Hôm nay,  

Phụ Nữ Độc Thân: Từ Danh Đến Thực

3/6/202000:00:00(View: 5314)

Phu nu doc than new 01
Bức hình năm 1797 mô tả 3 ‘người gái già’ dẫn đầu đàn vượn trong địa ngục. (© Trustees of the British Museum, CC BY-NC-SA, từ web www.theconversation.com )

 

Cuộc đời là vô thường vì vậy mọi thứ đều không ngừng thay đổi kể cả các nền văn hóa, các chuẩn mực hoặc tập quán xã hội. Cách nay khoảng nửa thế kỷ những người độc thân cảm thấy rất “tủi thân” vì cuộc sống cá nhân đơn độc hoặc vì cái nhìn của xã hội đối với những người như thế không hoàn toàn cảm thông và cởi mở. Ngày nay thì khác. Phụ nữ sống độc thân rất vui vẻ, yêu đời đối với bản thân trong khi xã hội cũng không còn có cái nhìn dị biệt hay nghiêm khắc nữa.

Trong một cuộc phỏng vấn gần đây với tạp chí Mỹ Vogue được đăng trên trang mạng www.theconversation.com, nữ diễn viên nổi tiếng trong bộ phim Harry Potter là Emma Watson công khai về chuyện cô là người phụ nữ 30 tuổi độc thân. Tuy nhiên, thay vì tự gọi mình là độc thân cô dùng chữ “tự làm bạn” [self-partnered].

Watson nói rằng cô đã nghiên cứu và viết về lịch sử của người phụ nữ độc thân, và đây là lần đầu tiên cô dùng chữ “tự làm bạn.” Cô nói sẽ xem xét liệu chữ này có phù hợp không, nếu có, nó sẽ tham gia vào danh sách các từ đang phát triển không ngừng được sử dụng để mô tả phụ nữ độc thân ở một độ tuổi nhất định nào đó.

Người phụ nữ đã từng được gọi là người chưa chồng [spinster] cuối cùng đã được gọi là những người gái già [old maids]. Tại New England vào thế kỷ thứ 17, cũng có những chữ như “thornback” – con cá đuối với nhiều ngạnh đầy gai – dùng để mô tả người phụ nữ độc thân hơn 25 tuổi.

Các thái độ đối với những người phụ nữ độc thân đã liên tục thay đổi – và một phần sự thay đổi thái độ đó được phản ảnh trong các tên được đặt cho những phụ nữ chưa kết hôn.

 

Sự gia tăng của phụ nữ độc thân

 

Trước thế kỷ 17, những phụ nữ nào chưa lập gia đình thì được gọi là ‘maid’ [con gái], ‘virgin’ [con gái còn trinh], hay ‘puella’ là chữ La Tinh để chỉ ‘con gái’. Những chữ này nhấn mạnh đến sự trẻ trung và trinh tiết, và chúng cho rằng các phụ nữ chỉ độc thân trong một khoảng thời gian ngắn của cuộc đời của họ -- một khoảng thời gian “trước khi kết hôn.”

Nhưng vào thế kỷ thứ 17, các từ ngữ mới, như “spinster” [người chưa chồng] và “singlewoman” [phụ nữ độc thân],” đã phát sinh.

Điều gì đã thay đổi? Số phụ nữ chưa lập gia đình – hay những phụ nữ không bao giờ kết hôn – đã bắt đầu gia tăng.

Trong thập niên 1960s, nhà nhân khẩu học John Hajnal xác lập “Mô Hình Hôn Nhân Tại Tây Bắc Châu Âu,” mà trong đó người dân tại các quốc gia tây bắc Châu Âu như Anh Quốc đã bắt đầu kết hôn trễ -- trong độ tuổi 30 và ngay cả 40. Số lượng dân số đã không hề lập gia đình nhiều đáng kể. Trong khu vực này của Châu Âu, nó là kiểu mẫu đối với những cặp vợ chồng để bắt đầu một gia đình mới khi họ kết hôn, mà trong đó đòi hỏi tích lũy một số tài sản nhất định. Giống như hiện nay, những thanh niên và thanh nữ làm việc và tiết kiệm tiền bạc trước khi tiến tới việc xây dựng gia đình mới, một tiến trình thường làm trễ nãi việc hôn nhân. Nếu hôn nhân bị trễ quá lâu – hay nếu con người không thể tiết kiệm đủ tài sản – thì họ có thể không lập gia đình luôn.

Ngày nay các chữ này thì cần cho những phụ nữ độc thân lớn tuổi mà có thể không bao giờ lập gia đình. Chữ ‘spinster’ [người chưa chồng] đã chuyển đổi từ mô tả một vị trí công việc mà nhiều phụ nữ đảm đang – thợ xe len – trở thành một từ ngữ hợp pháp để chỉ cho một phụ nữ chưa lập gia đình sống độc lập.

Phụ nữ độc thân, trung bình, chiếm 30% dân số phụ nữ lớn tuổi tại Anh Quốc vào thời kỳ đầu hiện đại. Nghiên cứu riêng của Watson đối với thành phố Southampton cho thấy rằng vào năm 1698, có 34.2% phụ nữ trên 18 tuổi độc thân, 18.5% khác là phụ nữ góa chồng, và gần một nửa, hay 47.3% là phụ nữ đã kết hôn.

Nhiều người trong chúng ta cho rằng các xã hội trong quá khứ truyền thống hơn chúng ta, với hôn nhân phổ biến hơn. Nhưng tác phẩm của Walton cho thấy rằng tại nước Anh vào thế kỷ 17, bất cứ lúc nào, đều có nhiều phụ nữ không kết hôn hơn những phụ nữ có hôn nhân. Đó là phần bình thường của cuộc sống và văn hóa của kỷ nguyên đó.

 

‘Gái già xấu xí’

 

Vào cuối thập niên 1690s, từ ngữ người gái già đã trở thành thông thường. Sự diễn tả này nhấn mạnh đến sự nghịch lý của tuổi già và tuy nhiên vẫn còn trinh và chưa kết hôn. Nó không phải là từ ngữ duy nhất được đem ra thử; nền văn học của kỷ nguyên này cũng đã chọc cười “những gái trinh siêu hạng.” Nhưng bởi vì chữ “người gái già” dễ thốt ra nơi đầu lưỡi, nên nó là cái còn kẹt lại, có nghĩa là được nói đến nhiều.

Tác phẩm vô danh “A Satyr upon Old Maids” được viết vào năm 1713 đề cập đến những người phụ nữ không bao giờ kết hôn như là “khả ố,” “không sạch” và đáng ghét.

Tới thời điểm nào một phụ nữ trẻ độc thân trở thành gái già? Có lằn ranh dứt khoát: Trong thế kỷ 17, đó là khi một phụ nữ ở vào độ tuổi giữa 20s.

Thí dụ, nhà thơ độc thân Jane Barker đã viết trong bài thơ vào năm 1688 của cô, “A Virgin Life,” rằng là cô hy vọng cô có thể vẫn “Không sợ hãi tuổi hai mươi lăm và trọn cuộc hành trình, / Về những coi thường hay khinh rẻ, hay bị gọi là Gái Già.”

Những từ ngữ tiêu cực này xuất hiện khi số người phụ nữ độc thân tiếp tục gia tăng và tỉ lệ kết hôn đã sút giảm. Vào thập niên 1690s và đầu thập niên 1700s, theo Watson cho biết, các chính quyền Anh Quốc đã lo ngại về dân số giảm sút đến nỗi chính quyền phải ra luật Marriage Duty Tax, đòi hỏi những người chưa vợ, những người góa chồng và những phụ nữ độc thân phải trả một số tiền phạt vì không chịu kết hôn.

 

Chữ mới ‘tự làm bạn’

 

Ngày nay tại Hoa Kỳ, tuổi trung bình kết hôn đối với phụ nữ là 28. Đối với đàn ông là 30.

Đều chúng ta đang trải qua hiện nay không phải là lần đầu trong lịch sử; mà thực tế là chúng ta chủ yếu đã trở lại với mô thức hôn nhân đã phổ biến vào 300 năm trước, theo Watson. Từ thế kỷ thứ 18 tới giữa thế kỷ 20, tuổi trung bình để kết hôn lần đầu tiên đã giảm xuống còn 20 đối với thanh nữ và 22 đối với thanh niên. Rồi nó đã bắt đầu tăng lên lại.

Có một lý do mà Báo Vogue đã hỏi Watson về tình trạng độc thân của cô khi cô tới tuổi 30. Đối với nhiều người, 30 tuổi là cột mốc đối với người phụ nữ -- thời điểm khi mà nếu họ không sẵn sàng, thì họ được cho là sẽ đi từ sự tự do muốn làm gì thì làm và chưa yêu ai đến việc suy nghĩ về hôn nhân, một gia đình và một căn nhà.

Ngay dù bạn là người phụ nữ giàu có và nổi tiếng, thì bạn cũng không thể thoát được tín điều văn hóa này. Những người nổi tiếng thuộc nam giới dường như không bị tra vấn về việc họ độc thân và tuổi 30.

Trong khi hiện tại không ai gọi Watson là một người chưa chồng hay cô gái già, tuy nhiên cô cảm thấy bắt buộc phải tạo ra một từ ngữ mới cho tình trạng của cô: “tự làm bạn.” Trong điều mà một số người đã gọi là “tuổi tự chăm sóc mình,” có lẽ từ ngữ này không gây ngạc nhiên. “Có thể nói, tôi chú tâm vào chính mình và các mục tiêu và nhu cầu của chính tôi. Tôi không cần để ý đến người khác, cho dù đó là một người bạn đời hay đứa con,” theo Watson phát biểu.

Watson cho biết rằng đối với cô, thật là mỉa mai rằng từ ngữ “tự làm bạn” có vẻ nâng cao tình trạng cặp đôi. Người chưa chồng, phụ nữ độc thân hay người độc thân: Không một từ ngữ nào trong đó công khai nói đến một người bạn đời vắng mặt. Nhưng tự làm bạn gợi lên sự thiếu mất một nửa kia tốt hơn.

Trong khi đó trong một bài viết có tựa đề “More people than ever before are single – and that’s a good thing” [Ngày càng có nhiều người độc thân hơn bao giờ hết – và đó là điều tốt] đăng trên trang mạng www.theconversation.com cho rằng thế kỷ 21 là thời đại của cuộc sống độc thân.

 

Phu nu doc than new 02
Phụ nữ độc thân hưởng thụ thú vui đi du lịch một mình.(nguồn: www.pixabay.com )



Thế kỷ 21 là thời đại sống độc thân

 

Ngày nay, số ngưởi lớn tuổi độc thân tại Hoa Kỳ - và nhiều quốc gia khác trên thế giới – là nhiều chưa từng có. Và những con số này không chỉ cho thấy rằng con người đang sống độc thân lâu hơn trước khi ổn định cuộc sống. Ngày càng có nhiều người sống độc thân trọn đời. Một phúc trình vào năm 2014 của Pew Report phỏng đoán rằng vào thời điểm đó những người thanh niên nam nữ đạt tới tuổi 50, khoảng ¼ trong số họ không bao giờ kết hôn.

Theo Phòng Thống Kê Dân Số Hoa Kỳ, loại gia đình gia tăng nhanh nhất kể từ thập niên 1980s là người độc thân. Trước đây cả xã hội không phổ biến và không được chấp nhận do vai trò nhận thức, ý thức cộng đồng, các yếu tố kinh tế xã hội hiện đại và giáo dục và nghề nghiệp ngày càng phổ biến và lâu dài đã biến lối sống độc thân trở thành một lựa chọn khả thi cho nhiều người Mỹ, đặc biệt là sau Chiến Tranh Việt Nam.

Theo Phòng Thống Kê Dân Số Hoa Kỳ, trong năm 2016 người trưởng thành độc thân đã chiếm hơn 45% dân số Hoa Kỳ. 65% trong nhóm này chưa bao giờ kết hôn. Trong năm 2014, Trung Tâm Nghiên Cứu Pew cho thấy rằng phần trăm cao nhất của những người lớn tuổi không bao giờ lập gia đình giữa những người Mỹ da trắng, da đen, La Tinh và Châu Á là những người Mỹ da đen. Cùng nghiên cứu này cũng dự đoán rằng khoảng 25% thế hệ thiên niên kỷ có thể không kết hôn.

Uy thế của cuộc sống độc thân đã làm cho một số người hoảng sợ. Thí dụ, phúc trình của US News & World Report cảnh giác rằng nhiều người Mỹ nghĩ rằng các giá trị đạo đức của quốc gia là xấu và ngày càng tồi tệ hơn, và một trong những lý do hàng đầu cho mối quan tâm của những người này là có quá nhiều người còn độc thân.

Nhưng thay vì băn khoăn, có lẽ chúng ta nên ăn mừng.

Theo Bella DePaulo, Khoa Học Gia Về Dự Án tại Đại Học UC Santa Barbara, nói rằng, “Tôi là một nhà khoa học xã hội, và tôi đã bỏ ra 2 thập niên vừa qua để nghiên cứu và viết về người độc thân. Tôi phát hiện rằng sự trỗi dậy của cuộc sống độc thân là một lợi ích cho các thành phố và thị trấn và cộng đồng của chúng ta, của người thân và bạn bè và hàng xóm của chúng ta. Khuynh hướng này có cơ hội để tái xác định ý nghĩa truyền thống – và những giới hạn – của ngôi nhà, gia đình và cộng đồng.”

 

Tương quan gia đình xã hội

 

Trải qua nhiều năm, các cộng đồng trên khắp nước Mỹ đã được tổ chức bởi các nhóm gia đình hạt nhân sống trong những căn nhà ngoại ô. Nhưng có một số dấu hiệu về sự sắp xếp này đang diễn ra không tốt lắm.

Những căn nhà này thường rất cô lập – quá xa từ nơi làm việc và từ người này đến người kia. Theo một thăm dò toàn quốc diễn ra kể từ năm 1974, nhiều người Mỹ hiện nay ít thân thiện với làng giềng hơn bao giờ hết, với tình nghĩa bà con hàng xóm ở mức thấp nhất tại các vùng ngoại ô.

Nhưng thăm dò nói trên cũng cho thấy rằng người độc thân đang nhảy khỏi khuynh hướng đó. Thí dụ, họ có vẻ năng nỗ hơn người lập gia đình để khuyến khích, giúp đỡ và xã giao với bạn bè và láng giềng của họ. Họ cũng thích thăm viếng, ủng hộ, khuyên lơn và gặp gỡ với anh chị em và cha mẹ của họ nhiều hơn.

Thực tế, những người sống một mình thường là cuộc sống của các thành phố và thị trấn nơi họ ở. Họ có khuynh hướng tham gia nhiều hơn vào các nhóm dân quyền và các sự kiện cộng đồng, ghi danh nhiều hơn vào các lớp học nghệ thuật và âm nhạc, và đi ăn tối bên ngoài thường hơn những người sống với những người khác. Người độc thân, bất luận họ sống một mình hay với người khác, cũng tình nguyện nhiều hơn cho các tổ chức phục vụ xã hội, các nhóm giáo dục, các bệnh viện và các tổ chức cống hiến cho nghệ thuật nhiều hơn những người đã kết hôn.

 Ngược lại, khi các cặp vợ chồng dọn vào hay kết hôn, thì họ có khuynh hướng trở thành ốc đảo hơn, dù họ không có con cái.

 

Vui hay buồn

 

Không may, cuộc sống độc thân tiếp tục bị kỳ thị, với những người độc thân thường được cho là ít an toàn và tự cho mình là trung tâm hơn so với những người đã kết hôn. Họ được cho là chết sớm hơn, cô đơn và buồn bã.

Tuy nhiên, các nghiên cứu về những người sống một mình thường cho thấy rằng hầu hết họ đều sống tốt; họ không cảm thấy cô độc, họ cũng không buồn rầu và cô đơn.

Các phúc trình về cái chết sớm của những người độc thân cũng đã được phóng đại lên rất nhiều, khi cho rằng hôn nhân biến những người độc thân đau khổ, bệnh hoạn thành người phối ngẫu hạnh phúc và khỏe mạnh.

Trong một ý nghĩa nào đó, người độc thân là những người đang sống đặc biệt hạnh phúc, theo Bella DePaulo cho biết.

Thí dụ, những người có mối quan hệ đa dạng hơn có khuynh hướng thỏa mãn hơn với cuộc sống của họ. Ngược lại, sự tẻ nhạt của các cặp vợ chồng chuyển đến sống chung hoặc kết hôn có thể khiến họ dễ bị tổn thương về sức khỏe tinh thần.

Các nghiên cứu đã cho thấy rằng những người sống độc thân phát triển sự tự tin hơn về quan điểm của chính họ và trải qua sự tăng trưởng và phát triển cá nhân nhiều hơn so với những người kết hôn. Chẳng hạn, họ coi trọng công việc có ý nghĩa hơn những người đã kết hôn. Họ cũng có thể có nhiều cơ hội hơn để hưởng thụ sự tĩnh mịch mà nhiều người trong số họ thưởng thức.

Thỉnh thoảng, bạn sẽ thấy các thay đổi của những sắp xếp truyền thống của thế kỷ 21, như các gia đình nhiều thế hệ cho phép sự riêng tư và độc lập cũng như tương quan liên hệ xã hội. Những người khác - và không chỉ là những người rất trẻ - đang sống với bạn bè hoặc các gia đình khác của họ chọn.

Những phụ nữ độc thân thực sự muốn điều gì khi họ chọn đời sống một mình?

 

Phụ nữ độc thân muốn gì?

 

Trong bài viết “What Single Women Really Want,” đăng trên trang mạng www.psychologytoday.com Tiến Sĩ Bella DePaulo, đang sống độc thân, cho biết các ưu tiên hàng đầu của phụ nữ độc thân theo thăm dò 1,200 người mà các công ty Hill Holiday’s Origin và Match Media Group đã thực hiện như sau.

Ưu tiên số một của phụ nữ độc thân là sống cho chính họ. Gần một nửa (44%) những người trả lời thăm dò nói rằng đó là vấn đề ưu tiên nhất của họ.

Ưu tiên kế tiếp của các phụ nữ độc thân là tạo dựng sự nghiệp. Khoảng 1/3 phụ nữ độc thân (34%) nói rằng sự nghiệp là ưu tiên hơn mọi thứ khác.

Ưu tiên thứ ba của phụ nữ độc thân là an toàn tài chánh. Hơn ¼ (27%) người trả lời thăm dò nói rằng an toàn tài chánh là quan trọng nhất đối với họ.

Cũng trong bài viết của Bella DePaulo, thì yêu đương kết hôn là ưu tiên đứng hàng thứ 4 sau ba ưu tiên đầu nói trên.

 

 

Trước đây vài năm, nghe Thư trở bệnh, tôi có viết một bài, ấy là tình bạn, dù xa cách nhau nhưng đều còn chân đi trên mặt đất. Nay Thư đi thật rồi, xin gởi một nén nhang từ biệt. Trước khi viết tiếp, tôi thử gõ vào AI, anh thầy Mo này có nhận xét về nhà thơ họ Phạm như sau: “Phạm Thiên Thư là một hiện tượng khá đặc biệt của thi ca Việt Nam hiện đại. Ở ông có sự hòa quyện hiếm thấy giữa chất lãng mạn của thơ tình và chiều sâu thiền học của Phật giáo. Chính điều đó làm cho thơ ông mang vẻ “nửa đời nửa đạo” — vừa gần gũi, mộng mơ, vừa phảng phất suy tư siêu thoát.
Có một thứ mệt mỏi sâu hơn mọi thứ mệt mỏi khác: mệt vì phải sống giữa những điều chưa ngã ngũ. Con người chịu được nghèo đói, chia lìa, chiến tranh, lưu đày. Nhưng lại không chịu đựng nỗi một câu hỏi chưa có lời giải đáp, một khoảng trống chưa được lấp, một sự thật còn đang mở. Người ta không quen với sự bỏ ngỏ. Muốn một kết luận. Một nguyên nhân. Một thủ phạm. Một giải đáp. Một nhãn hiệu dán lên mọi sự, để từ đó có thể yên tâm mà đi tiếp. Vì vậy người ta yêu ý kiến. Cầm nó trên tay như cầm một ngọn đèn. Nhưng lắm khi ngọn đèn ấy không soi sáng được gì. Nó chỉ vẽ ra một vòng sáng nhỏ quanh chân ta, rồi khiến ta tưởng vòng sáng ấy là cả thế giới.
“Nếu bạn còn có thể yêu, hết lần này đến lần khác,” Henry Miller viết, khi đứng bên kia sườn dốc của tuổi tám mươi, “nếu bạn còn biết tha thứ, biết quên, nếu bạn không để mình hóa chua, hóa gắt, hóa cay nghiệt, hoài nghi…thì bạn đã nắm được quá nửa bí mật của đời sống.” Bảy năm trước đó, Bertrand Russell — triết gia lớn của Anh, nhà toán học, sử gia, và giải Nobel — cũng dừng lại ở chính câu hỏi ấy, vào cùng một chặng cuối của đời người. Trong một tiểu luận ngắn, nhan đề Nghệ Thuật Già Đi, viết ở tuổi tám mươi mốt, ông suy tưởng về cách một con người có thể đi trọn hành trình của mình.
Không ai có thể xây cho bạn cây cầu để băng qua dòng sông đời sống. Cây cầu ấy, hoặc do chính bạn dựng, hoặc không có gì cả. Nietzsche viết như vậy khi ba mươi tuổi. Hơn một thế kỷ sau, Seamus Heaney — nhà thơ đoạt Nobel — dặn người trẻ: con đường thật để đi vào và đi qua kinh nghiệm là con đường trung thành với nỗi cô đơn của riêng bạn, với thứ tri thức thầm kín chỉ bạn nghe được tiếng mình trong đó.
Trong trả lời phỏng vấn của tạp chí mạng Da Màu về chuyện “Đọc và Viết & về Văn học Hải ngoại” (28 & 29.8.2025), Bùi Vĩnh Phúc chia sẻ anh yêu sách từ nhỏ nên đã để dành tiền mua sách và đọc đủ thứ. Bên cạnh đó, anh còn đổi sách, báo với bạn bè trong xóm... Hoặc “cất giữ làm của riêng” những báo hoặc tập san có đi thơ, truyện mà anh thích từ “kho” báo chí trong nhà của bố. Khoảng lớp Đệ Ngũ (lớp 8 bây giờ), bằng tiền bố mẹ cho, anh “nướng” hết vào các tiệm bán sách cũ hoặc bán solde (có những quyển rất hay và còn mới) để có một thư viện cho riêng mình. Càng lớn, anh lại càng có thêm điều kiện để thu thập sách mới, sách hay với các thể loại khác nhau. Kể từ năm Đệ Nhị (lớp 11 sau này), anh hướng về đọc sách phi-hư cấu đủ mọi thể loại. Đến thời thanh niên, Bùi Vĩnh Phúc tìm đọc nhiều sách nghiên cứu và phê bình.
Theo thông tấn Polskie Radio S.A. của Ba Lan, hôm Thứ Hai, ngày 4 tháng 5, 2026, Giải thưởng Văn học Quốc tế Zbigniew Herbert năm 2026 đã được trao cho Ana Blandiana, nữ thi sĩ người Romania. Ana Blandiana – một nữ thi sĩ kiêm nhà bất đồng chính kiến chống cộng người Romania – đã giành chiến thắng tại Giải thưởng Văn học Quốc tế Zbigniew Herbert năm 2026; giải thưởng này được đặt theo tên của một trong những thi sĩ vĩ đại nhất của Ba Lan trong thế kỷ 20. Sinh năm 1982, nhà thơ Blandiana (tên khai sinh là Otilia Valeria Coman) là đại diện tiêu biểu cho nhóm được gọi là "tân hiện đại chủ nghĩa" (neo-modernists) – một thế hệ thi sĩ xuất hiện vào thập niên 1960, những người đã khước từ học thuyết về nghệ thuật vô sản (proletarian art) và tìm kiếm nguồn cảm hứng từ truyền thống văn học của thời kỳ giữa hai cuộc thế chiến.
Nó đứng ở cuối hành lang. Lối đi dài, đèn neon trắng, cửa đóng kín hai bên. Nó quay lưng lại, người nhỏ xíu trong bộ đồ rộng thùng thình. Tôi gọi, nhưng không nghe được tiếng mình. Nó lầm lũi bước đi chân không. Một cánh cửa mở ra. Bàn tay to kéo nó vào. Cửa khép chặt lại. Tôi chạy. Tôi gào. Tôi đập cửa. Không động tĩnh. Một cánh cửa khác mở ra. Nó đứng đó, im lặng. Quần lót mặc ngược. Cúi xuống kéo quần lại, rồi nó đứng yên như trời trồng. Vết đỏ trong quần lót loang ra. Tôi lao tới. Không chạm được nó. Một đứa lớn hơn đứng phía sau con bé. Không rõ mặt. Chỉ là chiếc bóng đổ dài lên tường. Tôi hét to. Nó không quay lại.
Theo nhà xuất bản, Kaho là lần đầu tiên một nhân vật nữ đơn độc giữ vai trò trung tâm trong một tiểu thuyết dài của Murakami – chi tiết đặc biệt đáng chú ý nếu đặt trong bối cảnh những phê bình nữ quyền lâu nay dành cho thế giới sáng tác của ông, cũng như các phát biểu trước đây của chính Murakami về cách ông xây dựng nhân vật nữ.
“Tôi mong người đọc có thể thấy hay cảm nhận được cái sức sống đẹp tươi và đầy màu sắc của một vùng trời đất hoa cỏ quê hương, nói riêng, và của cõi sống văn chương con người, nói chung. Cái cõi sống ấy, người viết và người đọc, ở nơi nào và thời nào, tôi tin, cũng đều muốn hướng đến. Trong đó, tất cả – người viết và người đọc, cái viết và cái đọc, cái được viết và cái được đọc – đều hạnh phúc quây quần và ca hát hạnh ngộ cùng nhau.” -- BVP
Trước khi trở thành một tiểu thuyết gia lừng danh, Toni Morrison vốn là một nhà giáo. Sinh năm 1931 tại Lorain, tiểu bang Ohio, bà theo học tại Howard University rồi Cornell University, sau đó trở lại Howard để giảng dạy Anh văn từ năm 1957. Chính từ môi trường học thuật ấy, một phần căn bản trong đời văn của Morrison đã được hình thành: tinh thần khảo sát, đối chiếu và chất vấn cách văn chương Hoa Kỳ nhìn nhận người da đen. Từ một cô giáo trẻ, Morrison dần bước sang đời sống xuất bản, trước hết bằng công việc biên tập, rồi bằng sáng tác tiểu thuyết. Bà trở thành người phụ nữ da đen đầu tiên giữ một chức vụ biên tập tại Random House, sau đó đoạt giải Pulitzer năm 1988 với Beloved và giải Nobel Văn chương năm 1993. Khi bà qua đời năm 2019, di sản của bà đã vượt khỏi khuôn khổ tiểu thuyết để trở thành một phần quan trọng của văn học Mỹ hiện đại.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.