Hôm nay,  

Phụ Nữ Độc Thân: Từ Danh Đến Thực

3/6/202000:00:00(View: 5318)

Phu nu doc than new 01
Bức hình năm 1797 mô tả 3 ‘người gái già’ dẫn đầu đàn vượn trong địa ngục. (© Trustees of the British Museum, CC BY-NC-SA, từ web www.theconversation.com )

 

Cuộc đời là vô thường vì vậy mọi thứ đều không ngừng thay đổi kể cả các nền văn hóa, các chuẩn mực hoặc tập quán xã hội. Cách nay khoảng nửa thế kỷ những người độc thân cảm thấy rất “tủi thân” vì cuộc sống cá nhân đơn độc hoặc vì cái nhìn của xã hội đối với những người như thế không hoàn toàn cảm thông và cởi mở. Ngày nay thì khác. Phụ nữ sống độc thân rất vui vẻ, yêu đời đối với bản thân trong khi xã hội cũng không còn có cái nhìn dị biệt hay nghiêm khắc nữa.

Trong một cuộc phỏng vấn gần đây với tạp chí Mỹ Vogue được đăng trên trang mạng www.theconversation.com, nữ diễn viên nổi tiếng trong bộ phim Harry Potter là Emma Watson công khai về chuyện cô là người phụ nữ 30 tuổi độc thân. Tuy nhiên, thay vì tự gọi mình là độc thân cô dùng chữ “tự làm bạn” [self-partnered].

Watson nói rằng cô đã nghiên cứu và viết về lịch sử của người phụ nữ độc thân, và đây là lần đầu tiên cô dùng chữ “tự làm bạn.” Cô nói sẽ xem xét liệu chữ này có phù hợp không, nếu có, nó sẽ tham gia vào danh sách các từ đang phát triển không ngừng được sử dụng để mô tả phụ nữ độc thân ở một độ tuổi nhất định nào đó.

Người phụ nữ đã từng được gọi là người chưa chồng [spinster] cuối cùng đã được gọi là những người gái già [old maids]. Tại New England vào thế kỷ thứ 17, cũng có những chữ như “thornback” – con cá đuối với nhiều ngạnh đầy gai – dùng để mô tả người phụ nữ độc thân hơn 25 tuổi.

Các thái độ đối với những người phụ nữ độc thân đã liên tục thay đổi – và một phần sự thay đổi thái độ đó được phản ảnh trong các tên được đặt cho những phụ nữ chưa kết hôn.

 

Sự gia tăng của phụ nữ độc thân

 

Trước thế kỷ 17, những phụ nữ nào chưa lập gia đình thì được gọi là ‘maid’ [con gái], ‘virgin’ [con gái còn trinh], hay ‘puella’ là chữ La Tinh để chỉ ‘con gái’. Những chữ này nhấn mạnh đến sự trẻ trung và trinh tiết, và chúng cho rằng các phụ nữ chỉ độc thân trong một khoảng thời gian ngắn của cuộc đời của họ -- một khoảng thời gian “trước khi kết hôn.”

Nhưng vào thế kỷ thứ 17, các từ ngữ mới, như “spinster” [người chưa chồng] và “singlewoman” [phụ nữ độc thân],” đã phát sinh.

Điều gì đã thay đổi? Số phụ nữ chưa lập gia đình – hay những phụ nữ không bao giờ kết hôn – đã bắt đầu gia tăng.

Trong thập niên 1960s, nhà nhân khẩu học John Hajnal xác lập “Mô Hình Hôn Nhân Tại Tây Bắc Châu Âu,” mà trong đó người dân tại các quốc gia tây bắc Châu Âu như Anh Quốc đã bắt đầu kết hôn trễ -- trong độ tuổi 30 và ngay cả 40. Số lượng dân số đã không hề lập gia đình nhiều đáng kể. Trong khu vực này của Châu Âu, nó là kiểu mẫu đối với những cặp vợ chồng để bắt đầu một gia đình mới khi họ kết hôn, mà trong đó đòi hỏi tích lũy một số tài sản nhất định. Giống như hiện nay, những thanh niên và thanh nữ làm việc và tiết kiệm tiền bạc trước khi tiến tới việc xây dựng gia đình mới, một tiến trình thường làm trễ nãi việc hôn nhân. Nếu hôn nhân bị trễ quá lâu – hay nếu con người không thể tiết kiệm đủ tài sản – thì họ có thể không lập gia đình luôn.

Ngày nay các chữ này thì cần cho những phụ nữ độc thân lớn tuổi mà có thể không bao giờ lập gia đình. Chữ ‘spinster’ [người chưa chồng] đã chuyển đổi từ mô tả một vị trí công việc mà nhiều phụ nữ đảm đang – thợ xe len – trở thành một từ ngữ hợp pháp để chỉ cho một phụ nữ chưa lập gia đình sống độc lập.

Phụ nữ độc thân, trung bình, chiếm 30% dân số phụ nữ lớn tuổi tại Anh Quốc vào thời kỳ đầu hiện đại. Nghiên cứu riêng của Watson đối với thành phố Southampton cho thấy rằng vào năm 1698, có 34.2% phụ nữ trên 18 tuổi độc thân, 18.5% khác là phụ nữ góa chồng, và gần một nửa, hay 47.3% là phụ nữ đã kết hôn.

Nhiều người trong chúng ta cho rằng các xã hội trong quá khứ truyền thống hơn chúng ta, với hôn nhân phổ biến hơn. Nhưng tác phẩm của Walton cho thấy rằng tại nước Anh vào thế kỷ 17, bất cứ lúc nào, đều có nhiều phụ nữ không kết hôn hơn những phụ nữ có hôn nhân. Đó là phần bình thường của cuộc sống và văn hóa của kỷ nguyên đó.

 

‘Gái già xấu xí’

 

Vào cuối thập niên 1690s, từ ngữ người gái già đã trở thành thông thường. Sự diễn tả này nhấn mạnh đến sự nghịch lý của tuổi già và tuy nhiên vẫn còn trinh và chưa kết hôn. Nó không phải là từ ngữ duy nhất được đem ra thử; nền văn học của kỷ nguyên này cũng đã chọc cười “những gái trinh siêu hạng.” Nhưng bởi vì chữ “người gái già” dễ thốt ra nơi đầu lưỡi, nên nó là cái còn kẹt lại, có nghĩa là được nói đến nhiều.

Tác phẩm vô danh “A Satyr upon Old Maids” được viết vào năm 1713 đề cập đến những người phụ nữ không bao giờ kết hôn như là “khả ố,” “không sạch” và đáng ghét.

Tới thời điểm nào một phụ nữ trẻ độc thân trở thành gái già? Có lằn ranh dứt khoát: Trong thế kỷ 17, đó là khi một phụ nữ ở vào độ tuổi giữa 20s.

Thí dụ, nhà thơ độc thân Jane Barker đã viết trong bài thơ vào năm 1688 của cô, “A Virgin Life,” rằng là cô hy vọng cô có thể vẫn “Không sợ hãi tuổi hai mươi lăm và trọn cuộc hành trình, / Về những coi thường hay khinh rẻ, hay bị gọi là Gái Già.”

Những từ ngữ tiêu cực này xuất hiện khi số người phụ nữ độc thân tiếp tục gia tăng và tỉ lệ kết hôn đã sút giảm. Vào thập niên 1690s và đầu thập niên 1700s, theo Watson cho biết, các chính quyền Anh Quốc đã lo ngại về dân số giảm sút đến nỗi chính quyền phải ra luật Marriage Duty Tax, đòi hỏi những người chưa vợ, những người góa chồng và những phụ nữ độc thân phải trả một số tiền phạt vì không chịu kết hôn.

 

Chữ mới ‘tự làm bạn’

 

Ngày nay tại Hoa Kỳ, tuổi trung bình kết hôn đối với phụ nữ là 28. Đối với đàn ông là 30.

Đều chúng ta đang trải qua hiện nay không phải là lần đầu trong lịch sử; mà thực tế là chúng ta chủ yếu đã trở lại với mô thức hôn nhân đã phổ biến vào 300 năm trước, theo Watson. Từ thế kỷ thứ 18 tới giữa thế kỷ 20, tuổi trung bình để kết hôn lần đầu tiên đã giảm xuống còn 20 đối với thanh nữ và 22 đối với thanh niên. Rồi nó đã bắt đầu tăng lên lại.

Có một lý do mà Báo Vogue đã hỏi Watson về tình trạng độc thân của cô khi cô tới tuổi 30. Đối với nhiều người, 30 tuổi là cột mốc đối với người phụ nữ -- thời điểm khi mà nếu họ không sẵn sàng, thì họ được cho là sẽ đi từ sự tự do muốn làm gì thì làm và chưa yêu ai đến việc suy nghĩ về hôn nhân, một gia đình và một căn nhà.

Ngay dù bạn là người phụ nữ giàu có và nổi tiếng, thì bạn cũng không thể thoát được tín điều văn hóa này. Những người nổi tiếng thuộc nam giới dường như không bị tra vấn về việc họ độc thân và tuổi 30.

Trong khi hiện tại không ai gọi Watson là một người chưa chồng hay cô gái già, tuy nhiên cô cảm thấy bắt buộc phải tạo ra một từ ngữ mới cho tình trạng của cô: “tự làm bạn.” Trong điều mà một số người đã gọi là “tuổi tự chăm sóc mình,” có lẽ từ ngữ này không gây ngạc nhiên. “Có thể nói, tôi chú tâm vào chính mình và các mục tiêu và nhu cầu của chính tôi. Tôi không cần để ý đến người khác, cho dù đó là một người bạn đời hay đứa con,” theo Watson phát biểu.

Watson cho biết rằng đối với cô, thật là mỉa mai rằng từ ngữ “tự làm bạn” có vẻ nâng cao tình trạng cặp đôi. Người chưa chồng, phụ nữ độc thân hay người độc thân: Không một từ ngữ nào trong đó công khai nói đến một người bạn đời vắng mặt. Nhưng tự làm bạn gợi lên sự thiếu mất một nửa kia tốt hơn.

Trong khi đó trong một bài viết có tựa đề “More people than ever before are single – and that’s a good thing” [Ngày càng có nhiều người độc thân hơn bao giờ hết – và đó là điều tốt] đăng trên trang mạng www.theconversation.com cho rằng thế kỷ 21 là thời đại của cuộc sống độc thân.

 

Phu nu doc than new 02
Phụ nữ độc thân hưởng thụ thú vui đi du lịch một mình.(nguồn: www.pixabay.com )



Thế kỷ 21 là thời đại sống độc thân

 

Ngày nay, số ngưởi lớn tuổi độc thân tại Hoa Kỳ - và nhiều quốc gia khác trên thế giới – là nhiều chưa từng có. Và những con số này không chỉ cho thấy rằng con người đang sống độc thân lâu hơn trước khi ổn định cuộc sống. Ngày càng có nhiều người sống độc thân trọn đời. Một phúc trình vào năm 2014 của Pew Report phỏng đoán rằng vào thời điểm đó những người thanh niên nam nữ đạt tới tuổi 50, khoảng ¼ trong số họ không bao giờ kết hôn.

Theo Phòng Thống Kê Dân Số Hoa Kỳ, loại gia đình gia tăng nhanh nhất kể từ thập niên 1980s là người độc thân. Trước đây cả xã hội không phổ biến và không được chấp nhận do vai trò nhận thức, ý thức cộng đồng, các yếu tố kinh tế xã hội hiện đại và giáo dục và nghề nghiệp ngày càng phổ biến và lâu dài đã biến lối sống độc thân trở thành một lựa chọn khả thi cho nhiều người Mỹ, đặc biệt là sau Chiến Tranh Việt Nam.

Theo Phòng Thống Kê Dân Số Hoa Kỳ, trong năm 2016 người trưởng thành độc thân đã chiếm hơn 45% dân số Hoa Kỳ. 65% trong nhóm này chưa bao giờ kết hôn. Trong năm 2014, Trung Tâm Nghiên Cứu Pew cho thấy rằng phần trăm cao nhất của những người lớn tuổi không bao giờ lập gia đình giữa những người Mỹ da trắng, da đen, La Tinh và Châu Á là những người Mỹ da đen. Cùng nghiên cứu này cũng dự đoán rằng khoảng 25% thế hệ thiên niên kỷ có thể không kết hôn.

Uy thế của cuộc sống độc thân đã làm cho một số người hoảng sợ. Thí dụ, phúc trình của US News & World Report cảnh giác rằng nhiều người Mỹ nghĩ rằng các giá trị đạo đức của quốc gia là xấu và ngày càng tồi tệ hơn, và một trong những lý do hàng đầu cho mối quan tâm của những người này là có quá nhiều người còn độc thân.

Nhưng thay vì băn khoăn, có lẽ chúng ta nên ăn mừng.

Theo Bella DePaulo, Khoa Học Gia Về Dự Án tại Đại Học UC Santa Barbara, nói rằng, “Tôi là một nhà khoa học xã hội, và tôi đã bỏ ra 2 thập niên vừa qua để nghiên cứu và viết về người độc thân. Tôi phát hiện rằng sự trỗi dậy của cuộc sống độc thân là một lợi ích cho các thành phố và thị trấn và cộng đồng của chúng ta, của người thân và bạn bè và hàng xóm của chúng ta. Khuynh hướng này có cơ hội để tái xác định ý nghĩa truyền thống – và những giới hạn – của ngôi nhà, gia đình và cộng đồng.”

 

Tương quan gia đình xã hội

 

Trải qua nhiều năm, các cộng đồng trên khắp nước Mỹ đã được tổ chức bởi các nhóm gia đình hạt nhân sống trong những căn nhà ngoại ô. Nhưng có một số dấu hiệu về sự sắp xếp này đang diễn ra không tốt lắm.

Những căn nhà này thường rất cô lập – quá xa từ nơi làm việc và từ người này đến người kia. Theo một thăm dò toàn quốc diễn ra kể từ năm 1974, nhiều người Mỹ hiện nay ít thân thiện với làng giềng hơn bao giờ hết, với tình nghĩa bà con hàng xóm ở mức thấp nhất tại các vùng ngoại ô.

Nhưng thăm dò nói trên cũng cho thấy rằng người độc thân đang nhảy khỏi khuynh hướng đó. Thí dụ, họ có vẻ năng nỗ hơn người lập gia đình để khuyến khích, giúp đỡ và xã giao với bạn bè và láng giềng của họ. Họ cũng thích thăm viếng, ủng hộ, khuyên lơn và gặp gỡ với anh chị em và cha mẹ của họ nhiều hơn.

Thực tế, những người sống một mình thường là cuộc sống của các thành phố và thị trấn nơi họ ở. Họ có khuynh hướng tham gia nhiều hơn vào các nhóm dân quyền và các sự kiện cộng đồng, ghi danh nhiều hơn vào các lớp học nghệ thuật và âm nhạc, và đi ăn tối bên ngoài thường hơn những người sống với những người khác. Người độc thân, bất luận họ sống một mình hay với người khác, cũng tình nguyện nhiều hơn cho các tổ chức phục vụ xã hội, các nhóm giáo dục, các bệnh viện và các tổ chức cống hiến cho nghệ thuật nhiều hơn những người đã kết hôn.

 Ngược lại, khi các cặp vợ chồng dọn vào hay kết hôn, thì họ có khuynh hướng trở thành ốc đảo hơn, dù họ không có con cái.

 

Vui hay buồn

 

Không may, cuộc sống độc thân tiếp tục bị kỳ thị, với những người độc thân thường được cho là ít an toàn và tự cho mình là trung tâm hơn so với những người đã kết hôn. Họ được cho là chết sớm hơn, cô đơn và buồn bã.

Tuy nhiên, các nghiên cứu về những người sống một mình thường cho thấy rằng hầu hết họ đều sống tốt; họ không cảm thấy cô độc, họ cũng không buồn rầu và cô đơn.

Các phúc trình về cái chết sớm của những người độc thân cũng đã được phóng đại lên rất nhiều, khi cho rằng hôn nhân biến những người độc thân đau khổ, bệnh hoạn thành người phối ngẫu hạnh phúc và khỏe mạnh.

Trong một ý nghĩa nào đó, người độc thân là những người đang sống đặc biệt hạnh phúc, theo Bella DePaulo cho biết.

Thí dụ, những người có mối quan hệ đa dạng hơn có khuynh hướng thỏa mãn hơn với cuộc sống của họ. Ngược lại, sự tẻ nhạt của các cặp vợ chồng chuyển đến sống chung hoặc kết hôn có thể khiến họ dễ bị tổn thương về sức khỏe tinh thần.

Các nghiên cứu đã cho thấy rằng những người sống độc thân phát triển sự tự tin hơn về quan điểm của chính họ và trải qua sự tăng trưởng và phát triển cá nhân nhiều hơn so với những người kết hôn. Chẳng hạn, họ coi trọng công việc có ý nghĩa hơn những người đã kết hôn. Họ cũng có thể có nhiều cơ hội hơn để hưởng thụ sự tĩnh mịch mà nhiều người trong số họ thưởng thức.

Thỉnh thoảng, bạn sẽ thấy các thay đổi của những sắp xếp truyền thống của thế kỷ 21, như các gia đình nhiều thế hệ cho phép sự riêng tư và độc lập cũng như tương quan liên hệ xã hội. Những người khác - và không chỉ là những người rất trẻ - đang sống với bạn bè hoặc các gia đình khác của họ chọn.

Những phụ nữ độc thân thực sự muốn điều gì khi họ chọn đời sống một mình?

 

Phụ nữ độc thân muốn gì?

 

Trong bài viết “What Single Women Really Want,” đăng trên trang mạng www.psychologytoday.com Tiến Sĩ Bella DePaulo, đang sống độc thân, cho biết các ưu tiên hàng đầu của phụ nữ độc thân theo thăm dò 1,200 người mà các công ty Hill Holiday’s Origin và Match Media Group đã thực hiện như sau.

Ưu tiên số một của phụ nữ độc thân là sống cho chính họ. Gần một nửa (44%) những người trả lời thăm dò nói rằng đó là vấn đề ưu tiên nhất của họ.

Ưu tiên kế tiếp của các phụ nữ độc thân là tạo dựng sự nghiệp. Khoảng 1/3 phụ nữ độc thân (34%) nói rằng sự nghiệp là ưu tiên hơn mọi thứ khác.

Ưu tiên thứ ba của phụ nữ độc thân là an toàn tài chánh. Hơn ¼ (27%) người trả lời thăm dò nói rằng an toàn tài chánh là quan trọng nhất đối với họ.

Cũng trong bài viết của Bella DePaulo, thì yêu đương kết hôn là ưu tiên đứng hàng thứ 4 sau ba ưu tiên đầu nói trên.

 

 

Buổi tối hôm đó, gió thổi nhẹ qua những hàng quán nhỏ, và trong một góc phố không mấy nổi bật, tôi thấy Jean-François Lyotard ngồi một mình trước một quán mì gói bình dân. Không phải quán fancy kiểu “mì ramen concept Japan fusion” gì cả. Chỉ là một quán lề đường với cái mái tôn lủng vài lỗ, mấy cái ghế nhựa xanh đỏ, và mùi hành phi thơm theo cách… giới hạn ngân sách.
Chiều Chủ Nhật, 23 tháng Tám, độc giả Việt Báo lâu nay quen gặp nhà văn Ngu Yên qua những bài bình luận trên trang nhất đã có dịp gặp ông “bằng xương bằng thịt” — để chuyện trò, nghe thơ, nghe nhạc, và quan trọng hơn hết, để “rước” sách ông về nhà. Từ Houston sang Nam California, Ngu Yên có một buổi ra mắt sách đông vui ngoài dự liệu. Bước lên sân khấu, nhìn hơn một trăm khách từ nhiều nơi về ngồi kín Coffee Factory, ông cảm động theo kiểu rất ‘Ngu Yên’: “Có lẽ quý vị yêu sách. Có lẽ quý vị yêu tôi, hay yêu Việt Báo. Cũng có lẽ quý vị hơi… không bình thường, khi bỏ một buổi chiều Chủ Nhật đẹp như hôm nay để đến đây ngồi nghe chúng tôi nói chuyện chữ nghĩa.” Khán phòng cười ồ. Và từ phút đó, buổi ra mắt sách không còn giống một buổi ra mắt sách ‘bình thường’ nữa. Nhà báo Đinh Quang Anh Thái dí dỏm ví đây là một “lễ rước sách.”
Bài viết này là câu chuyện về một cuộc tranh đấu khác trong chiến tranh: giữ lại bằng chứng rằng một con người đã từng sống, từng yêu, từng nhớ, trước khi họ bị xóa khỏi thế gian.
Trong cuốn hồi ký kinh điển viết về nạn khủng bố của nhà nước Sô Viết thời thập niên 1930, cuốn Hope Against Hope, bà Nadezhda Mandelstam kể lại những năm cuối cùng của cuộc hôn nhân với thi sĩ Osip Mandelstam, khi hai vợ chồng phải trốn tránh hết thành phố này đến làng mạc khác, sống nhờ lòng hảo tâm của một số ít bạn bè và người lạ can đảm, bị trục xuất khỏi căn nhà ở Mạc Tư Khoa vì bị xem là kẻ thù của chế độ. Tội trạng chính của Osip chỉ là đã đọc lên, trong một bữa tiệc, một bài thơ mà ông chưa từng viết ra giấy, càng chưa từng cho xuất bản, nhằm chế giễu Stalin và vạch trần chế độ tàn bạo của y.
Concrete Poetry hay Visual poetry, thơ Cụ Thể hay thơ Thị Giác, tôi không thể xác định, có lẽ cả hai. Nhà thơ Nguyễn Hoàng Nam là người ngắn tiểu sử. Ông xuất hiện gần như từ đầu của dòng thơ hải ngoại và từ tốn làm thơ. Không tự thắp sáng mình, cũng không tự đốt mình như một số nhà thơ đã cháy. Thoạt nhìn, thơ của ông bình thường nhưng nhìn đi nhìn lại, có thứ gì ẩn núp bên dưới chữ nghĩa hình ảnh rất khác thường, mới một cách không khoe. Ví dụ như những ngày trống, tâm tư đầy quá khiến cảm giác rỗng, ông làm, có phải thơ hay không?
Câu danh ngôn bất hủ của Edward Bulwer-Lytton, và nhìn lại lịch sử của nhân loại toàn cầu, đã chứng minh một chân lý vô song. Những đế chế hùng mạnh nhất lịch sử thế giới như Đế quốc Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo, chinh phục từ Á sang Âu, hay Đế quốc La Mã do Hoàng đế Augustus Julius Caesar chỉ huy, hùng mạnh vô địch làm ảnh hưởng cả châu Âu suốt 2.000 năm, rồi cũng lụi tàn. Nhưng những tác phẩm văn học được viết bằng máu và tâm huyết thì trường tồn vĩnh cửu.
Xin thú nhận: sẽ không lãng mạn tí nào khi nói rằng hạnh phúc là lúc chạy theo banh. Biết làm sao được, chắc chắn rằng có nhiều tỷ người trên địa cầu này đồng ý như thế, kể cả những người đã từng trải qua một thời tuổi nhỏ đã tưng bừng chạy nhảy, với trang phục quần đùi và áo thung, đuổi theo banh trên sân cỏ hay nơi các góc vỉa hè. Tôi tin rằng hầu hết, nếu không phải tất cả, người Việt Nam trong và ngoài nước đều có một số kỷ niệm thời thơ ấu với môn bóng tròn, chữ xưa còn gọi là túc cầu, bây giờ thường gọi là bóng đá. Nghĩa là, nếu bạn không từng tham dự trận banh nào, không từng mang giày và chạy ra sân, hẳn là bạn cũng từng ngồi bên sân cỏ để nhìn bằng hữu và trẻ em trong làng, trong xóm rủ nhau chạy theo banh, hay đang đưa chân nhồi banh vượt qua hàng hậu vệ của đội phòng thủ. Và khi một cầu thủ nhi đồng nào đó đưa chân sút, hẳn là bạn cũng há hốc mồm nhìn theo quả banh rồi vung tay và hú lên, dù để mừng vui hay thất vọng.
Nhân chứng chuyện gì và để làm gì? Khác với những loại nhân chứng tội phạm, xã hội, chính tri, hoặc chiến tranh, nhà thơ là nhân chứng về cái đẹp của ý nghĩa qua cái đẹp của ngôn ngữ và tạo nên giá trị đẹp. Họ “vén bức màn che giấu vẻ đẹp tiềm ẩn của thế giới, và khiến những vật thể quen thuộc trở nên như thể chúng không hề quen thuộc.” (Percy Bysshe Shelley. Poetry lifts the veil from the hidden beauty of the world, and makes familiar objects be as if they were not familiar.)
Trong mọi từ của một ngôn ngữ, có lẽ không từ nào vừa nhỏ vừa nặng như chữ tôi. Nó chỉ có một âm, nhưng mỗi lần xuất hiện trong một trang văn hay một câu thơ, nó kéo theo cả một câu hỏi chưa bao giờ được trả lời dứt khoát: ai đang nói đây. Người đọc bình thường có một phản xạ tự nhiên, là tin rằng chữ tôi trên trang giấy chính là tác giả, người có tên in ngoài bìa sách. Nhưng văn học, ngay từ buổi có ý thức về chính mình, đã liên tục phá vỡ phản xạ ấy. Cái tôi trong văn học hiếm khi đơn giản là người viết. Nó là một vai, một mặt nạ, đôi khi là một đám đông giả trang thành một người. Bài viết này thử lần theo những hóa thân ấy, từ cái tôi là chính tác giả, tới cái tôi là kẻ khác, tới cái tôi tập thể mà Annie Ernaux đã đẩy tới tận cùng, rồi quay về với chữ ta đặc biệt của tiếng Việt, và cuối cùng đặt một câu hỏi cay: phải chăng thi ca hiện đại đã lạm dụng chữ tôi.
Vì không cứ nhìn là thấy. Thấy là việc của mắt. Nhìn là việc của tâm hồn. Người ta có thể thấy rất nhiều mà không thực sự nhìn ra điều gì. Có thể đi qua cả một khu vườn, biết tên từng loài cây mà chưa từng nghe tiếng mùa trong lá. Có thể học hết bản đồ sông núi mà không nhận ra điệu nhạc của dòng nước.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.