Hôm nay,  

Câu Chuyện Đằng Sau “Ode To Joy” Của Beethoven

5/15/202600:00:00(View: 207)
 beethoven
 
Ludwig van Beethoven không bước vào “Ode to Joy” bằng niềm vui. Ông bước vào đó bằng bệnh tật, cô độc, chiến tranh, nghèo túng, và bằng thứ im lặng khủng khiếp nhất đối với một nhạc sĩ: tiếng đời tắt dần trong tai mình.

Khi còn trẻ, Beethoven đã mê bài thơ “Ode to Joy” của Friedrich Schiller. Đó không chỉ là một bài thơ ca tụng niềm vui, thực chất là một bài ca về tự do: một bản tuyên ngôn bốc lửa cho lý tưởng: nếu tự do, công lý và hạnh phúc con người được đặt vào trung tâm của đời sống, được xem như đối tượng tận hiến cao nhất – trong chính trị cũng như trong mỗi phận người – thì hòa bình và nhân hậu sẽ đến như hệ quả tất yếu, như “một cái hôn dành cho cả thế giới,” Schiller viết, và cậu thiếu niên Beethoven đã nghe trong câu thơ ấy một lời gọi. Ông giữ nó trong lòng gần ba mươi năm.

Ba mươi năm ấy không yên ổn. Cách mạng Pháp đổ máu. Chiến tranh Napoleon giày xéo Âu châu. Vienna, nơi Beethoven sống và sáng tác, bị quân Pháp chiếm đóng. Thành phố của âm nhạc vang tiếng trống trận, tiếng đại bác, tiếng người đói khổ. Còn trong đời riêng, Beethoven cũng bị xô qua hết nạn này đến nạn khác. Tình yêu không thành. Gia đình rạn vỡ. Em mất. Ông vướng vào cuộc tranh chấp quyền nuôi cháu kéo dài. Thân thể suy kiệt. Thính giác gần như mất hẳn.

Một người viết nhạc mà không còn nghe được đời. Nhưng cuộc đời vẫn không ngừng nghe ông.

Năm 1822, Beethoven ra khỏi nhà đi bộ. Với ông, đi bộ là cách nghĩ. Những ý tưởng thường đến trên đường, giữa nhịp chân và nhịp trí tưởng. Hôm ấy, trong đầu ông đang xoáy lên hình hài của một tác phẩm lớn. Ông đi mãi, qua khỏi thành phố, quên giờ giấc, quên đói, quên mệt, quên cả chính mình.

Đến chiều, cảnh sát bắt gặp một người đàn ông áo quần xộc xệch, không giấy tờ, lang thang ngoài vùng quê. Họ bắt ông vì tưởng là kẻ khả nghi. Khi ông nói mình là Beethoven, họ cười. Một thiên tài đã có tám bản giao hưởng, nhiều sonata, concerto, và danh tiếng khắp Âu châu, bỗng bị nhốt như một gã vô gia cư.

Gần nửa đêm, một viên chức âm nhạc địa phương được gọi đến. Ông nhận ra Beethoven ngay. Những lời xin lỗi vội vã được đưa ra. Sáng hôm sau, thị trưởng đích thân đưa Beethoven về Vienna bằng xe ngựa.

Người bị bắt lầm ấy đang mang trong đầu phần kết cho Bản Giao Hưởng Số 9.

“Ode to Joy” sẽ trở thành đoạn hợp xướng cuối cùng của bản giao hưởng ấy. Quyết định này táo bạo đến mức gần như ngang ngược. Trước Beethoven, giao hưởng là lãnh địa của nhạc cụ. Không ai đem lời thơ và tiếng hát con người đặt vào đó theo cách ấy. Nhưng Beethoven không cần lặp lại điều đã có. Ông cần một hình thức đủ lớn để chứa khát vọng đã theo ông từ tuổi trẻ: làm sao biến đau khổ thành ánh sáng, biến hỗn loạn thành trật tự, biến một bài thơ về tình huynh đệ thành tiếng gọi của cả nhân loại.

Ông làm việc trong thiếu thốn, tìm từng khoản tiền nhỏ để sống trong lúc viết. Hơn một năm, Beethoven vật lộn với cấu trúc, giọng hát, dàn nhạc, và cách đưa lời thơ vào phần cuối. Tin đồn lan khắp Vienna rằng ông đang viết một tác phẩm khác thường. Lúc đầu, Beethoven định cho trình diễn tại Berlin. Vienna nổi giận. Những người ái mộ ông viết thư nài nỉ, nhắc rằng chính thành phố này đã nuôi lớn thiên tài của ông bên cạnh bóng dáng Mozart và Haydn.

Beethoven đổi ý. Buổi ra mắt được định vào ngày 7 tháng 5 năm 1824 tại Vienna.

Ông chọn bốn ca sĩ độc xướng, dựng một dàn nhạc lớn vượt lệ thường, rồi đưa ra điều khiến mọi người lạnh gáy: ông muốn tự mình chỉ huy. Ai cũng biết ông gần như điếc hẳn. Nhà hát đành chiều, nhưng đặt một nhạc trưởng khác đứng cạnh ông. Dàn nhạc và ca đoàn được dặn phải theo người nhạc trưởng ấy, không theo tay Beethoven.


Hai buổi tập trước ngày diễn đầy trắc trở. Ca sĩ than không thể hát nổi. Một người bỏ cuộc. Người khác phải thay vào. Beethoven bị gọi là kẻ bạo ngược với cổ họng con người. Nhưng tác phẩm đã đi đến cửa. Không ai còn có thể chận nó lại.

Chiều 7 tháng 5, khán giả Vienna kéo đến chật phòng hòa nhạc. Beethoven bước ra, quay lưng về phía người nghe, giơ tay lên. Ông chỉ huy một thứ âm nhạc mà chính ông không còn nghe bằng tai. Nhưng ông nghe nó bằng trí nhớ, bằng xương tủy, bằng cả một đời bị dồn vào câm lặng.

Khi âm nhạc cất lên, những va vấp của buổi diễn không còn quan trọng. Bản giao hưởng đi qua bóng tối, giận dữ, tranh chấp, rồi mở ra một vùng sáng rộng lớn ở phần cuối. “Ode to Joy” không phải tiếng cười niềm vui dễ dãi của người chưa biết khổ. Đó là niềm hoan hỷ của người đã đi qua đổ nát mà vẫn không chịu giao linh hồn mình cho tuyệt vọng.

Hợp âm cuối vừa dứt, khán phòng bùng nổ. Người ta đứng dậy, vỗ tay, vẫy khăn, gọi tên Beethoven. Nhưng ông vẫn quay lưng về phía họ, tay còn đưa theo nhịp muộn của âm nhạc đang vang trong đầu. Ông không nghe thấy tiếng hoan hô.

Karoline Unger, nữ ca sĩ hát trong buổi ấy, bước đến, cầm tay ông, nhẹ nhàng xoay ông lại.

Trước mặt Beethoven là cả khối người bùng nổ không chỉ một, không chỉ hai, không chỉ ba, mà bốn đợt vỗ tay như núi lửa, cho đến khi viên Cảnh sát trưởng hét lên “Im lặng!” trên đợt thứ năm. Rốt cuộc, đó vẫn là thời cách mạng, và nghệ thuật nào khơi dậy trong linh hồn con người một phản ứng dữ dội đến thế — dù phản ứng ấy là niềm hoan lạc tột cùng — cũng là nghệ thuật nguy hiểm. Ở đây, trong thông điệp không thể đánh bại của “Ode to Joy,” vang lên lời kèn gọi nhân loại vứt bỏ mọi thần tượng giả đã nuôi dưỡng một thế kỷ chiến tranh không dứt và hàng ngàn năm bất bình đẳng — những chia rẽ quốc gia và đẳng cấp, những áp bức của giáo điều và truyền thống — để cùng đứng lại với nhau trong lòng cảm thông và tình liên đới phổ quát.

Từ đêm ấy, “Ode to Joy” không còn thuộc riêng về Beethoven hay Schiller. Nó đi vào trí nhớ nhân loại như một khúc ca của tự do và phẩm giá. Người ta hát nó trong những cuộc xuống đường chống độc tài. Người biểu tình Chile hát nó khi họ lật đổ chế độ độc tài Pinochet. Các nhạc sĩ Nhật trình diễn nó sau trận động đất và sóng thần Tōhoku. Sinh viên Trung Quốc mở nó vang lên tại Thiên An Môn. Leonard Bernstein, vị thánh bảo trợ của âm nhạc như một khí cụ nhân bản, chỉ huy một nhóm nhạc sĩ từng sống ở cả hai phía Bức Tường Berlin trong buổi hòa nhạc ngày Giáng Sinh sau khi bức tường sụp đổ. Nhà soạn nhạc Ukraine Victoria Poleva hình dung lại nó cho một buổi hòa nhạc quốc tế kỷ niệm năm mươi năm. Ode to Joy vẫn luôn vang lên trong những giờ phút con người cần tự nhắc rằng bạo lực không phải tiếng nói cuối cùng của lịch sử.

Trong “Ode to Joy,” niềm vui không phải là sự vắng mặt của đau khổ. Nó là phần còn lại sau khi đau khổ đã đi qua mà không giết được lòng người. Nó là tiếng hát của một kẻ gần như điếc, gửi cho một thế giới nhiều khi cũng giả điếc trước nỗi đau của chính mình.

Hai thế kỷ sau, khúc nhạc ấy vẫn còn vang. Không phải vì thế giới đã tốt đẹp hơn. Mà vì nhân loại vẫn cần những cuộc vượt thoát. Và giấc mơ Schiller - khao khát hôn cả thế giới bằng khả thể - vẫn hiện diện như những đêm xuân, ngay cả khi nhân loại còn trong cơn ác mộng.

Nguyên Hòa biên tập
Nguồn: Maria Popova, “Trial, Triumph, and the Art of the Possible: The Remarkable Story Behind Beethoven’s ‘Ode to Joy.’”
 

Cảm nhận đầu tiên khi nghe những tấu khúc này là sự tĩnh lặng, suy tư, có lúc man mác buồn nhưng không bi lụy mà thăng hoa, hướng thượng. Một cảm giác thư giãn thường có khi nghe dòng nhạc hòa tấu bán cổ điển. Nhưng nếu nghe kỹ hơn, hiểu rõ về tác giả hơn, người nghe có thể có thêm nhiều cảm nhận khác mang tính chất tâm linh hơn. Ngọc Tú Anh có một đời sống thăng trầm. Đã một thời thanh xuân, rồi trải qua nhiều đau khổ thường có của một kiếp người, thân bệnh và tâm bất an. Đã có một thời cô có cảm giác hoang mang, tuyệt vọng. Mọi chuyện thay đổi theo chiều hướng tích cực hơn khi cô có dịp học pháp với Sư Ông Thích Nhất Hạnh, sau đó là Hòa Thượng Thích Phước Tịnh.
Một vì sao đã tắt trên bầu trời âm nhạc thế giới. Nữ danh ca Dolly Parton, người đàn bà đã đem cả cuộc đời mình dệt thành những khúc ca rưng rưng tình người, đã trút hơi thở cuối cùng hôm thứ Ba tại Nashville, thọ 80 tuổi.
Một bức tranh của Pablo Picasso, biến mất trong một cuộc triển lãm cách đây 65 năm, bất ngờ xuất hiện trở lại khi được đem ra tìm người mua. Bảo Tàng Solomon R. Guggenheim tại New York nay đã đưa cuộc tranh chấp ra tòa, khẳng định tác phẩm từ trước đến nay vẫn thuộc quyền sở hữu của bảo tàng.
Có những bài hát viết để ru người ngủ. Có những bài hát viết để kể chuyện tình. Và có những bài hát viết để không ai có thể quên. Thời Hoàng Hôn Của Ý Niệm của Hà Thúc Sinh là ca khúc để nhớ, nhưng không phải vì nó đẹp đến mức người ta không thể quên, mà vì nó đau đến mức người ta không thể không nhớ. Đây là một bài hát mà nghe xong, người ta không muốn nghe lại, nhưng không thể nào xóa được khỏi tâm trí. Đây là loại nghệ thuật mà Adorno đã từng nói tới khi ông viết về văn học sau Auschwitz: nghệ thuật không còn để mua vui, mà để làm chứng cho những điều đáng lẽ ra không nên xảy ra.
Vào ngày 28/02/2026, Mỹ và Israel đồng loạt tấn công Iran, khởi động cuộc chiến tranh chống lại quốc gia Hồi Giáo vốn là kẻ thù nguy hiểm nhất của Israel trong khu vực. Ngay từ ngày đầu cuộc chiến, tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump đã nhiều lần tuyên bố chiến thắng; kêu gọi đồng minh hỗ trợ không thành rồi chuyển sang sỉ nhục; đe dọa xóa sổ nền văn minh Iran… Tính đến ngày 10/4, Aljazeera tổng kết có khoảng trên 2,000 người Iran, 26 người Isarel, 13 người Mỹ, hơn 1,800 người Lebanon thiệt mạng. NBC ước tính Mỹ đã chi từ 28 đến 45 tỉ đô la cho cuộc chiến. Vào ngày 17 tháng 3 năm 2026, Joe Kent, Giám đốc Trung tâm Chống khủng bố Quốc gia của Mỹ đã tuyên bố từ chức để phản đối cuộc chiến. Theo ông, không có mối đe dọa nào trực tiếp từ Iran; Mỹ gây chiến chỉ là vì Israel.
chiều nhạc "Tháng Tư - Quê Hương và Tù Khúc" vào Thứ Bảy, 25 tháng Tư, 2026 từ 2:00 PM đến 5:00 PM tại hội-trường của Winn Financial & Management 6395 Westminster Blvd., Westminster, CA 92683
Ngày 01/15/2026 là ngày giỗ năm thứ 5 của Lệ Thu, người ca sĩ đã âm thầm ra đi ngày 1/15/2021 bởi cơn đại dịch Covid 2021 tại Quận Cam. Bao nhiêu năm đem tiếng hát để dâng cho đời, dâng cho người, dâng cho tình yêu và dâng cho quê hương, bao nhiêu ánh sáng chói lòa đủ mầu sắc của sân khấu đã ôm trọn một khuôn mặt dịu dàng, đã đổ trên vóc dáng khiêm nhường, đã rơi nhẹ trên mái tóc ngắn riêng của mình và đã trải dài theo mệnh nước nổi trôi, môt giọng hát sâu đậm và nồng nàn của trái tim, người ca sĩ đã chia tay với chúng ta trong lặng lẽ, âm thầm và hiu quạnh.
Theo nhà thơ Thiên Hà, nhạc sĩ Anh Việt Thu tên thật Huỳnh Hữu Kim Sang, sinh năm 1939 tại Cao Miên. Một năm sau, gia đình trở về Việt Nam, mới làm khai sinh cho anh, ghi sinh ngày 24 tháng 8 năm 1940, tại Cái Bè, Mỹ Tho. Nhà thơ Vũ Anh Sương cho biết, họ Huỳnh có người em ruột tên là Việt Thu. Để nhớ đến trách nhiệm làm anh của mình, ông chọn bút hiệu Anh Việt Thu anh của Việt Thu phải bảo bọc người em bị bệnh tê liệt... Gia đình ông gồm nhiều em: theo Hồng Ngọc Viễn Đông, ông là anh đầu, có ba em là Huỳnh Hữu Phi Long, Huỳnh Thị Kim Phụng và Huỳnh Hữu Việt Thu.
Tại Việt Nam, dòng nhạc boléro du nhập vào miền Nam Việt Nam vào khoảng thập niên 1950, lúc phong trào tân nhạc Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ; nhiều nhạc sĩ bắt đầu sử dụng nhạc điệu phương Tây thay cho nhạc điệu phương Đông truyền thống.
Phạm Duy là một trong số nhạc sĩ đặt lời thành công từ bình dân đến cao kỳ cho ca khúc do ông sáng tác, do ông dịch hoặc viết lời cho nhạc ngoại quốc. Trình độ nghệ thuật ngôn ngữ và khả năng nhạy cảm với ngôn từ của ông có khi còn cao hơn những người làm thơ chỉ để làm thơ. Phạm Duy là người sáng tác lời hay, có ý nghĩa và quan trọng là thể hiện được cảm xúc trong giai điệu và tinh thần của ca khúc. “Nghìn Trùng Xa cách,” một ca khúc tôi cho là hoàn tất về nhạc lẫn ca từ. Có thể xác nhận, đây là một bài thơ tình đầy đủ cảm xúc và trí tuệ, được xây dựng trên ba đoạn, theo cách văn học, gọi là ba mảnh. Không theo cấu trúc của ca khúc, ví dụ như A,B,A’ mà theo tâm sự ký ức và ý nghĩ, ba mảnh rời tạo nên tổng thể.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.