Hôm nay,  

Kẻ Khờ

08/05/202600:00:00(Xem: 580)

 

ke kho

 

Có những cuốn tiểu thuyết chỉ kể một câu chuyện.

Có những cuốn khác không kể gì nhiều. Nó chỉ mở một cánh cửa, để một câu hỏi bước vào. Một câu hỏi nguy hiểm: điều gì sẽ xảy ra nếu một người thật sự hiền lành đi giữa một thế giới đã hư hỏng?

Kẻ Khờ (The Idiot) của Fyodor Dostoevsky là một câu hỏi như thế.

Không hẳn là một cuốn truyện. Đúng hơn, nó là một cuộc thử nghiệm đặt trên linh hồn con người. Một linh hồn trong suốt được đem thả vào giữa một căn phòng đầy khói, đầy gương, đầy những tiếng cười kín đáo và những vết thương không chịu lành.

Ở giữa căn phòng ấy là Hoàng thân Myshkin.

Myshkin trở về nước Nga sau nhiều năm bệnh tật và cách biệt. Ông trở về không mang theo một tham vọng nào, không một kiêu hãnh nào, không một mưu tính nào được giấu dưới lớp áo lịch sự của xã hội. Ông chỉ có lòng thương. Một thứ lòng thương lặng lẽ, không trang điểm, không tự khoe mình, gần như lạc loài giữa một thế giới quen sống bằng dục vọng, quyền lợi, và những cái tôi bị đánh bóng quá lâu.

Bi kịch bắt đầu từ đó.

Vì lòng tốt của Myshkin không làm người ta yên lòng. Nó làm người ta khó chịu.

Người ta gọi ông là kẻ khờ. Không phải vì ông thiếu trí khôn. Trái lại, có lẽ vì ông nhìn thấy quá rõ những điều người khác cố tình che giấu. Ông không biết nói dối cho lịch sự. Không biết tàn nhẫn cho đúng phép. Không biết lạnh lùng để được xem là khôn ngoan. Ông lắng nghe khi người khác nói dối. Ông tha thứ khi người khác mưu toan. Ông nhận ra đau khổ ở nơi người đời chỉ nhìn thấy một sự yếu đuối đáng khinh.

Trong một xã hội sống bằng mặt nạ, người không mang mặt nạ trở thành một điều xúc phạm.

Cuốn truyện đi quanh hai người đàn bà như đi quanh hai ngọn lửa. Nastasya Filippovna là ngọn lửa đã bị gió đen thổi qua: kiêu hãnh, bị thương tổn, đẹp một vẻ đẹp gần như tự hủy. Nàng không tin tình yêu, vì đời nàng đã bị dạy quá sớm rằng tình yêu cũng có thể là một hình thức mua bán. Nàng đốt mình trước khi để người khác đốt mình.

Aglaya Epanchin lặng hơn, nhưng không kém phần nguy hiểm. Nàng mang trong mình thứ kiêu hãnh của tuổi trẻ, thứ mơ mộng muốn tìm một điều tuyệt đối giữa đời sống tầm thường. Với nàng, Myshkin không chỉ là một người đàn ông. Ông là một dấu hiệu. Một ánh sáng. Một điều nàng muốn tin, nhưng cũng không đủ khiêm nhường để đón nhận.

Đứng giữa hai người đàn bà ấy là Myshkin. Không phải như một anh hùng để chọn lựa và chiến thắng. Ông đứng đó như một người cảm thấy quá nhiều, hiểu quá sâu, và vì thế không thể bước về phía nào mà không làm vỡ một điều gì trong chính mình.

Đó là chỗ tàn nhẫn của Dostoevsky.

Ông không viết một câu chuyện trong đó lòng tốt cứu được thế giới. Ông viết một câu chuyện trong đó lòng tốt bị thế giới nhìn ngắm, thử thách, nghi ngờ, rồi nghiền nát. Không bằng một nhát dao. Bằng từng cái nhìn. Từng lời nói. Từng sự hiểu lầm. Từng bàn tay đưa ra quá muộn.

Kẻ Khờ ám ảnh vì nó không chịu an ủi người đọc. Nó không cho đức hạnh một phần thưởng. Nó cũng không bắt sự tàn nhẫn phải trả giá theo lối công bình dễ dãi của tiểu thuyết thường tình. Nó chỉ đặt trước mắt ta một sự thật lạnh: một người hoàn toàn tử tế có thể không sống nổi trong một thế giới đã mất khả năng nhận ra sự tử tế.

Người ta thường gọi Myshkin là một hình ảnh gần với Chúa Kitô. Nhưng Dostoevsky không dựng ông thành một đấng cứu rỗi. Ông không cho Myshkin quyền năng. Không cho ông vinh quang. Không cho ông cả sự bảo vệ tối thiểu mà một tâm hồn trong sạch cần có để khỏi bị đời sống làm cho tan nát.

Myshkin chỉ là một câu hỏi.

Một câu hỏi mong manh đặt trước nhân loại:

Con người có thể sống hiền lành đến thế được không?

Và nếu có, thế giới này có để cho người ấy sống không?

Đến cuối truyện, không có câu trả lời. Chỉ còn một khoảng lặng. Một khoảng lặng nặng như tuyết trên mái nhà Nga. Trong khoảng lặng ấy có tiếc nuối, có điên loạn, có những căn phòng đã tắt đèn, có một vẻ đẹp bị làm nhục, và có cảm giác rằng một điều trong sạch vừa mất đi trước mắt ta mà không ai kịp giữ lại.

Khép sách rồi, Myshkin vẫn còn đó.

Không phải như một nhân vật.

Như một vết thương.

Và điều đáng sợ nhất không phải là thế giới đã phụ bạc ông.

Điều đáng sợ nhất là thế giới không cần đổi khác để phụ bạc ông.

Nó chỉ cần là chính nó.

Cung Mi biên tập

 

Mua sách tại đây

“Nước hiện cũng ở quanh tôi, quanh anh chị. Nó ở ngay trang sách này mà ta đang đọc. Ở trong màn hình tôi đang nhìn, trong bàn phím máy computer tôi đang gõ, ở trong cái áo cái quần tôi đang mặc, trong bức tranh trên trên tường…, kể cả trong cái đinh đóng trên đó. Tôi không thấy nó vì tôi ít khi chịu khó nhìn kỹ để thấy nó. Nhưng có điều bây giờ tôi biết rất rõ rằng: không có nước thì cái thằng tôi này cũng không có; không có nước thì cũng không có anh, không có chị ngồi đó mà đọc trang sách này. Cái bàn, cái ghế, cái cây, cái đám mây ngoài kia… cũng không tuốt.” (tr. 158) Không chỉ có vậy đâu mà còn nhiều nữa. Văn Công Tuấn, trong tác phẩm “Chớ Quên Mình Là Nước,” đã dẫn người đọc từ chuyện đất và nước trong đời thường, trong khoa học, trong văn chương tới chuyện đất và nước trong lãnh vực quốc gia dân tộc, từ chuyện đất và nước trong triết học với bản thể và diệu dụng của nước, bước sang chuyện lấy cơ duyên đất và nước để nói đến chuyện thực chứng tâm linh để giác ngộ và giải thoát
Tôi cố ý tìm tòi và trích dẫn nhiều ý kiến của Nguyễn Hiến Lê và cảm nhận về từng tác phẩm Nguyễn Hiến Lê của nhiều tác giả khác. Tôi rất mong được cung cấp càng nhiều thông tin, sự kiện, chi tiết liên quan đến tác phẩm càng tốt, để tiện việc tham khảo và nghiên cứu về Nguyễn Hiến Lê.
Kể từ tập thơ Vườn Dĩ Vãng ấn hành năm 1972 của thời trai trẻ phục vụ trong quân ngũ nơi quê nhà cho đến tác phẩm Hồi Sinh thực hiện năm 2020 nhưng vì trục trặc kỹ thuật, ấn hành năm 2021 nơi xứ người, nhà thơ Trần Văn Sơn đã trải qua cuộc hành trình từ những bài thơ xuất hiện trên trang báo ở Sài Gòn vào giữa thập niên 60 cho đến thời điểm ấn hành tuyển tập nầy với thi ca hơn nửa thế kỷ.
Trong tuyển tập “Vằng Vặc Một Mảnh Lòng,” có nhiều bài rất giá trị mà cũng khó tìm, như bài “Lời Giới Thiệu Luận Án Tiến Sĩ Phật Học Đại Học Bihar - Ấn Độ, 1961 Của Tỳ Kheo Thích Minh Châu: So Sánh Kinh Trung A Hàm Chữ Hán và Kinh Trung Bộ Chữ Pali do vị Viện Trưởng, Tân Tòng Lâm Nalanda S. Mookerjee viết vào ngày 23 tháng 3 năm 1964, và Thích Nữ Trí Hải dịch Việt. Hoặc như bài “Huyền Trang Và Công Cuộc Thỉnh Kinh Vô Tiền Khoáng Hậu Của Nhân Loại” của học giả Nguyễn Hiến Lê, và bài “Như Lai Vô Sở Thuyết” của kịch tác gia Vũ Khắc Khoan.
Khi đọc bài “Bên Bờ Tử Sinh” của nữ văn sĩ Đỗ Dung thuộc Ban Điều Hành diễn đàn Minh Châu Trời Đông, tôi cũng thấy lòng nhẹ nhàng theo, tác giả bị căn bệnh hiểm nghèo bác sĩ nói chỉ sống thêm vài năm nữa, mà nhờ nhiếp tâm thiền định, chẳng những thoát khỏi cây cầu sinh tử mà tác giả còn sống yêu đời và trở thành một nhà văn với nhiều sáng tác đi vào lòng độc giả.
Nguyễn Hưng Quốc cho rằng “Nhà thơ không làm ra chữ, chính chữ làm nên nhà thơ.” Vế thứ hai của bài thơ này thì có vẻ dễ hiểu, bởi vì chính người làm ra bài thơ thì mới được gọi là nhà thơ. Nhưng vế đầu của bài thơ thì không dễ hiểu tí nào cả, bởi vì “nhà thơ không làm ra chữ,” thì nhà thơ làm ra gì? Có lẽ chúng ta nên quay lại mật thất thứ hai trong đó ghi những bí quyết làm thơ thì chắc có câu trả lời. Đúng vậy, trong mật thất thứ hai, Nguyễn Hưng Quốc nói anh “hóa kiếp thành chữ,” và “nhập thể vào chữ.” Bởi thế, nhà thơ không còn đứng ngoài chữ để nói mình làm ra chữ. Nhà thơ là chữ. Chữ là nhà thơ. Và do vậy, nhà thơ họ Nguyễn mới nói “Bao giờ hắn cũng muốn viết một cái gì đó, nhưng chỉ khi hắn không viết, hắn mới thực là nhà thơ.”(649) Cao siêu! Đây quả là cảnh giới thượng thừa của nghệ thuật. Trong “909 Bài Thơ Ba Dòng” có nhiều điều khác mà Nguyễn Hưng Quốc cảm tác về tình yêu, chuyện vợ chồng, biển, sóng nước, mây, gió, trăng, mưa, mùa thu, lá vàng, nắng, hoa, sương đêm,
Đọc những truyện ngắn Trần Doãn Nho viết từ trước 1975 đến thời gian gần đây, có thể thấy anh sáng tác trong ý thức sâu sắc về thể loại và nghệ thuật viết truyện ngắn. Truyện của anh luôn có sự đầu tư công phu về ý tưởng, hình ảnh, ẩn dụ, chủ đề… lồng trong cấu trúc chặt chẽ của tổng thể, trong đó các yêu cầu về miêu tả, tường thuật, đối thoại, diễn tiến, tư tưởng giữ một tỷ lệ hài hoà và hữu hiệu.
Nội dung của 60 bài pháp được nữ sĩ Ryoun Jokan ghi chép lại trong suốt năm nhập thất (đại kết thất) 1690, trước khi Thiền Sư Bankei Yotaku viên tịch 3 năm, là những việc hỏi đáp giữa Thầy và trò, giữa Thiền Sư và võ sĩ đạo, giữa người mù và người sáng mắt, giữa chấp có và chấp không v.v… chung quy là Tâm ấy chẳng sanh và Tâm ấy chẳng diệt. Tâm ấy cũng còn gọi là Phật Tâm hay Tâm Phật không sanh, Tâm Phật không diệt.
“Đôi khi Chàng gần, đôi khi Chàng xa / Chàng vẫn ngồi đâu đó từ hôm qua / Cho đến hôm nay, và ngày mai nữa / Dòng sông vẫn đầy và trôi đi xa.”
Cầm trên tay tuyển tập nhiều tác giả viết về Tiếng Hát Thu Vàng vừa mới xuất bản tại California, Hoa Kỳ, mà chị Thu Vàng nhờ nhà văn và nhà báo Phan Tấn Hải mang đến tặng cho anh chị em trong Tòa Soạn Việt Báo, đọc qua mục lục tôi thấy có khoảng 40 nhà văn, nhà thơ, nhà giáo, nhà báo, nhạc sĩ và họa sĩ viết về tiếng hát của nữ ca sĩ Thu Vàng. Tôi nghĩ tiếng hát của nữ ca sĩ Thu Vàng đã thực sự chinh phục được cảm tình của nhiều người nghe, trong đó có tôi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.