Hôm nay,  

Gọi Tên Bốn Mùa

27/03/202600:00:00(Xem: 1620)

em lễ chùa này
 
Có một lần ngồi nhâm nhi ly rượu vang Ý tại một quán nhỏ bên bờ kênh đào thơ mộng của Venice, nhìn những căn nhà cổ soi bóng nước, nhìn tài tử giai nhân dập dìu qua lại, tôi chợt nghĩ đến nhạc sĩ cổ điển người Ý Antonio Vivaldi. Ông sinh ra ở thành phố tình yêu này. Một xứ sở với thiên nhiên đẹp, con người đẹp, âm nhạc đẹp, thì người ta dễ yêu nhau lắm, mùa nào cũng là mùa của tình yêu!
 
Tác phẩm nổi tiếng nhất của Vivaldi chính là bản Concerto Bốn Mùa soạn cho violin và dàn nhạc. Đây là một bức tranh tuyệt đẹp, vẽ phong cảnh sống động của bốn mùa xuân-hạ-thu-đông, được phát họa bằng những nốt nhạc. Tổ khúc có bốn concerto; mỗi concerto có ba chương ngắn với bốn chủ đề Xuân-Hạ-Thu- Đông. Có lần một người bạn hỏi tôi làm sao để cảm nhận được rằng âm nhạc cổ điển có thể tả cảnh mà không sử dụng đến lời ca? Tôi đề nghị bạn nghe tổ khúc Bốn Mùa. Nghe nhạc cổ điển không lời cần nhiều đến trí tưởng tượng. Chương Một của bản concerto đầu tiên-Mùa Xuân- được viết ở cung Mi trưởng. Ngay từ những giai điệu đầu tiên, người nghe có thể tưởng tượng ra cảnh đất trời huy hoàng, hân hoan vào xuân. Ngay sau đó là tiếng các cây vĩ cầm đối đáp với nhau tựa như tiếng chim ríu rít líu lo chào xuân trên cành. Rồi cả dàn nhạc du dương với giai điệu như làn gió xuân mơn man:

 
Concerto Mùa Hè được viết ở cung Sol thứ. Ở Chương Ba, người nghe có thể cảm nhận được bầu không khí nóng oi ả chuyển mình thành những cơn mưa giông mùa hè. Giai điệu dồn dập như tiếng gió rít, rồi những hạt mưa rào đổ xuống. Thỉnh thoảng có cả tiếng sấm vang rền trên bầu trời vần vũ:


 
Concerto Mùa Thu được viết ở cung Fa trưởng, đưa người nghe về khung cành thanh bình của chốn thôn quê. Chương Ba như phác họa một cuộc đi săn trong rừng thu, với nhịp điệu như bước chân nhanh của đoàn người cùng đàn chó săn, có tiếng kèn đi săn vang vọng trong khu rừng:


 
Rồi Mùa Đông đến u uất với cung Fa thứ (F minor). Nhưng trong chương hai được viết ở cung Mi giáng trưởng, giai điệu như để diễn tả một cuộc đi dạo tĩnh lặng trong khung trời tuyết rơi nhè nhẹ. Kỹ thuật búng dây (pizzicato) những cây violin làm nền khiến người nghe liên tưởng đến tiếng tuyết rơi trên mái hiên nhà.

 
Nay bàn về ca khúc. Nhiều ca khúc Việt Nam cũng có chủ đề bốn mùa, có xuân-hạ-thu-đông đi qua trong lời hát. Gọi Tên Bốn Mùa là một ca khúc nổi tiếng của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, với lời ca mạng đậm phong cách tình khúc nhạc Trịnh. Chữ nghĩa bóng bẩy ẩn dụ, kích thích trí tưởng tượng của người nghe. Có giai thoại cho rằng bài hát này viết về một người con gái trong mối tình đầu đơn phương của người nhạc sĩ. Người nghe có thể hình dung ra hình ảnh người thiếu nữ ở độ tuổi xuân thì, hư hư thực thực ẩn hiện trong trời đất thay đổi theo bốn mùa:

Em đứng lên gọi mưa vào Hạ
Từng cơn mưa từng cơn mưa
Từng cơn mưa mưa thì thầm dưới chân ngà
Em đứng lên mùa Thu tàn tạ
Hàng cây khô cành bơ vơ
Hàng cây đưa em đi về giọt nắng nhấp nhô
Em đứng lên mùa Đông nhạt nhòa
Từng đêm mưa từng đêm mưa
Từng đêm mưa mưa lạnh từng ngón sương mù
Em đứng lên mùa Xuân vừa mở
Nụ xuân xanh cành thênh thang
Chim về vào ngày tuổi em trên cành bão bùng
Rồi mùa Xuân không về
Mùa Thu cũng ra đi
Mùa Đông vời vợi
Mùa Hạ khói mây
Rồi từ nay em gọi
Tình yêu dấu chim bay
Gọi thân hao gầy
Gọi buồn ngất ngây…
 
Đúng là lời ca làm người con gái với mái tóc “dài đêm thần thoại” càng thêm hư ảo. Giọng hát liêu trai của Khánh Ly với tiếng đàn guitar thùng thâu âm trước 1975 thật thích hợp ngữ cảnh của bài hát:

 
Nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ thường biết đến nhiều nhất qua bài hát Bồng Hồng Cài Áo về tình mẫu tử; hay bài Thương Quá Việt Nam về tình yêu quê hương đất nước. Có người ngạc nhiên khi biết tình khúc Tóc Mây cũng là của Phạm Thế Mỹ, với lời ca vô cùng thơ mộng, lãng mạng. Trong ca khúc này cũng có hình ảnh một người con gái với mái tóc dài, nhưng quyến rũ và gợi tình hơn:
Theo gió heo may đến đêm gọi tình
Một trời áo tím trong mắt trên môi
Như chiếc nôi êm ru cơn mộng lành
Gọi vầng trăng cũ sáng cho hồn vui
Như cánh hoa đêm đong đưa nụ tình
Gọi mời cơn gió hôn lá trên cao
Như cánh chim đêm bơ vơ một mình
Trời bao nhiêu gió tóc bao nhiêu buồn…
Rồi người con gái tóc dài xuất hiện qua bốn mùa, làm xôn xao tâm hồn tương tư của người nhạc sĩ:

…Mùa hè vui đôi chân chấp cánh
Tóc mây hồng cho mắt long lanh
Trời mùa đông môi em thắp nắng
Tóc mây dài, chân vui đường vắng
Rồi mùa xuân cây thay áo mới
Tóc mây vàng cho nắng thêm tươi
Rồi mùa thu xôn xao lá úa
Tóc mây buồn phủ kín tim tôi…

Qua giọng hát Thái Hiền, người con gái đẹp như trong tranh ấy lại càng thêm thanh thoát:


 
Đức Huy là một nhạc sĩ đa tài, đa tình. Ông viết nhiều tình khúc nổi tiếng từ trước 1975 như "Cơn Mưa Phùn" (1968), "Bay Đi Cánh Chim Biển" (1972), "Nếu Xa Nhau" (1970). Sau 1975 ra hải ngoại, sức sáng tác của Đức Huy vẫn mạnh mẽ. Nhạc của ông trẻ trung, mang phong cách nhạc Tây Phương, lời ca tình tứ, có đôi khi thật chân thành trong tình yêu. Ca khúc “Sao Vẫn Còn Mưa Rơi” được sáng tác vào năm 1984. Trong bài hát cũng có bốn mùa, nhưng không có người con gái nào xuất hiện, mà chỉ là tình cảm thương nhớ của người nhạc sĩ theo năm tháng về một cuộc tình vừa tan vỡ:
Bắt đầu trời vào đông
nhìn hàng cây trơ lá
những tháng dài chờ trông
từ ngày em vắng xa
Em đi làm nhung nhớ
niềm nhung nhớ chơi vơi
bây giờ là tháng hai
sao vẫn còn mưa rơi
Thế rồi trời vào xuân
tưởng rằng em sẽ đến
những tháng dài màn đêm
nào ngờ em đã quên
Em đi về nơi ấy
về nơi ấy xa xôi
bây giờ là tháng tư
sao vẫn còn mưa rơi…
…Thế rồi trời vào thu
nhìn hàng cây trút lá
những tháng dài chờ trông
từ ngày em vắng xa
trên con đường em bước
một chiếc bóng đơn côi
bây giờ là tháng mười
sao vẫn còn mưa rơi...

Giai điệu và lời hát đều tuyệt đẹp! Giai điệu trưởng mà vẫn man mác buồn. Trong tiếng guitar thùng lãng đãng, Đức Huy tự đàn tự hát Sao Vẫn Còn Mưa Rơi như lời kể về một người tình đã chia tay trong nhớ nhung lưu luyến:

 
Nói đến tình khúc thì không thể không nhắc đến Phạm Duy. Loạt ca khúc phổ thơ Phạm Thiên Thư vào khoảng đầu thập niên 1970s đã ghi dấu ấn trong lòng khán giả hâm mộ với những tình khúc bất hủ như Ngày Xưa Hoàng Thị, Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng. Em Lễ Chùa Này cũng nằm trong loạt sáng tác này, Phạm Duy phổ nhạc bài thơ Thoáng Hương Qua của Phạm Thiên Thư, kể về một mối tình qua bốn mùa, nhưng kết thúc buồn với sinh ly, tử biệt. Có giai thoại cho rằng trong thời gian còn là tu sĩ, nhà thơ chứng kiến hình ảnh thơ mộng, tựa như một mối tình chỉ mới thoáng qua giữa một chú tiểu và một cô gái trẻ đi lễ chùa quanh năm. Cả hai chỉ ở độ tuổi trăng tròn, gặp nhau mỗi khi cô gái lên chùa lễ Phật. Cô gái qua đời chỉ khoảng một năm sau, được an táng tại chùa. Hoàn cảnh bi thương đủ cảm hứng cho những dòng thơ tình nhưng vẫn thoát tục.
 
Em Lễ Chùa Này được Phạm Duy phổ thơ khá phóng khoáng, chỉ lấy ý chứ không theo nguyên bản của bài thơ. Dưới đây là một trích đoạn của bài thơ Thoáng Hương Qua:
Đầu xuân em lễ chùa này
Có búp lan vàng khép nép
Vườn trong thoáng làn hương bay
Bãi sông lạc con bướm đẹp
Vào hạ em lễ chùa này
Trên đồi trái mơ ửng chín
Lò hương có làn trầm bay
Vờn trên bờ tóc bịn rịn
Giữa thu em lễ chùa này
Lầu chuông có con chim hót
Tiếng ca theo làn gió may
Lá vàng sương gieo nhẹ hạt
Sang đông em lễ chùa này
Ngoài sân có mưa bụi bay
Hắt hiu trong cành gió bấc
Vườn chùa rụng cánh lan gầy
Cuối đông đưa em tới đây
Trong lòng áo quan gỗ trắng
Tóc em tợ óng làn mây
Cội hoa tưởng ai trầm lặng…
 
Và trích đoạn của lời ca Em Lễ Chùa Này:
Đầu mùa xuân cùng em đi lễ
Lễ chùa này vườn nắng tung bay
Và ngàn lau vàng màu khép nép
Bãi sông bay một con bướm đẹp
Mùa hạ qua cùng em đi lễ
Trái mơ ngon đồi gió mơn man
Từ lò hương làn trầm nghi ngút
Khói hương thơm bờ tóc em vờn
Rồi mùa thu cùng em đi lễ
Có con chim đậu dưới gác chuông
Hòa lời ca vào làn sương sớm
Gió heo may rụng hết lá vàng
Vào mùa đông cùng em đi lễ
Lễ chùa này một thoáng mưa bay
Và ngoài sân vài cành khô gẫy
Gió lung lay một cánh lan gầy
Tàn mùa đông vào chùa bỡ ngỡ
Tiễn đưa em trong áo quan này
Từng cội hoa trầm lặng thương nhớ
Tóc em xưa tơ óng như mây…

Có thể nhận thấy Phạm Duy như viết lại lời nhưng vẫn theo sát với ý tứ của bài thơ, một điều mà không phải nhạc sĩ phổ thơ nào cũng làm được. Thủ pháp âm nhạc của Phạm Duy trong Em Lễ Chùa Này rất độc đáo. Giai điệu chính ở cung La trưởng bốn câu đơn giản, trong sáng, lập lại trong hai phiên khúc đầu tiên (xuân- hạ). Sang phiên khúc thứ ba (thu) giai điệu được chuyển tông lên một quãng bốn (từ La trưởng lên Re trưởng), rồi trở về La trưởng ở phiên khúc thứ tư (đông). Ở phiên khúc thứ năm (cuối đông) khi cô gái qua đời, giai điệu được chuyển thành cung La thứ buồn bã, thương tiếc; trong phần nhạc đệm có cả tiếng mõ như bài kinh cầu tiễn đưa người vừa mất. Nghe Thái Thanh hát Em Lễ Chùa Này từ trước 1975 mới thấy được sự toàn bích của ca khúc phổ thơ này:



Nghe lại những tình khúc bốn mùa để thấy khi người ta yêu nhau, mùa nào cũng là mùa tình yêu. Và cho dù cuộc tình kết thúc với sự chia xa, sự quyến rũ của tình yêu vẫn luôn mời gọi người tình đến với người tình. Cái đẹp của tình vui hay tình sầu vẫn là bất tử.
 
Doãn Hưng

Có lẽ cách dễ nhất để hiểu Bảy tám năm của Bùi Chát không phải là nhìn nó như một dự án ý niệm về sự phai tàn, mà như một tình huống hội họa được kéo dài trong thời gian. Ở đó, tranh không chỉ được treo lên để xem, mà được đặt vào một hoàn cảnh đặc biệt: hoàn cảnh sẽ biến mất. Không phải như một tai nạn, mà như một điều kiện tồn tại.
Theo lẽ thường, con người học hỏi kiến thức, kỹ năng từ dễ đến khó. Lấy toán học làm ví dụ, những đứa trẻ vào tiểu học bắt đầu cộng trừ nhân chia; lên trung học biết thêm căn, lũy thừa; rồi đến các môn hình học, đại số, lượng giác, giải tích, tân toán học… Để hình tượng hóa mức độ phức tạp của toán học, người ta thường dùng bức ảnhnhà bác học Albert Einstein đứng trước tấm bảng với chằng chịt những phương trình mà không có mấy người hiểu được.
Giải thích thế nào về một cảm giác lơ lửng, lâng lâng như say sau khi đọc tuyển tập “Đi Vào Cõi Tạo Hình II” của họa sĩ Đinh Cường (1939-2016)? Khi tôi khép sách lại và vài ngày sau lại mở ra đọc lại, và rồi lại ngưng vài ngày rồi đọc lại. Tôi bâng khuâng. Tôi lạc lối. Như đang bước trên mây. Thế giới trong sách như dường tách biệt với cõi đời đầy những xung đột thế gian quanh tôi. Cuốn sách đưa độc giả vào một thế giới cực kỳ thơ mộng và rất riêng tư của Đinh Cường. Từng trang sách “Đi Vào Cõi Tạo Hình II” là một cuộc đi dạo với Đinh Cường trong một cõi của thơ, của tranh, của tượng, của mỹ thuật và của tình bạn nghệ sĩ. Tuyển tập II dày 180 trang, in trên giấy đẹp, dày để giữ hình ảnh, màu sắc của các họa phẩm gần như nguyên vẹn ở mức tối đa.
Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ (Vietnamese American Arts and Letters Association – VAALA) trân trọng thông báo thời gian chính thức mở liên hoan phim và ra thông báo tuyển phim cho Viet Film Fest 2026, đánh dấu 23 năm liên hoan phim tôn vinh nghệ thuật kể chuyện và văn hóa Việt Nam qua điện ảnh. Đại Hội Điện Ảnh Việt Nam Quốc Tế Viet Film Fest sẽ diễn ra từ ngày 9 đến 11 tháng 10 năm 2026 tại The Frida Cinema, số 305 E. 4th Street, thành phố Santa Ana, đồng thời kết hợp hình thức online để khán giả trên toàn nước Mỹ và quốc tế có thể thưởng thức đa số phim được tuyển chọn.
Một trò chơi dân gian mà thế hệ tôi thường chơi vào những ngày Tết là chơi bài “ngầu”, có nơi gọi “ngầu hầm” hoặc “ngầu tố”. Con số 785 là con số cụ thể của ba quân bài, mô tả việc đã “có ngầu” — đủ điều kiện để tiếp tục ở lại ván chơi. Tôi thích trò chơi này vì nó không có thứ bậc. Không ai hơn ai. Chỉ có hai loại người: có ngầu và không ngầu. Có ngầu nghĩa là còn lý do để chơi. Không ngầu nghĩa là rời khỏi bàn. Nghệ thuật cũng thế: không có tác phẩm “cao” hay “thấp”, “kinh điển” hay “thường dân”. Chỉ có kẻ còn dám liều trong chính giới hạn của mình, và kẻ đã thôi. Tôi gọi dự án này là Bảy tám năm – vừa là con số “ngầu” trong trò chơi, vừa là hạn sử dụng của tác phẩm. Tôi đã thử nghiệm một loại dung môi đặc biệt: khi pha với màu, nó khiến bức tranh tự tan biến dần theo thời gian. Sau bảy đến tám năm, toàn bộ màu sắc sẽ phai hết, chỉ còn lại tấm toan trắng. Không phải vì bị phá hủy, mà vì được lập trình để biến mất.
Nói về “nghe” ở Việt Nam là nói về một trong những hoạt động phổ biến nhất và ít được suy nghĩ nhất. Người Việt nghe mọi thứ: nghe nhạc, nghe người khác nói, nghe hàng xóm cãi nhau, nghe loa phường, nghe lòng mình, nghe cả những thứ không cần nghe. Nhưng nghe âm nhạc — đó mới là một môn nghệ thuật, hay đúng hơn, một môn thể dục tinh thần được tổ chức rầm rộ, từ phố thị đến thôn quê, từ quán cà phê đến sân khấu và truyền hình. Người Việt không chỉ nghe âm nhạc: họ trưng bày việc nghe như một phần bản sắc.
Chưa bao giờ tôi nghĩ mình lại xúc động với thể loại phim tài liệu, cho đến khi xem bộ phim tài liệu “The General” của nữ đạo diễn Laura Brickman (Mỹ), đã làm cho tôi thay đổi suy nghĩ của mình. Tôi thật sự đã rất xúc động, thậm chí, cho đến khi được mời phát biểu về bộ phim ngay sau đó, tôi vẫn còn nghẹn giọng. Vì chỉ mới vài chục giây đầu của phim, những ký ức của tôi về xã hội Việt Nam tưởng chừng đã ngủ yên từ hơn 2 năm qua, sau khi tôi đào thoát khỏi Việt Nam, thì chúng đã sống dậy hầu như trọn vẹn trong tâm trí của tôi. Chúng rõ mồn một. Chúng mới nguyên. Khiến cho tôi cảm giác như mọi chuyện vẫn như mới ngày hôm qua mà thôi.
Sân khấu từng là nơi người Mỹ cùng nhau mơ mộng. Ngày nay, ngay cả chỗ ấy cũng bị chính trị chia cắt. Trước cửa Trung tâm Nghệ thuật Kennedy — nay mang danh mới Donald J. Trump và John F. Kennedy — người ta giương bảng phản đối, ca sĩ hủy buổi diễn, và nền văn hoá từng tôn vinh tự do phản biện dường như đang co rút lại trong những vòng tin tưởng hẹp hòi của mỗi phe. Cuộc tranh chấp này nghe quen thuộc. Ba bốn mươi năm trước, khi hình ảnh cảnh sát Nam Phi đánh đập người da đen tràn ngập truyền hình, giới nghệ sĩ bên Mỹ hưởng ứng lời kêu gọi lương tâm: “Tôi không hát ở Sun City.”
Mùa xuân năm nay, trên công viên trên không High Line của thành phố New York sẽ xuất hiện một tác phẩm điêu khắc quy mô lớn: pho tượng Phật bằng sa thạch cao 27 bộ Anh, mang tựa The Light That Shines Through the Universe (Ánh Sáng Soi Thấu Vũ Trụ), do nghệ sĩ Việt–Mỹ Tuan Andrew Nguyen thực hiện. Tác phẩm sẽ được đặt tại Plinth, không gian dành cho các dự án điêu khắc luân phiên của High Line, thay thế cho pho tượng chim bồ câu khổng lồ Dinosaur của nghệ sĩ Iván Argote, đang trưng bày từ tháng 10 năm 2024.
Trên trang mạng Psychology Today có bài viết về lợi ích của việc bắt đầu học nhạc ở tuổi già. Người cao niên thường phải đối diện với nhiều thách thức như suy giảm nhận thức, cô lập xã hội, trầm cảm. Suy giảm trí nhớ, đặc biệt là suy giảm trí nhớ theo từng giai đoạn và trí nhớ làm việc, là một dấu hiệu của tiến trình lão hóa bình thường, những cũng có thể là dấu hiệu sớm của lão hóa bệnh lý. Tập thể dục, các hoạt động kích thích não bộ có thể giúp duy trì trí nhớ của người lớn tuổi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.