Hôm nay,  

Ao Hoa Súng – Bản Tự Truyện Cuối Đời Của Claude Monet

7/17/202600:00:00(View: 370)
Monet  
Một ngày hè 1905, Louis Vauxcelles đi tàu ra Giverny thăm nhà một họa sĩ đã ngoài lục tuần. Ông thấy Monet bước ra đón mình trong một bộ đồ ca rô màu kem, áo sơ mi lụa xanh, mũ da sậm màu, giày cao cổ da đỏ. Ăn mặc như một tay phong lưu hơi phù phiếm, nhưng vừa ăn trưa xong là ông vội giục khách: “Phải ra ao ngay, hoa súng sẽ khép lại trước năm giờ.” Họ đi xuống vườn. Vauxcelles kể lại, ông như lim dim trong một cơn mộng.

Lá nằm phẳng trên mặt nước, giữa lá là những vành hoa vàng, xanh, tím, hồng. Bờ ao là liễu rủ, những hàng dương, những khóm hoa do Monet tự tay trồng: lay-ơn, diên vĩ, đỗ quyên, những loài hoa loa kèn lạ mắt. Tất cả kết thành một phông cảnh không hoành tráng mà đẹp đến mức gần như không thật, “một giấc mơ phương Đông” ông gọi vậy. Buổi chiều, Vauxcelles vào xưởng, thấy trên tường là những mặt nước hoa súng ở mọi giờ trong ngày: tím nhạt buổi sớm, ánh đồng giữa trưa, tím sẫm của hoàng hôn. Đến tối, Monet lại đứng trên một chiếc thuyền nhỏ, ra giữa ao chỉ để dặn người làm vườn gỡ những cọng lá mục ra  khỏi mặt nước.

Những đóa hoa súng thật ấy – trôi rất chậm, gần như không động – rồi sẽ trôi tiếp trên mặt vải. Monet nói đến thơ Mallarmé, đến nhạc Debussy, bản Reflets dans l’eau viết cũng năm 1905. Ông nhìn ao nước như một khúc nhạc đang được chơi lần nữa bằng màu.

Từ “Ấn tượng, mặt trời mọc” đến Giverny

Hơn ba mươi năm trước, tháng 4 năm 1874, Monet và một nhóm bạn – Renoir, Pissarro, Degas, Berthe Morisot, Sisley, Cézanne – treo tranh chung trong một phòng nhỏ ở Paris. Họ gọi mình là “Hội vô danh của các họa sĩ, điêu khắc gia, khắc bản…”. Không ai ngờ bức Impression, Sunrise của Monet lại tạo cho cả một trào lưu cái tên: “Impressionistes”. Một nhà phê bình viết: “Họ không vẽ phong cảnh mà vẽ cảm giác phong cảnh gây ra.”

Monet, lúc ấy chưa đầy ba mươi, đã đẩy đến tận cùng lối nhìn mảng màu. Ông bảo một họa sĩ trẻ: hãy quên cái cây, cái nhà, cánh đồng trước mặt; chỉ nghĩ ở đây là một ô vuông xanh, kia là một hình chữ nhật hồng, một vệt vàng; cứ đúng màu, đúng hình mà đặt lên, cho đến khi trên mặt vải hiện ra ấn tượng riêng của mình. Những nét cọ gãy, ngắn, như những dấu phẩy màu chồng lên nhau. Với mắt cổ điển, tranh ông là một “cơn cuồng loạn impasto”, nhưng một trật tự mới trong hội họa đã lặng lẽ hình thành.

Đến 1905, Monet đã đi gần hết vòng đời. Ông dừng lại ở Giverny từ đầu thập niên 1880, và ở đó hơn bốn mươi năm. Ông quyết định không chỉ vẽ thiên nhiên nữa, mà tự tạo ra thiên nhiên cho riêng mình: đào ao, uốn lại bờ, dựng cầu Nhật, trồng cây, rải hoa súng. Ông biến khu vườn thành một xưởng vẽ ngoài trời, nơi mỗi thay đổi nhỏ của trời đất là một thử thách mới cho mắt và cho cọ.

Hoa súng – khi phong cảnh trở thành ý thức

Những bức Water Lilies đầu tiên của Giverny không giống bất cứ thứ gì đã có trước đó. Roger Marx – một người chứng kiến tinh tường – nói Monet đã “cắt đứt những ràng buộc cuối cùng với lối vẽ tả thực”. Thiên nhiên chỉ còn là một mảnh rất nhỏ: mặt nước bị cắt sát đến mức bờ, bãi, đường chân trời đều biến mất. Hoa súng dường như không nằm trên nước nữa, mà lơ lửng trong một thứ không khí ẩm, “phảng phất, tan vào, đánh thức trí tưởng tượng”.

Monet tự giải thích với nhà báo François Thiébault-Sisson: “Yếu tố căn bản của đề tài là tấm gương nước, vẻ ngoài đổi từng khoảnh khắc vì cách những mảnh trời phản chiếu xuống, cho nó sự sống và chuyển động. Mây trôi, gió nhẹ, một trận mưa, một cơn gió dữ, ánh sáng tắt đi hoặc bất thần chói lòa… mỗi thứ đều đổi màu và làm biến dạng mặt nước. Có lúc nó phẳng lặng, rồi bất chợt một gợn sóng phá ra, những gợn nhỏ gần như không thấy, hoặc những nếp lăn chậm làm cả mặt nước giống như một tấm lụa moiré.”

Đó là “một công việc vô cùng khó, mà lại quyến rũ”, ông nói. Bắt được “phút giây thoáng qua, hay ít nhất là cảm giác của nó” đã khó, ngay cả với một thành phố hay một cánh đồng bất động. Với nước – thứ luôn di chuyển – mỗi phút đều là một trạng thái mới. Ông nói một người “có thể dành cả đời cho công việc ấy”. Và gần như đúng như vậy: suốt ba mươi năm cuối đời, ông vẽ hơn 250 bức Hoa súng.

Trong những bức ấy, trời và đất phần lớn biến mất, chỉ còn một thế giới tràn nước. Không một điểm cố định neo mắt người xem. Monet chơi trên những căng kéo giữa mặt phẳng rộng, độ sâu nước, những bông hoa đan xen, những bụi lá rối; lúc thì hút ánh sáng vào, lúc thì phản chiếu nó. Loạt tranh là một cuộc giằng co giữa điều khiển và buông; giữa nét cọ muốn giữ lại, và những đóa hoa vẫn mở, vẫn khép theo nhịp riêng của chúng.


Nghệ sĩ trong vòng tròn ám ảnh của mình

Thư viết riêng cho bạn bè cho thấy mức độ cực đoan của loạt tranh này. Monet viết cho Durand-Ruel rằng ông “không có đủ bức hài lòng để làm phiền công chúng”. Ông trút từng lớp màu dày, dùng đủ loại sắc tố, rồi vẫn gọi đó là “phác thảo, nghiên cứu”. Sau bốn năm, ông cảm giác mình trở thành tù nhân của chính những bức tranh, nơi nước dường như chảy vào chính nó, còn trí óc thì quay vòng.

Ông tự chụp mình trong một bức ảnh kỳ lạ: bóng ông đội mũ rơm hiện trên mặt nước ao, như một Narcisse già đứng nhìn lại hình mình. Nhưng khác với nhân vật thần thoại, Monet không chết vì không rời được hình bóng đó; ông sống tiếp, già đi, mù dần, mà vẫn không dứt khỏi cái mặt nước ấy. Mỗi lần cúi xuống ao, ông không chỉ nhìn một đề tài hội họa, mà nhìn lại chính mình sau một đời chinh phục biển, sông, nhà thờ, thành phố.

Vauxcelles kể: Monet vẽ theo những cơn bốc. Khi thấy “đúng”, ông khép cửa, không tiếp ai – bạn bè, người mua cũng vậy. Rồi có những tuần ông không chạm đến cọ. Alice, người vợ thứ hai, vừa lo ông làm việc đến kiệt sức, vừa khổ vì những ngày ông nổi nóng vì mưa, vì ánh sáng xấu, vì một lời trêu chọc vụn vặt trong bữa ăn. “Buồn thay, khi có đủ sức khỏe, hạnh phúc, mà lại biến những ngày cuối đời thành địa ngục,” bà viết.

Năm 1907, ông thú nhận “rất nghiêm khắc với chính mình”, đã hủy ít nhất ba mươi bức, “trong một cảm giác nhẹ nhõm”. Năm 1908, ông sụp đổ về sức khỏe ngay sau khi đồng ý trưng bày bộ Hoa súng tại phòng tranh Durand-Ruel. Những cơn chóng mặt, mờ mắt khiến ông không còn tin vào khả năng đánh giá tranh của chính mình. Ông đóng cửa, hủy triển lãm. Báo chí Paris, London, Washington kể câu chuyện ông cắt nát những bức tranh trị giá cả gia tài trước mắt giới sưu tập đang mong chờ.

Mù dần trong ánh sáng

Những năm sau, Monet sống trong một thang đo mong manh giữa nhìn và không nhìn. Ông kể với báo Excelsior năm 1921 rằng mình “thấy ngày càng ít”, chỉ làm việc được chừng nào “ống màu và cọ chưa bị lẫn lộn”. Ông sẽ “vẽ gần như mù, như Beethoven soạn nhạc hoàn toàn điếc”. Có lúc thuốc nhỏ mắt giúp ông “thấy lại như đã lâu không thấy”, khiến ông vui như trẻ nhỏ trong vườn, “hưởng mọi sắc độ”, tận dụng quãng nhìn rõ hiếm hoi để sửa tranh.
Ông hoàn tất việc tặng một loạt Hoa súng cho Musée de l’Orangerie, đòi những căn phòng bầu dục, mái kính đón ánh sáng tự nhiên. Sau khi ông mất, những tấm panel ấy nằm im trong hai thập niên, ít ai để ý; đôi khi còn bị che lại để treo những cuộc triển lãm khác. Cả vườn Giverny, sau khi Blanche – con dâu kiêm con gái nuôi ông – qua đời, cũng hoang phế - tranh chất chồng trong xưởng, tường nứt, cửa vỡ, chim bay ra bay vào, hoa súng tự nở trên một mặt nước không ai còn chăm nom.

Thời gian, như thường lệ, đi đường vòng. Năm 1949, Barnett Newman nói với giám đốc MoMA: “Đừng nói với tôi cha tôi là ai, cha tôi không phải Cézanne. Cha tôi là Monet cuối đời, và các ông không có một bức nào của ông ấy trong sưu tập.” Vài năm sau, Clement Greenberg khẳng định ảnh hưởng của Monet trong “những bức tranh tiên phong nhất” ở Mỹ, và nói Hoa súng “thuộc về thời đại chúng ta, và tương lai, trên cả nỗ lực tổng kết của Cézanne.”
Robert Hughes, trong The Shock of the New, nhìn ao Giverny như một “lát vô tận”: mặt nước phẳng như mặt tranh, một mảnh vô hạn được đóng khung. Nỗ lực “chụp lấy cái vô định, giữ lại cái không bền, cho một hình hài và một nơi chốn cho những cảnh tượng khó gọi tên” – ông viết – chính là tham vọng sâu xa của chủ nghĩa hiện đại. Monet, ở Giverny, đã làm điều đó trước khi từ “hậu hiện đại” được nghĩ đến, trước cả Pollock, trước cả những vệt sơn bắn tung trên toan Mỹ.

Một chốn trú ẩn, cho ông và cho ta

Ngày hôm nay, người ta đến Giverny như đến một nơi hành hương. Ao hoa súng được phục dựng, cầu Nhật sơn lại, những lối đi uốn quanh. Nhưng dù tất cả có phần “sạch sẽ” hơn so với thời Monet, vẫn còn đó cảm giác ông đã chọn sống những năm cuối đời trong một không gian tự mình tạo ra, nơi hội họa không chỉ ghi lại thế giới, mà trở thành một cách sống trong thế giới.

Monet từng nói: “Ngoài hội họa và vườn tược, tôi chẳng làm được gì.” Câu nói nghe qua tưởng nhẹ, nhưng nhìn lại bộ Hoa súng, ta thấy nó nghiêm túc. Ao nước ấy, từng lá hoa ấy, từng lớp màu ấy là toàn bộ phần đời cuối của ông. Giverny là bản trường ca viết bằng màu, Hoa súng là chương dài nhất, và người họa sĩ già, gần như mù, vẫn kiên nhẫn viết đến hết dòng.
 
Cung Mi biên tập
 
 

Khi Donald Trump tấn công hệ thống bảo tàng Smithsonian, ông không chỉ nhắm vào một cơ sở văn hóa. Ông đang tìm cách kiểm soát câu chuyện nước Mỹ – và thu hẹp xem những ai được quyền bước vào câu chuyện đó.
Một bức tranh của danh họa Pablo Picasso bị đánh cắp trước đây vừa được phát hiện trong một cuộc bố ráp đường dây ma túy tại vùng ngoại ô Paris. Theo nguồn tin từ cảnh sát Pháp, cuộc đột kích diễn ra tuần qua tại Champigny-sur-Marne đã phát giác nhiều tang vật gồm tiền mặt, cần sa, hàng hiệu—và đáng chú ý nhất là một bức tranh Picasso trị giá hàng chục triệu euro. Ngôi nhà bị khám xét được cho là thuộc về người dì của một nghi can buôn ma túy.
Có lẽ, mọi câu chuyện về Georgia O’Keeffe đều nên bắt đầu từ một bức tranh bị vẽ đè lên. Mùa Đông 1907, trong một lớp học ở New York, cô sinh viên trẻ mang đến lớp bài tập của mình: hai cây dương dựng thẳng, bầu trời chảy giữa những cành khô được vạch ra dứt khoát, trong trẻo. Một chàng trai trong lớp, tốt bụng theo kiểu “thầy đời”, bảo cô: phải như thế này mới là hội họa, rồi cầm ngay bức tranh, rắc lên đó những chấm đỏ, xanh, lục, bôi nhòa đường nét, miệng thao thao giảng về Ấn tượng. Cô gái ngồi nhìn. Sau này bà kể lại, bà không hiểu gì về những danh từ mới mẻ ấy, chỉ biết bức tranh của mình đã bị làm hỏng. Ở đâu đó giữa lớp học náo nhiệt của thành phố này, một người đàn bà trẻ lặng lẽ rút ra một quyết định rất nhỏ mà rất triệt để: từ nay, không để ai vẽ thay mắt mình trên mặt toan nữa
Tôi có một nữ đồng nghiệp cùng gia đình vượt biên năm 10 tuổi, ở Mỹ nay đã hơn 40 năm. Chuyện cô nói tiếng Mỹ rành hơn tiếng Việt là điều dễ hiểu. Điều làm tôi ngạc nhiên là giọng nói, tính tình của cô lại rặc Nam Bộ, hơn nhiều cô gái quê ở Việt Nam ngày nay nữa. Cô sinh ra và lớn lên ở Long Xuyên; cha mẹ từng có ruộng cò bay thẳng cánh. Hỏi về chợ Long Xuyên, giòng An Giang, xứ Bảy Núi ra sao, cô chẳng nhớ. Nhưng vốn từ ngữ Việt của cô thì đặc sệt tính chất phác của vùng đồng bằng sông Cửu Long. “…Chèn đéc ơi, coi chừng dìa nhà dợ úynh phù mỏ …”; “Bà mẹ nó!” “…Khổ cho con nhỏ già này…”; “Ông già tía guên gồi…” Cô giải thích rằng từ lúc sang Mỹ, ở nhà vẫn nói chuyện với ba má bằng tiếng Việt, vì vậy mà không quên. Nhưng điều đó không giải thích được tại sao tâm tính của cô vẫn giữ nguyên chất thật thà, hồn nhiên của một cô gái quê miền Nam, mặc dù cô sống hoàn toàn như một “Mỹ con”.
Cộng đồng nghệ thuật Quận Cam sẽ hội tụ vào tối thứ Ba, ngày 29 tháng 9 năm 2026, tại Nhà hát Samueli, Trung tâm Nghệ thuật Segerstrom (Costa Mesa), để tham dự lễ trao giải Orange County Arts Awards lần thứ 26, do tổ chức phi lợi nhuận Arts Orange County tổ chức. Đặc biệt năm nay, sau 26 năm với trên dưới 90 giải, Arts Orange County lần đầu tiên trao giải Helena Modjeska Cultural Legacy (Giải Di sản Văn hóa) cho một họa sĩ người Việt, Họa Sĩ Ann Phong, nhằm ghi nhận công lao bà đã trọn đời cống hiến cho nghệ thuật.
Vào những ngày đầu hạ năm 2026, nhóm bạn trẻ chúng tôi đọc được bài viết từ một trong những tri âm của dòng nhạc Lê Uyên Phương ở thế hệ trước, ông Đỗ Vẫn Trọn. Chúng tôi được sanh trưởng và lớn lên sau khi những sáng tác của Lê Uyên Phương chào đời và được đón nhận nồng nhiệt kể từ thập niên 1970. Chúng tôi chân thành giới thiệu bài viết của ông Đỗ Vẫn Trọn, như tiếng nói của một nghệ sĩ ngành truyền thông, góp phần giữ lại những điều có ý nghĩa trong đời sống tinh thần cho thế hệ tiếp nối
Ở đỉnh cao sự nghiệp, Jackson Pollock trải rộng một tấm bố dài hơn ba mét rưỡi ngay trên nền nhà kho ở Long Island. Ông không dùng giá vẽ, không còn những nhát cọ “đúng bài”. Ông đi quanh tấm toan, hất, hắt, để sơn văng, chảy, rơi xuống mặt vải, những vệt đen cuộn theo nhịp thân thể. Tác phẩm ấy, mang tên Number 7A, 1948, vừa trở thành bức tranh đắt nhất của Pollock từng xuất hiện trên sàn đấu giá: 181,2 triệu đô-la, trong một phiên đấu tại Christie’s New York ngày 18 tháng 5. Chỉ trong bảy phút, giá đã leo lên 157 triệu đô-la, mỗi lần nhích gần như đúng một triệu, giữa cuộc đấu tay đôi của những người đủ giàu để bước vào cuộc chơi ấy.
Đó là một buổi chiều thơ mộng, khi nhiều bạn văn tụ hội lại để mừng một tác phẩm mới ấn hành. Họ đã nghe nhạc, nghe phê bình về phê bình, và nói chuyện về các bài viết trong sách mới của Bùi Vĩnh Phúc. Họ đã thay nhau nhận định về thơ, về tùy bút, về triết học, về mọi lĩnh vực văn chương để mừng một tác phẩm tập họp các bài được viết từ nhiều thập niên mới ấn hành. Hôm Thứ Bảy 16 tháng 5/2026 là một ngày của hàn lâm và thơ mộng, khi nhà phê bình văn học Bùi Vĩnh Phúc ra mắt tác phẩm mới của anh -- "Bùi Vĩnh Phúc: Chữ Nghĩa & Không Gian Văn Chương" -- tại Coffee Factory 15582 Brookhurst St., Westminster, California.
Những câu chuyện về cây đàn guitar từ trời Âu Mỹ cho đến mảnh đất Việt Nam hình cong chữ S tưởng như kể không bao giờ hết, càng tôn vinh thêm tính nhân dân của cây đàn huyền thoại này…
Ẩn Lan xuất hiện trong thơ ông không nhiều. Chỉ một lần Vương Quan thốt lên gọi “Ẩn Lan ơi! Mái tóc thề.” Chỉ nỗi nhớ rất đơn sơ đó thôi cũng đã làm cho nhạc sĩ họ Phạm ngây ngất. Mái tóc của Ẩn Lan là hình ảnh thực tế duy nhất ông miêu tả về nàng. Mái tóc ấy “buộc chùm hoa ngâu vàng.” Mùi hương mái tóc ấy, qua cảm nhận của chàng nhạc sĩ, nó là “nỗi buồn thơm lâu,” để rồi “gọi em là đóa hoa sầu.”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.