử, môi trường và nhu cầu giao tiếp của cộng đồng sử dụng nó. Còn chữ viết giúp lưu trữ tri thức, lịch sử, văn hóa. Chữ viết dẫn đến sự ra đời của văn chương, thi ca, một kho báu vô giá của loài người.
 
Thế nhưng, không phải lúc nào ngôn ngữ cũng thành công trong nhiệm vụ truyền tải thông điệp. Có những trường hợp, ngôn ngữ trở nên bất lực.
 
Niêm Hoa Vi Tiếu là một trong những giai thoại Phật Giáo nổi tiếng. Tương truyền rằng trong một dịp Đức Phật thuyết pháp tại Linh Sơn, ngài đưa một cành hoa lên (niêm hoa) để khai thị cho đại chúng. Chỉ có ngài Ca-diếp mỉm cười (vi tiếu). Đức Phật nói: Ta có Chánh Pháp nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâm, phó chúc cho Ma-ha Ca-diếp để lưu truyền trong tương lai. Vì là truyền tâm, cái tâm tuyệt đối, cho nên chỉ những người có đủ căn cơ mới nhận ra được. Không thể dùng ngôn ngữ thế gian mà thuyết giảng. Đây cũng chính là yếu chỉ của Thiền tông Đông Độ.
 
Vẫn liên quan đến Phật Giáo, trong tác phẩm Vào Thiền của nhà văn Doãn Quốc Sỹ có một giai thoại thiền ở ngay đầu sách: có một người ở thế tự treo lơ lửng trên một bờ vực thẳm, răng cắn lấy một cành cây để giữ toàn thân không bị rơi xuống. Thế rồi, trên một mỏm đá gần đó có người cúi xuống hỏi “Này anh, thiền là gì?” Không trả lời? Thua cuộc. Trả lời? Nát thây dưới đáy vực. Giải thích về thiền, tìm hiểu về thiền qua lời nói đơn thuần nguy hiểm như vậy đó! Dùng ngôn ngữ để diễn đạt các khái niệm, kinh nghiệm về thiền có khi dẫn đến sự hiểu lầm, hiểu không đầy đủ.
 
Ngôn ngữ không chỉ bất lực trong tôn giáo. Khoa học là một lĩnh vực thường có thể được giải thích tường tận, rõ ràng bằng ngôn ngữ, không thể hiểu lầm. Những học sinh trung học bắt đầu môn vật lý với Định Luật Quán Tính Newton: “Một vật không chịu tác dụng của lực nào, hoặc chịu tác dụng của các lực có hợp lực bằng không thì vật đang đứng yên sẽ tiếp tục đứng yên, đang chuyển động sẽ tiếp tục chuyển động thẳng đều.” Từ những định luật của Newton, các nhà khoa học tạo ra nhiều phát minh hữu ích cho nhân loại. Nhưng rồi ngành vật lý hiện đại phát triển, khám phá những khái niệm mới mà nhiều nhà khoa học cho rằng khó có thể diễn đạt bằng ngôn ngữ.
 
Đạo Của Vật Lý (The Tao of Physics) là cuốn sách xuất bản lần đầu vào năm 1974 của Fritjof Carpa, một giáo sư ngành vật lý tại các đại học và viện nghiên cứu nổi tiếng ở Anh, Mỹ. Sách được dịch sang tiếng Việt, xuất bản lần đầu vào năm 2001 bởi Tiến Sĩ Nguyễn Tường Bách, một du học sinh từ trước 1975, sinh sống ở Cộng Hòa Liên Bang Đức. Ông cũng là một nhà nghiên cứu Phật học uyên bác, có nhiều tác phẩm liên quan đến Phật Giáo. Đạo Của Vật Lý đưa ra những khám phá về sự tương đồng giữa vật lý hiện đại và đạo học Phương Đông như Phật Giáo, Ấn Độ Giáo, Lão Giáo… Trong sách có đoạn nói về sự thất bại của ngôn ngữ khi diễn đạt chân lý. Trong Chương Ba “Bên Kia Ngôn Ngữ” có trích hai câu nói, một của thiền sư D.T. Suzuki, một của nhà khoa học lượng tử Werner Heisenberg:
“Cái mâu thuẫn, cái làm cách tư duy thông thường bị lạc lối, xuất phát từ thực tế là, ta dùng ngôn ngữ để diễn tả nội tâm của ta, mà thể tính của kinh nghiệm đó lại vượt trên ngôn ngữ.” (Suzuki)
“Các vấn đề của ngôn ngữ ở đây là thật sự nghiêm trọng. Chúng ta muốn nói về cơ cấu của nguyên tử, nói một cách nào đó…Nhưng chúng ta không thể dùng ngôn ngữ thông thường mà nói về nguyên tử được.” (Heisenberg)
 
Các nhà vật lý thừa nhận rằng ngôn ngữ không những không chính xác mà còn hoàn toàn không phù hợp để mô tả thực tại của nguyên tử và thế giới hạ nguyên tử.
 
Nay nói đến âm nhạc, thế giới của thanh âm. Giai điệu, nhịp điệu của âm nhạc đem con người đến những thế giới diệu kỳ, làm cho đời sống thăng hoa. Nhưng âm nhạc cũng có sự yên lặng. Có bài nhạc có những dấu lặng. Những âm thanh trầm bổng có khi tăng thêm xúc cảm nhờ phối hợp với những khoảng im lặng đúng chỗ.
 
Có những nhạc sĩ hiện đại khám phá một thứ âm nhạc im lặng. Tiêu biểu nhất là tác phẩm gây tranh cãi 4’33” của John Cage (1912-1992). Tác phẩm này nổi tiếng vì nhạc sĩ không chơi bất kỳ nốt nhạc nào trên nhạc cụ trong suốt thời gian trình diễn. Thông điệp của tác giả có thể là âm nhạc hiện hữu ở khắp mọi nơi. "Âm nhạc" của 4'33" không phải là sự tĩnh lặng, mà là tất cả những âm thanh ngẫu nhiên vang lên trong khán phòng: tiếng gió, tiếng khán giả xì xào, tiếng ho...
 
Ít gây tranh cãi, dễ thưởng ngoạn hơn là trường phái âm nhạc tối giản (Minimalism music), với những âm thanh đơn giản và lặp đi lặp lại. Trên trang mạng https://www.classicfm.com/discover-music/best-pieces-minimalist-music/ có giới thiệu tác phẩm Für Alina (1976) của Arvo Pärt, một nhà soạn nhạc Estonia theo trường phái tối giản, người đã sáng tạo ra phong cách âm nhạc “tintinnabulum” (có nghĩa là “giống như tiếng chuông”). Für Alina sử dụng tối thiểu các nốt nhạc trên đàn piano để phác họa một khoảnh khắc tĩnh lặng gợi cảm:


Người nghe Für Alina có thể hình dung ra tiếng chuông; và có cảm giác giống như nghe tiếng chuông chùa. Trong khi tiếng chuông nhà thờ rộn ràng, réo gọi con chiên trở về với Chúa, thì tiếng chuông chùa tĩnh lặng, đem con người trở về với Phật Tánh có sẵn nơi tâm thức của chính minh.
 
Đạo Ca 7 “Qua Suối Mây Hồng” hay “Vô Ngôn” là một ca khúc trong mười bài Đạo Ca của nhạc sĩ Phạm Duy phổ thơ Phạm Thiên Thư. Trong Đạo Ca 7, truyền thuyết dân gian Sơn Tinh Thủy Tinh lần đầu tiên được diễn giải như là biểu tượng sức mạnh của vô ngôn. Theo lời giải thích của Phạm Duy, Mỵ Nương tượng trưng cho ý thức sáng tạo; Sơn Tinh là sự vắng lặng của ý niệm ngôn ngữ, sau cùng là người chiến thắng trong cuộc chiến dành trái tim của Mỵ Nương, cùng người đẹp đi vào đại thể. Ca khúc này được viết với thủ pháp hết sức tượng hình, diễn tả cuộc đối đầu giữa sự hung hãn của Thủy Tinh và sự tĩnh lặng của Sơn Tinh:

…Thề quyết không một trời
Thủy Vương vùng kiếm thét…
…Nhưng trên ngọn đỉnh núi
Chẳng được ai trả lời
Thủy Vương căm giận điếng
Xua quan quân thẳng tiến…
…Sơn Vương ngồi trên núi
Cùng Mỵ Nương mỉm cười…

Mỗi khi nói về Thủy Tinh, âm thanh như cuồng nộ. Khi nhắc đến Sơn Tinh, giai điệu trở nên thanh thoát. Cuộc chiến tranh thầm lặng đó kết thúc khi:

…Thủy Vương kêu thét mãi
Núi mù khơi thêm mù
Thủy Vương hộc thêm máu
Lui quân về biển khơi…

Cuộc chiến Sơn Tinh-Thủy Tinh đã để lại cho đời một bản “siêu hùng ca”, khi “Thiên Thư không cần chữ”; và cây sáo thần không cần lỗ vẫn “vi vu trong lòng người”. Sức mạnh của vô ngôn được diễn tả tuyệt đẹp!

 
Trong những ngày cận kề tết Nguyên Đán năm nay, Việt Báo có tổ chức ra mắt cuốn sách “Đuổi Bắt Một Mùi Hương” của nhà báo Phan Tấn Hải, cũng là cư sĩ Phật Giáo Nguyên Giác. Nhà báo Huỳnh Kim Quang có viết bài điểm sách đăng trên Việt Báo https://vietbao.com/p301420a324529/doc-duoi-bat-mot-mui-huong-cua-phan-tan-hai-nhu-quan-cong-an-thien. Trong truyện ngắn cùng tên sách “Đuổi Bắt Một Mùi Hương”, tác giả cả đời đi tìm một mùi hương hư ảo đã theo đuổi trong tâm trí từ hơn nửa thế kỷ. Anh Huỳnh Kim Quang có trích một đoạn khi đã có thể nhìn thấy mùi hương, nhà văn Phan Tấn Hải quyết định lấy giấy bút để vẽ mùi hương đó:
“…Ngay khi cầm cọ lên, tôi mới nhận ra rằng không có gì tự có trên đời này cả. Không có mùi hương nào là tự có cả. Tôi nhớ lời Thầy Tịch Chiếu nói năm xưa, rằng khi tôi trở về sân chùa ngồi và khi trên đồi vẫn còn chim kêu và vẫn còn gió thổi ào ạt, vậy thì tiếng chim kêu và tiếng gió bạt ở đâu.
“Tôi vẽ vòng tròn Thiền Tông lên giấy. Mực tàu loang trên giấy, và tôi thấy mình hiện ra trên đó, trên nét mực đó, có khuôn mặt của tôi, có khuôn mặt của nàng, có tiếng cười của mấy tên bạn đùa nghịch sân chùa Xá Lợi, có tiếng chim kêu trên núi Bình Dương, có tiếng Thầy Đồng Nguyên nói vọng lại từ Đại Tùng Lâm, có tiếng sóng biển Vũng Tàu, và trong nét mực trước mặt tôi đã có tất cả những âm thanh của trần gian này...”

Mười BứcTranh Chăn Trâu (Thập Mục Ngưu Đồ) của Thiền Tông diễn tả tiến trình thiền tập, tu tâm qua hình ảnh của người mục đồng chăn trâu. Mục đồng là thiền giả, con trâu tượng trưng cho tâm thức. Vòng tròn Thiền Tông anh Phan Tấn Hải nhắc đến là bức tranh thứ tám, có tên là “nhân ngưu câu vong,” trâu người đều quên.  Bức tranh chỉ có một vòng tròn trống rỗng. Người tu buông bỏ chấp ngã và chấp pháp, nhờ diệu dụng của trí tuệ Bát Nhã mà thấu suốt Tánh Không của vạn hữu. Đó cũng là tâm tịch lặng, rỗng suốt không ngăn ngại, giống như tấm gương trong sáng có thể phản chiếu mọi vật lên đó một cách trọn vẹn. Trong trạng thái đó, những nghĩ suy, tiếng nói thì thầm trong tâm thức sẽ đến rồi đi, chỉ còn Phật Tâm sáng rỡ hiện tiền an nhiên tự tại…
 
Từ ngày mở tài khoản Facebook cách đây đã 20 năm, tôi vẫn sử dụng ảnh đại diện là bức tranh chăn trâu thứ sáu “kỵ ngưu qui gia”, hay cỡi trâu về nhà. Thật là tình cờ, trong những ngày cuối năm tôi cũng quyết định đổi tấm hình này thành bức tranh thứ tám, vòng tròn Thiền Tông trống rỗng. Thời trai trẻ thích lý sự, tranh luận; khi sang Mỹ làm báo, lăng xăng với chữ nghĩa; tự nhiên cuối đời tôi lại khởi lên ước nguyện có được sự tĩnh lặng của vô ngôn.
 
Tôi nghe lại bản Thiền Ca Chăn Trâu Thứ Tám, suy ngẫm thêm về những dấu lặng trong âm nhạc, về sự bình an trong tĩnh lặng, về những điều không thể diễn đạt bằng chữ nghĩa, về những thông điệp có thể gởi đi để nhận được sự đồng cảm mà không cần sử dụng ngôn từ…


 
Doãn Hưng 
 

Có lẽ cách dễ nhất để hiểu Bảy tám năm của Bùi Chát không phải là nhìn nó như một dự án ý niệm về sự phai tàn, mà như một tình huống hội họa được kéo dài trong thời gian. Ở đó, tranh không chỉ được treo lên để xem, mà được đặt vào một hoàn cảnh đặc biệt: hoàn cảnh sẽ biến mất. Không phải như một tai nạn, mà như một điều kiện tồn tại.
Theo lẽ thường, con người học hỏi kiến thức, kỹ năng từ dễ đến khó. Lấy toán học làm ví dụ, những đứa trẻ vào tiểu học bắt đầu cộng trừ nhân chia; lên trung học biết thêm căn, lũy thừa; rồi đến các môn hình học, đại số, lượng giác, giải tích, tân toán học… Để hình tượng hóa mức độ phức tạp của toán học, người ta thường dùng bức ảnhnhà bác học Albert Einstein đứng trước tấm bảng với chằng chịt những phương trình mà không có mấy người hiểu được.
Giải thích thế nào về một cảm giác lơ lửng, lâng lâng như say sau khi đọc tuyển tập “Đi Vào Cõi Tạo Hình II” của họa sĩ Đinh Cường (1939-2016)? Khi tôi khép sách lại và vài ngày sau lại mở ra đọc lại, và rồi lại ngưng vài ngày rồi đọc lại. Tôi bâng khuâng. Tôi lạc lối. Như đang bước trên mây. Thế giới trong sách như dường tách biệt với cõi đời đầy những xung đột thế gian quanh tôi. Cuốn sách đưa độc giả vào một thế giới cực kỳ thơ mộng và rất riêng tư của Đinh Cường. Từng trang sách “Đi Vào Cõi Tạo Hình II” là một cuộc đi dạo với Đinh Cường trong một cõi của thơ, của tranh, của tượng, của mỹ thuật và của tình bạn nghệ sĩ. Tuyển tập II dày 180 trang, in trên giấy đẹp, dày để giữ hình ảnh, màu sắc của các họa phẩm gần như nguyên vẹn ở mức tối đa.
Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ (Vietnamese American Arts and Letters Association – VAALA) trân trọng thông báo thời gian chính thức mở liên hoan phim và ra thông báo tuyển phim cho Viet Film Fest 2026, đánh dấu 23 năm liên hoan phim tôn vinh nghệ thuật kể chuyện và văn hóa Việt Nam qua điện ảnh. Đại Hội Điện Ảnh Việt Nam Quốc Tế Viet Film Fest sẽ diễn ra từ ngày 9 đến 11 tháng 10 năm 2026 tại The Frida Cinema, số 305 E. 4th Street, thành phố Santa Ana, đồng thời kết hợp hình thức online để khán giả trên toàn nước Mỹ và quốc tế có thể thưởng thức đa số phim được tuyển chọn.
Một trò chơi dân gian mà thế hệ tôi thường chơi vào những ngày Tết là chơi bài “ngầu”, có nơi gọi “ngầu hầm” hoặc “ngầu tố”. Con số 785 là con số cụ thể của ba quân bài, mô tả việc đã “có ngầu” — đủ điều kiện để tiếp tục ở lại ván chơi. Tôi thích trò chơi này vì nó không có thứ bậc. Không ai hơn ai. Chỉ có hai loại người: có ngầu và không ngầu. Có ngầu nghĩa là còn lý do để chơi. Không ngầu nghĩa là rời khỏi bàn. Nghệ thuật cũng thế: không có tác phẩm “cao” hay “thấp”, “kinh điển” hay “thường dân”. Chỉ có kẻ còn dám liều trong chính giới hạn của mình, và kẻ đã thôi. Tôi gọi dự án này là Bảy tám năm – vừa là con số “ngầu” trong trò chơi, vừa là hạn sử dụng của tác phẩm. Tôi đã thử nghiệm một loại dung môi đặc biệt: khi pha với màu, nó khiến bức tranh tự tan biến dần theo thời gian. Sau bảy đến tám năm, toàn bộ màu sắc sẽ phai hết, chỉ còn lại tấm toan trắng. Không phải vì bị phá hủy, mà vì được lập trình để biến mất.
Nói về “nghe” ở Việt Nam là nói về một trong những hoạt động phổ biến nhất và ít được suy nghĩ nhất. Người Việt nghe mọi thứ: nghe nhạc, nghe người khác nói, nghe hàng xóm cãi nhau, nghe loa phường, nghe lòng mình, nghe cả những thứ không cần nghe. Nhưng nghe âm nhạc — đó mới là một môn nghệ thuật, hay đúng hơn, một môn thể dục tinh thần được tổ chức rầm rộ, từ phố thị đến thôn quê, từ quán cà phê đến sân khấu và truyền hình. Người Việt không chỉ nghe âm nhạc: họ trưng bày việc nghe như một phần bản sắc.
Chưa bao giờ tôi nghĩ mình lại xúc động với thể loại phim tài liệu, cho đến khi xem bộ phim tài liệu “The General” của nữ đạo diễn Laura Brickman (Mỹ), đã làm cho tôi thay đổi suy nghĩ của mình. Tôi thật sự đã rất xúc động, thậm chí, cho đến khi được mời phát biểu về bộ phim ngay sau đó, tôi vẫn còn nghẹn giọng. Vì chỉ mới vài chục giây đầu của phim, những ký ức của tôi về xã hội Việt Nam tưởng chừng đã ngủ yên từ hơn 2 năm qua, sau khi tôi đào thoát khỏi Việt Nam, thì chúng đã sống dậy hầu như trọn vẹn trong tâm trí của tôi. Chúng rõ mồn một. Chúng mới nguyên. Khiến cho tôi cảm giác như mọi chuyện vẫn như mới ngày hôm qua mà thôi.
Sân khấu từng là nơi người Mỹ cùng nhau mơ mộng. Ngày nay, ngay cả chỗ ấy cũng bị chính trị chia cắt. Trước cửa Trung tâm Nghệ thuật Kennedy — nay mang danh mới Donald J. Trump và John F. Kennedy — người ta giương bảng phản đối, ca sĩ hủy buổi diễn, và nền văn hoá từng tôn vinh tự do phản biện dường như đang co rút lại trong những vòng tin tưởng hẹp hòi của mỗi phe. Cuộc tranh chấp này nghe quen thuộc. Ba bốn mươi năm trước, khi hình ảnh cảnh sát Nam Phi đánh đập người da đen tràn ngập truyền hình, giới nghệ sĩ bên Mỹ hưởng ứng lời kêu gọi lương tâm: “Tôi không hát ở Sun City.”
Mùa xuân năm nay, trên công viên trên không High Line của thành phố New York sẽ xuất hiện một tác phẩm điêu khắc quy mô lớn: pho tượng Phật bằng sa thạch cao 27 bộ Anh, mang tựa The Light That Shines Through the Universe (Ánh Sáng Soi Thấu Vũ Trụ), do nghệ sĩ Việt–Mỹ Tuan Andrew Nguyen thực hiện. Tác phẩm sẽ được đặt tại Plinth, không gian dành cho các dự án điêu khắc luân phiên của High Line, thay thế cho pho tượng chim bồ câu khổng lồ Dinosaur của nghệ sĩ Iván Argote, đang trưng bày từ tháng 10 năm 2024.
Trên trang mạng Psychology Today có bài viết về lợi ích của việc bắt đầu học nhạc ở tuổi già. Người cao niên thường phải đối diện với nhiều thách thức như suy giảm nhận thức, cô lập xã hội, trầm cảm. Suy giảm trí nhớ, đặc biệt là suy giảm trí nhớ theo từng giai đoạn và trí nhớ làm việc, là một dấu hiệu của tiến trình lão hóa bình thường, những cũng có thể là dấu hiệu sớm của lão hóa bệnh lý. Tập thể dục, các hoạt động kích thích não bộ có thể giúp duy trì trí nhớ của người lớn tuổi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.