Hôm nay,  

Gia Trung Tứ Lão

09/09/202207:27:00(Xem: 4162)

2000-vvnm-ng-v-khanh-gray

LTS:  Nhân ngày Việt Báo tròn 30 tuổi, xin trích lại bài viết của cố nhà báo kỳ cựu Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh. Ông là vị chủ biên sáng lập Việt Báo, và là chánh chủ khảo đầu tiên của giải thưởng Viết Về Nước Mỹ.

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh sinh ngày 2 tháng 10 năm 1921. Làm báo từ năm 1948, Ông là nhà báo chuyên nghiệp đã sống liên tục với nghề báo suốt 74 năm. Ông từng du học và tham quan về truyền thông tại Nhật Bản và Hoa Kỳ, thời Việt Nam Cộng Hoà, ông là Tổng Thư Ký Việt Nam Thông Tấn Xã, đồng thời là giáo sư dạy về báo chí tại các Đại Học Vạn Hạnh và Đại Học Đà Lạt, người thầy của nghề báo Việt Nam.

Sau hơn 12 năm tù cộng sản, năm 1992, ông cùng vợ rời Việt Nam sang Mỹ đoàn tụ với các con tại San Jose, khi đó Ông đã qua tuổi bẩy mươi, có thể an nhàn nghỉ ngơi bên cạnh con cháu. Nhưng êm ấm mới được dăm ba tháng, chuông điện thoại lại reo.- “Lão Nhị, làm báo lại nhé.” – “Làm thì làm. Sợ gì.” – “Lão Nhị phải xách cái túi xuống ở luôn dưới này. Xuống được không” – “Cái gì? Cái này... Hà hà... để coi, Lão Tứ.” (Lão Nhị-Lão Tứ là cách thức xưng hô trong tù của Ông và nhà thơ Trần Dạ Từ, người cùng nhà văn Nhã Ca sáng lập tờ Việt Báo năm 1992).

 

Chỉ vài ba ngày sau, với một cái túi nhỏ trên tay, Ông cười cười xuất hiện tại Little Saigon. Và từ thứ Bảy ngày 5 tháng 9 năm 1992, Việt Báo Kinh Tế ấn hành số đầu tiên. Liên tục suốt 20 năm, Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh giữ mục bình luận “Việt Báo: Trước Thời Cuộc” cho tới những năm tháng cuối đời.

Ông viết bài này vào mùa xuân năm 2005, nhắc đến các văn nghệ sĩ cầm bút của miền Nam: “Cộng sản đã bắt nhốt các văn nghệ sĩ. Nhưng có gông cùm nào nhốt được cái chí chim bằng, có xiềng xích nào trói được trái tim sư tử. Thân bị nhốt trong nhà giam chật hẹp, nhưng tư tưởng của nhà văn có cả một không gian rộng lớn vô tận vô biên để tự do vẫy vùng.” 


Vị cố nhà báo có “chí chim bằng và trái tim sư tử” của chúng ta từ trần tại tư gia vào ngày Chủ Nhật, 12 tháng Tám năm 2012, hưởng thọ 92 tuổi. Với 92 năm sống và 74 năm cầm bút, Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh là tấm gương tiêu biểu phẩm giá của người làm báo, tỉnh thức và chân thực. Khi thanh thản ra đi, ông gửi lại cho tương lai niềm tin vào con người và lý tưởng tự do, dân chủ. 

 

***

Vào dịp Xuân mới, tôi muốn ôn lại một chuyện cũ. Đó là chuyện Tứ Lão ở trại tù Cải tạo Gia Trung, nơi giam giữ phần đông các văn nghệ sĩ năm xưa. Trong thời miền Nam Việt Nam còn được sống tự do dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa, các nhà văn nhà báo thường ít khi có dịp gặp nhau, nếu có là trong khoảng thời gian ngắn của các dịp lễ tết hay họp báo, hoặc ngắn hơn nữa là dịp tao ngộ qua tách cà-phê ở nhà hàng để rồi sau đó, vội vã người nào việc nấy đi làm phận sự riêng. Nhưng sau khi Saigon sụp đổ, nhờ ơn Bác và Đảng các văn nghệ sĩ bị lùa đi cải tạo theo kiểu “tam cùng” (cùng ăn cùng ở cùng làm), chúng tôi đã có dịp gặp nhau hàng ngày trong nhiều năm liên tiếp, tạo thành mối quan hệ khắng khít với nhau hơn trước rất nhiều.

 

Hoàn cảnh những người văn nghệ sĩ miền Nam Việt Nam trong trại tù cải tạo Gia Trung, gần Pleku, có lẽ khắt khe hơn những thành phần khác, nên đã có một bài thơ nhiều anh em đã biết, tôi xin nhắc lại như sau:

 

“Cây sậy chân tay quều quào của chúng ta,

“Có thể hết bưng nổi cái sọ dừa cứng đầu,

“Nguyễn. Và Nguyễn. Và Nguyễn nữa. Sắp chết.

“Sắp đến lượt Lưu. Đến lượt Doãn. Đến lượt Lê.”

(Nguyễn và Nguyễn là nhà báo Nguyễn Viết Khánh và nhà văn Nguyễn Sĩ Tế. Lưu là nhà văn Mặc Thu Lưu Đức Sinh. Doãn là nhà văn Doãn Quốc Sĩ. Lê là người làm thơ, tức Lê Hà Vĩnh bút hiệu Trần Dạ Từ).

 

Chính trong bối cảnh gần đất xa trời đó, nhóm Gia Trung Tứ Lão ra đời. Chúng tôi đã nhiều lần nhắc đến bộ Tứ này. Nay vì trong bốn đã có hai ra đi, tức đã mất đi một nửa nên chúng tôi muốn nói rõ hơn chuyện này một chút để tránh mọi sự hiểu lầm. Việc thành lập nhóm Tứ lão không phải là chuyện cố ý để tách rời khỏi các anh chị em văn nghệ sĩ khác mà chỉ do một sự tình cờ, đúng hơn là một cái “duyên”. Chúng tôi cũng không uống máu ăn thề hay họp nhau theo kiểu Đào viên kết nghĩa vì làm như vậy là tự cho chân vào cùm trong biệt giam.

 

sd nvk
Từ trái: Mặc Thu Lưu Đức Sinh - Nguyễn Sỹ Tế - Trần Dạ Từ Ký họa CHÓE



Tứ Lão có Lưu Đức Sinh, Nguyễn Sĩ Tế, Trần Dạ Từ và tôi. Tôi được biết nhiều hơn như một ký giả, nhưng báo chỉ là cái vỏ, còn cái ruột vẫn là văn. Chúng tôi là giống đa tình, nhạy cảm. Và cái “duyên” gắn bó là cả bốn đều thích thơ Đường và chuyện chưởng, nên hay gặp nhau trong giờ nghỉ để đấu láo cho đỡ buồn. Đấu láo để có vẻ tếu, nhằm tránh cái nhìn soi bói của đám cán bộ công an coi tù cũng như đánh lạc hướng những tay sai “ăng-ten” nghe lén của chúng. Thật ra giữa những chuyện tếu, khi có thời cơ vắng người chúng tôi lại rỉ tai nhau về những chuyện cần cảnh giác trong trại, nhất là những tin tức bên ngoài do người nhà đi thăm nuôi lén cho biết.

 

Về Đường thi, chúng tôi đã có 3 người là nhà thơ, còn về chuyện chưởng tôi lãnh phần chính. Ở ngoài đời từ năm 1960, tôi đã từng dịch nhiều đoạn chuyện chưởng từ chữ Hán theo sách báo của Hong Kong, không phải vì tôi muốn kiếm thêm tiền mà vì thích chuyện chưởng. Bởi vậy tôi nhớ được các chuyện chưởng nên có thể “quay phim” những đoạn mà tôi cho là hay, tôi cũng bình luận theo kiểu Mao Tôn Cương đôi khi đượm vẻ tiếu lâm nên khi chúng tôi nói chuyện, nhiều anh em tù nhân khác cũng xúm lại nghe để rồi cùng phá lên cười ha hả, xôm trò vô cùng. Về việc dịch tiểu thuyết võ hiệp từ chữ Hán ra tiếng Việt, người tâm đắc với tôi nhất là anh Mặc Thu. Chúng tôi đều đồng ý về một điểm: Giỏi chữ Hán không có nghĩa là đã biết dịch chuyện chưởng cho hay. Dịch chuyện chưởng là phải thấu được ngôn ngữ và tác phong đặc biệt của tiếng Việt trong chuyện chưởng. Nếu không, chuyện chưởng Việt ngữ sẽ trở thành ngô nghê, lạc lõng và khó hiểu. Về điểm này tôi xin nói thêm tôi rất kính phục các vị dịch chuyện chưởng đi trước tôi vào thời đó như Hàn Giang Nhạn và Tiền Phong, tôi chẳng khi nào mạo muội muốn tranh tài với mấy vị đàn anh trong môn “võ công” này.

 

Vậy danh xưng “Tứ lão” ở đâu mà ra? Sự thật chúng tôi không bao giờ tự coi như một nhóm riêng nên không có chuyện đặt tên cho nhóm. Nhưng sau nhiều tháng họp thành thói quen như vậy, một hôm tình cờ tôi quay lại cuốn Thiên Long Bát Bộ, có đoạn nói đến Tứ đại ác nhân. 1)Đệ nhất Ác Đoàn Diên Khánh, Ác quán mãn doanh, 2)Đệ nhị Ác Diệp Nhị Nương, Vô Ác bất tác, 3)Đệ tam Ác Nam Hải Ngạc Thần, Hung thần Ác sát, 4)Đệ tứ Ác Vân Trung Hạc, Cùng hung cực Ác. Nên ghi nhớ hỗn danh của kẻ ác nhất có chữ Ác đứng đầu. kẻ ác nhì có chữ Ác đứng thứ hai, kẻ ác ba có chữ Ác thứ đứng thứ ba và kẻ ác bốn có chữ Ác đứng thứ tư. Cách dùng chữ của Kim Dung quả thật đã vào hàng cao thủ đệ nhất thiên hạ. Sau khi kể xong chuyện này bỗng có một bạn thính giả đứng ngoài xem nói: “Mấy ông có 4 người, vậy không giống tứ ác rồi sao”. Mọi người cùng rú lên cười và chúng tôi cũng cuời híp mắt, thích thú. Chuyện cuời nghe qua rồi bỏ mà. Hôm sau chúng tôi lại ngồi với nhau, nhưng trước khi định làm gì, không hiểu sao cả bốn bỗng im lặng rồi bốn cái mồm cùng nhếch ra cười và nói “Tứ Ác họp”. Chúng tôi đã bắt đầu yêu trò giễu này.

 

Vài ngày sau, Trần Dạ Từ nói: “Trong chuyện họ gọi Đệ nhất Ác là Lão Đại, vậy trong chúng ta ai là Lão Đại đây?” Chúng tôi đồng ý anh nào lớn tuổi nhất là Lão Đại. Mặc Thu và tôi xấp xỉ tuổi nhau, nhưng vì Mặc Thu có vẻ tiên phong đạo cốt, trông già hơn cả bọn nên tôi đề nghị Mặc Thu là Lão Đại. Mọi người hoan ngênh. Tôi là Lão Nhị, Nguyễn Sĩ Tế là Lão Tam và Trần Dạ Từ là Lão Tứ. Từ đó và cả sau khi ra khỏi tù Cải tạo, bốn danh xưng “ác” bám lấy chúng tôi khi nói chuyện với nhau. Bốn anh ác đó chỉ là “giả tưởng”, hoặc như về sau có anh nào bị ai - hay bà nào - gọi là ác thật, thì cố nhiên đó là chuyện cấm ngoại cuộc không ai được biết. Thật ra anh em chúng tôi đều hiền khô chớ không ác, nhưng mỗi người một vẻ khác nhau.

 

Trong bốn người, Nguyễn Sĩ Tế có vẻ đạo mạo nhất, ăn nói nhỏ nhẻ chậm rãi, ít khi nóng nảy lớn tiếng, anh giỏi chữ Hán hơn tôi nên tôi học được ở anh rất nhiều. Tác phong của anh đúng là một nhà mô phạm làm tôi liên tưởng đến một nhân vật trứ danh trong cuốn Tiếu Ngạo Giang Hồ. Đó là vị Thái sư thúc tổ Phong Thanh Dương, ẩn dật trong một hang núi của đỉnh Hoa Sơn. Mặc Thu có vẻ tiên phong đạo cốt nên tôi thấy anh giống Trương Tam Phong, Chưởng môn nhân phái Võ Đang trong cuốn Ỷ Thiên Đồ Long Ký. Trần Dạ Từ giống anh chàng Quách Tĩnh trong cuốn Anh Hùng Xạ Điêu, võ công đầy mình nhưng lại rút về trấn ải thủ đồn, một tay điều binh khiển tướng để giữ sao cho thành (hay Tòa soạn) khỏi sập tiệm. Còn Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh thì sao? Tôi chỉ là một lãng tử đơn thân khăn gói quả mướp, xách kiếm đi hoang để.... “Tiếu Ngạo Giang Hồ”.

 

Cộng sản đã bắt nhốt các văn nghệ sĩ. Nhưng có gông cùm nào nhốt được cái chí chim bằng, có xiềng xích nào trói được trái tim sư tử. Thân bị nhốt trong nhà giam chật hẹp, nhưng tư tưởng của nhà văn có cả một không gian rộng lớn vô tận vô biên để tự do vẫy vùng. Trong những tháng tôi bị biệt giam, chân bị cùm đau nhức đêm ngày, cơ thể bị teo lại vì bị bỏ đói, cán bộ Cộng sản bảo tôi bị “bao vây kinh tế”, tức là một cách tra tấn không có dụng cụ cực hình để ép tôi phải khai ra những gì họ nghi là tôi biết mà không chịu nói. Lạ lùng thay lúc tôi tin tôi sắp chết lại lúc đầu óc tôi sáng tác được chuyện khoa học giả tưởng, chuyện hư cấu diễm tình mà sau khi ra khỏi biệt giam tôi có dịp kể lại cho các anh em trong tù nghe. Nhiều người tưởng đó là những tiểu thuyết tôi đã đọc từ trước khi đi cải tạo.

 

Tôi không phải là một người anh hùng. Nhà văn nhà báo không phải là những người anh hùng. Chúng tôi cũng biết sợ như bất cứ ai. Trong tù Cải tạo Cộng sản, bất cứ ai dù trước là ông quan, ông tướng, ông tá, khi đi lao động gặp lúc có những nhu cầu của cơ thể con người, tất cả đều biết chụm chân đứng nghiêm như lính, hướng về anh cán bộ mặt còn non choẹt để hô lớn: “Báo cáo cán bộ, xin phép cán bộ cho tôi đi tiểu”. Nếu không làm như vậy mà tự ý đi ra bờ ruộng bờ rừng, cán bộ quản chế sẽ nổ súng bắn bỏ không chút nương tay. Năm xưa nếu Hàn Tín không chịu nhục luồn chôn thì về sau làm sao có cơ hội làm Tướng và trả ơn bát cơm Phiếu mẫu? Ở tù Cộng sản cũng có những người tù anh hùng. Những người đó không trở về. Họ còn ở đó, trong lòng đất lạnh. Giờ đây những nấm mồ hoang đó có thể đã bị san bằng không còn chút di tích. Chúng tôi đã trở về.

 

Tứ lão đều đã đến được nước Mỹ. Lão Đại đến muộn nhất nhưng anh lại là người rời nước Mỹ sớm nhất và cũng ra đi vĩnh viễn sớm nhất. Năm 2002 Mặc Thu từ trần ở Việt Nam trong khi về thăm quê nhà. Tôi có duyên may được góp phần xây dựng tờ Việt Báo nên từ hơn 12 năm qua tôi và Trần Dạ Từ làm việc sát cánh bên nhau, ngay cả trong những năm gần đây tôi không còn ở Nam California. Riêng với anh Nguyễn Sỹ Tế, tôi ít khi được gặp anh. Nhưng tôi còn nhớ hình ảnh lần chót tôi tình cờ được thấy anh. Lúc đó khoảng năm 1997, tôi đang đi bộ trên vỉa hè đường Bolsa, chợt nhìn thấy Nguyễn Sĩ Tế đang chống gậy đi chầm chậm trên vỉa hè đường phía bên kia. Trông anh đã có vẻ yếu rồi, mắt đeo kính đen có vẻ thị lực cũng rất yếu. Tôi muốn chạy băng qua đường để nắm tay anh, nhưng qua làm sao được vào giờ đường Bolsa đông xe nhất. Giòng đời của nước Mỹ ồn ào và sống động đã ngăn cách anh và tôi. Bây giờ nghĩ lại, phải chăng điềm báo trước tôi nhìn thấy anh lần chót? Nguyễn Sĩ Tế không còn nữa.

 

Năm 2002, khi được tin Mặc Thu qua đời tôi viết bài “Thắp Nén Hương Lòng” để tiễn anh về chốn cửu tuyền.

Bài viết này cũng là một giọt lệ trong không gian trừu tượng để đưa anh Nguyễn Sĩ Tế về Thế giới bên kia, đến Văn miếu trên cao thẳm, nơi có những mộ bia ghi công đức của những bực thầy vĩ đại ở cõi Thế này.

 

Tháng 12 năm 2005.

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh.

Trong dòng chảy của Văn học hải ngoại, Trịnh Y Thư là một thành phần cá biệt. Văn chương nghệ thuật với ông trước hết phải đồng nghĩa với cái Đẹp và ông đã áp dụng trong văn thơ cũng như dịch phẩm của ông...
Nhà thơ tên thật Lê Hà Vĩnh, sinh năm 1940 tại Hải Dương. Ông theo gia đình di cư vào Nam năm 1954. Đầu thập niên 1960 ông cộng tác với Nguyên Sa làm tờ Gió Mới. Sau ngày 30-4-1975, ông cùng vợ - Nhã Ca, bị chính quyền Cộng sản Việt-Nam bắt giữ, riêng ông bị giam cầm 12 năm, 1976 -1988.
Nhã Ca, tên thật Trần Thị Thu Vân, sinh ngày 20-10-1939 tại Huế. Nhà văn nhà báo thời Việt Nam Cộng Hoà, sau nhiều năm tháng bị bắt và tù đày sau biến cố 30-4-1975, đã được Văn Bút Thụy Điển bảo lãnh sang nước này tháng 9-1988. Một thời cùng gia-đình sang định cư ở vùng Quận Cam CA, cùng chồng Trần Dạ Từ chủ trương tuần báo Việt Báo Kinh Tế (sau thành nhật-báo Việt Báo và từ tháng 12-2019 trở lại thành tuần báo) rồi thêm Việt Báo USA (San Jose, cùng Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh)
Nhã Ca sáng tác bài “Một Đoạn Nhã Ca” vào năm 1972. Trước biến cố lịch sử 1975, bà là một trong vài nhà thơ nữ hàng đầu ở Miền Nam Việt Nam, với dòng thơ mang những tứ thơ sâu sắc, ngôn ngữ thơ lãng mạn, ý niệm thể hiện và bênh vực giá trị của người nữ. Thơ Nhã Ca có thể gom vào hai chữ “dám nói.” Bài “Một Đoạn Nhã Ca” mở đầu bằng 9 câu, kết bằng 3 câu, và 111 câu thân, tổng thể là 123 câu, chia ra 15 đoạn. Nhìn một cách tâm lý, phải chăng 15 đoạn thơ này đại biểu một số điều cho một đoạn tiểu sử ngầm của Nhã Ca? Nói một cách văn vẻ, phải chăng có 15 cửa sổ để mở nhìn vào căn nhà bí ẩn của một nhà thơ nữ? Đây là bài thơ truyền đạt qua thể thơ tự do. Số chữ không đều trong mỗi câu. Số câu không đều trong mỗi đoạn. Số đoạn không có giới hạn trong bài. Sự so le và thoát khỏi ràng buộc này nói lên tình tiết diễn đạt qua thơ không bị tù túng, ý thơ không bị chật hẹp trong luật lệ. Phù hợp với cảm xúc thôi thúc, ngổn ngang của tác giả và tạo ra cảm giác kích động của độc giả
Khăn quấn. Áo sơ sinh. Muối. Tuyết. Băng. Năm vật trắng - năm tiếng gọi đầu tiên - đặt lên trang giấy như một chuỗi hạt. Trong tay Han Kang, chúng vừa là dấu hiệu khởi sinh, vừa là định mệnh. Đứa trẻ chưa kịp sống đã được bọc trong khăn trắng, và cũng chính khăn quấn ấy trở thành tấm liệm. Trắng ở đây không phải nền sáng, mà là sự trống vắng ngân nhịp toàn cuốn sách. Han Kang, nhà văn Hàn Quốc được biết nhiều qua The Vegetarian, tác phẩm đã đem về cho bà giải Nobel Văn chương năm 2024, xuất hiện trong văn học thế giới như một cơn gió lớn. Nhưng The White Book mới là tác phẩm tôi rất yêu của Bà – những dòng chữ lặng mà sáng, mong manh mà bám riết.
Nếu phải tóm tắt các tác phẩm lớn của nhà văn Doãn Quốc Sỹ (1923-2025), có thể nói rằng ông đã phản ánh nỗi lòng của người trí thức Việt Nam cùng thế hệ, là những người bước vào tuổi 20 trong thời kháng chiến, chứng kiến sự đảo lộn của xã hội. Họ đã có thể có những phản ứng, hành động trước thời cuộc đó, nhưng phần nào bất lực không ngăn chặn được những xáo trộn xảy ra chung quanh. Truyện dài Dòng Sông Định Mệnh (1959) là một tác phẩm như thế. Ở mặt nổi, đó là một chuyện tình lãng mạn, hai người trẻ, một dòng sông. Nhưng sâu hơn, đó là bi kịch của những con người bị cắt đôi giữa lý tưởng và sự thật phũ phàng. Ở phương diện đó, Dòng Sông Định Mệnh có những chi tiết, những nhân vật hình mẫu sẽ trở lại trong bộ tiểu thuyết Khu Rừng Lau, nhất là tập Ba Sinh Hương Lửa (1962), mà ông sẽ viết sau này.
Krasznahorkai, trong các tiểu thuyết như Melancholy of Resistance hay Baron Wenckheim’s Homecoming, viết như người vừa chứng kiến ngày tận thế và vẫn phải tiếp tục kể, dù biết không còn có người nghe. Văn chương ấy, như James Wood nói, “vừa tuyệt vọng vừa kiêu hãnh, như một bản cầu siêu cho nhân loại.”
Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ vừa từ trần vào lúc 10 giờ sáng ngày 14/10/2025 tại bệnh viện ở Nam California hưởng thọ 102 tuổi . Ông sanh năm Quí Hợi 1923 nên tính theo tuổi ta, ông thượng thọ 103 tuổi. Nhân đây, tưởng nhớ ông nên đắng lại bài viết Tác Phẩm Khu Rừng Lau Của Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ vào ngày 5/11/2025
László Krasznahorkai – nhà văn Hungary vừa được trao giải Nobel văn chương – nổi tiếng với những câu văn dài như một hơi thở kìm nén, nơi ý tưởng đi qua địa ngục mà vẫn giữ vẻ điềm tĩnh của thiên thần. Một thiên thần lướt trên chúng ta là truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách ấy: giữa bùn lầy chiến hào và tiếng pháo rít xé trên đầu, một người lính cụt chân, mắt mờ, lại giảng về văn minh số, về văn hóa như bản năng sinh tồn của loài người. Chiến tranh vẫn gầm thét, nhưng lời anh vẫn tuôn, dài, sáng, và lạ thay – đầy hy vọng. Bản Việt ngữ của Ngu Yên dịch từ bản Anh ngữ của John Batki, giữ nguyên nhịp câu, những đoạn văn dài như dòng suy tưởng không dứt.
Khoảng hai giờ trước khi Mats Malm, vị thư ký trầm tĩnh của Viện Hàn Lâm Thụy Điển, bước ra, thế giới vừa nghe tin: Israel và Hamas ký hiệp định hòa bình. Một mẩu tin nhỏ, nhưng làm cả hành tinh thở nhẹ. Có lẽ, nếu tinh ý, người ta đã thấy khóe miệng vị diễn giả ấy nhích lên một nụ cười như thể dành riêng cho nhân loại, sau khi đã hứng chịu quá nhiều tuyệt vọng. Và rồi, cái tên được xướng lên: László Krasznahorkai, nhà văn Hungary – kẻ viết những câu văn dài như cơn hấp hối, nhưng mỗi chữ lại sáng rực như ngọn đèn dầu giữa đêm mất điện. Một bất ngờ… mà thật ra chẳng mấy ai bất ngờ. Viện Hàn lâm Thụy Điển, như thường lệ, lại khiến người ta ngạc nhiên bằng cách không hề ngạc nhiên.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.